Sáng 28.4, thông tin từ Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị cho biết vừa phẫu thuật nối lại bàn chân trái bị đứt lìa cho một bệnh nhân gặp tai nạn lao động.
Trước đó, vào khoảng 8 giờ sáng 21.4, anh H.V.C (41 tuổi, ở xã A Dơi) đang cắt cỏ thì lưỡi máy cắt bị gãy văng, chém đứt lìa cổ chân trái.
Vết thương nghiêm trọng khiến anh C. mất nhiều máu, bất tỉnh, được người nhà nhanh chóng đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Hướng Hóa.
Trong tình trạng mất máu nhanh, để tránh nguy cơ hoại tử, các bác sĩ vừa hồi sức vừa lập tức kích hoạt quy trình cấp cứu khẩn cấp liên viện với Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị để tiếp nhận hướng dẫn chuyên môn trực tiếp. Phần chi bị đứt lìa được xử lý đúng quy trình để giữ cơ hội nối lại chi.
Ngay sau đó, anh C. được chuyển đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, tại đây báo động đỏ được kích hoạt. Đội ngũ y bác sĩ phẫu thuật, phòng mổ, trang thiết bị được chuẩn bị sẵn sàng, chỉ sau 10 phút nhập viện, bệnh nhân được đưa vào phòng mổ.
Ca phẫu thuật kéo dài trong suốt 4 – 5 giờ đồng hồ. Các bác sĩ đã tiến hành xử lý đầu chi đứt lìa, làm sạch và xử lý các mô dập nát; cố định xương tạm thời bằng đinh Kirschner; khâu nối các bó mạch chính bao gồm bó mạch chày trước, chày sau để tái lập tuần hoàn; khâu nối hệ thống gân cơ và thần kinh nhằm duy trì chức năng bàn chân sau này.
Sau khi tái lập dòng máu, bàn chân đã hồng ấm trở lại, dấu hiệu quan trọng cho thấy tuần hoàn đã được phục hồi, ca phẫu thuật đã thành công bước đầu. Một tuần sau phẫu thuật, bàn chân của bệnh nhân phản hồi mao mạch tốt, các ngón chân có thể vận động nhẹ nhàng.
Theo nhận định của các bác sĩ, phẫu thuật nối lại bàn chân đứt lìa là một kỹ thuật vi phẫu đặc biệt phức tạp, được tiến hành theo nhiều bước chặt chẽ và liên hoàn. Thách thức lớn nhất là phải đồng thời tái tạo nhiều thành phần quan trọng như xương, các động mạch chính gân cơ và hệ thống thần kinh, đòi hỏi độ chính xác vi phẫu rất cao.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online về vấn đề này, bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng (Hội Y học dưới nước và oxy cao áp Việt Nam) cho biết không ít người tin rằng các sản phẩm "viên bổ", "chiết xuất thảo dược" hay "detox" là an toàn, có thể dùng dài ngày mà không cần theo dõi y khoa.
Thế nhưng gan là "bộ lọc trung tâm" của cơ thể, nhưng đang phải gánh áp lực lớn từ làn sóng sử dụng vitamin và thực phẩm chức năng tràn lan. Thực tế đã ghi nhận nhiều trường hợp viêm gan cấp, suy gan, thậm chí phải ghép gan, có liên quan đến chính những sản phẩm được quảng cáo là "tăng đề kháng", "giải độc gan".
Khi cùng lúc sử dụng nhiều loại, liều cao hoặc kéo dài, gan dễ rơi vào tình trạng quá tải, dẫn đến tổn thương tế bào gan, tăng men gan, lâu dài có thể gây viêm gan, xơ gan, thậm chí suy gan. Trong y học, tình trạng này được gọi là tổn thương gan do thuốc và thực phẩm bổ sung (DILI/HILI).
Có hai cơ chế chính là độc tính trực tiếp, phụ thuộc liều, dùng càng nhiều nguy cơ càng cao, như vitamin A liều cao. Và độc tính đặc ứng xảy ra bất ngờ ở những người có cơ địa nhạy cảm, liên quan đến yếu tố gene và miễn dịch, rất khó dự đoán.
Bác sĩ Hoàng cho hay nhiều người có thói quen "nạp" đủ loại viên uống mỗi ngày: sáng uống đa vitamin, trưa thêm viên "giải độc gan", chiều uống collagen, tối uống viên hỗ trợ giấc ngủ, thậm chí dùng thêm sản phẩm giảm cân hoặc tăng cơ. Mỗi loại chứa hàng chục hoạt chất, phần lớn đều phải chuyển hóa qua gan.
Khi đó, hệ enzyme của gan, đặc biệt là Cytochrome P450 (CYP450) - phải hoạt động quá tải. Đây là hệ enzyme chịu trách nhiệm "xử lý" các chất lạ. Khi nhiều sản phẩm được dùng cùng lúc có thể xảy ra tình trạng chất này ức chế, chất kia cảm ứng enzyme, hoặc cạnh tranh gắn với protein vận chuyển trong máu.
Hệ quả là các chất dễ tích tụ vượt ngưỡng an toàn hoặc tạo ra nhiều chất chuyển hóa trung gian gây hại cho tế bào gan.
Đặc biệt, nhiều sản phẩm trên thị trường quảng cáo "công thức độc quyền", "chiết xuất bí truyền" nhưng không công bố rõ hàm lượng từng thành phần. Điều này khiến việc đánh giá nguy cơ trở nên khó khăn, trong khi gan vẫn phải xử lý một "hỗn hợp hóa học" không rõ nồng độ.
Không phải tất cả vitamin hay thực phẩm chức năng đều nguy hiểm như nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu quốc tế đã ghi nhận một số nhóm liên quan nhiều đến tổn thương gan nặng, thậm chí tử vong.
Đặc biệt, nhóm vitamin tan trong chất béo (A, D, E, K). Khác với vitamin tan trong nước có thể thải qua nước tiểu, nhóm này tích lũy trong gan và mô mỡ. Dùng liều cao kéo dài có thể gây hậu quả nghiêm trọng: vitamin A liên quan đến xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa; vitamin D gây tăng canxi máu; vitamin E liều cao làm tăng nguy cơ chảy máu, đặc biệt khi dùng cùng thuốc chống đông.
Điều nguy hiểm là phần lớn tổn thương gan do các sản phẩm này diễn tiến âm thầm. Người dùng vẫn cảm thấy bình thường, chỉ đến khi kiểm tra sức khỏe mới phát hiện men gan tăng. Đây là dấu hiệu tế bào gan đã bị tổn thương.
Các dấu hiệu cảnh báo cần đi khám sớm gồm rối loạn tiêu hóa kéo dài, đau vùng hạ sườn phải, vàng da - vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, phân bạc màu, ngứa da dai dẳng, sốt nhẹ, phát ban hoặc nổi mề đay.
Theo bác sĩ Hoàng, phần lớn nhu cầu vitamin và khoáng chất có thể được đáp ứng qua chế độ ăn cân đối với rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và nguồn đạm đa dạng.
Một số nhóm nên bổ sung theo chỉ định gồm: phụ nữ chuẩn bị mang thai hoặc đang mang thai, người cao tuổi, người có bệnh lý tiêu hóa hoặc kém hấp thu, người sau phẫu thuật đường ruột, trẻ suy dinh dưỡng.
Với người trưởng thành khỏe mạnh, việc tự ý dùng vitamin liều cao, kéo dài là không cần thiết, thậm chí có thể gây "nhiễm độc thầm lặng" cho gan và thận.
Khi phát hiện men gan tăng liên quan đến việc sử dụng các sản phẩm bổ sung, bước quan trọng nhất là ngừng ngay tất cả các loại đang dùng, kể cả các sản phẩm "bổ gan" hay "giải độc". Trong nhiều trường hợp, gan có thể tự phục hồi sau vài tuần đến vài tháng nếu được can thiệp kịp thời.
Hiện chưa có thuốc đặc hiệu cho đa số trường hợp tổn thương gan do thực phẩm chức năng. Điều trị chủ yếu là hỗ trợ, theo dõi và điều chỉnh lối sống: hạn chế rượu bia, không hút thuốc, ăn uống lành mạnh và duy trì vận động.
Để bảo vệ gan, nên ưu tiên dinh dưỡng tự nhiên thay vì phụ thuộc vào viên uống. Chỉ sử dụng vitamin và thực phẩm chức năng khi có chỉ định rõ ràng, đúng liều, đúng thời gian và có sự theo dõi của bác sĩ. Tránh dùng nhiều sản phẩm chồng chéo và không nên tin tuyệt đối vào những lời quảng cáo như "detox gan", "giảm cân cấp tốc" hay "tăng cơ thần tốc".
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Sức Khỏe
Bác sĩ day dứt vì trẻ đuối nước bị sơ cứu sai: Hãy ép tim, đừng dốc ngược

Bác sĩ day dứt, đau lòng vì nhiều trẻ đuối nước bị sơ cứu sai
Thông tin từ Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, 3 trẻ đuối nước tuổi từ 6-14 được đưa đến Khoa Cấp cứu chống độc trong 2 ngày cuối tuần.
Trong đó, một em đã mãi mãi không trở về, hai em khác đang phải giành giật từng cơ hội sống với nguy cơ di chứng nặng nề suốt đời.
TS.BS Lê Ngọc Duy, Trưởng Khoa Cấp cứu chống độc chia sẻ: "Điều khiến chúng tôi day dứt nhất là nhiều trẻ đuối nước vẫn bị sơ cứu sai: dốc ngược, vác chạy, chờ nước chảy ra rồi mới ép tim".
Theo TS Duy, năm nào khoa cũng tiếp nhận nhiều trẻ đuối nước, trong đó, những trẻ được tiếp cận sơ cứu đúng ngay từ đầu, được ép tim khi ngừng tuần hoàn, tiên lượng thường tốt hơn, có nhiều cơ hội trở về cuộc sống bình thường.
Trong khi đó, những trẻ bị sơ cứu sai cách, như dốc ngược người rồi chạy, nhiều ca diễn biến nặng, ảnh hưởng não, thậm chí không qua khỏi.
Trong khi đó, PGS.TS Hoàng Bùi Hải, Trưởng khoa Cấp cứu - Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng phải thốt lên: "Nhìn cách sơ cứu trẻ đuối nước (dốc ngược em bé) qua một clip tại 1 bể bơi ở khu vực gần bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Cơ sở Hoàng Mai mà tôi thấy đau lòng".
Thông tin ban đầu, tại bể bơi xảy ra tình huống một em bé bị đuối nước. Khi được vớt lên, em bé được sơ cứu bằng cách dốc ngược đầu.
Sau khi được đưa vào viện cấp cứu, các bác sĩ đã tái lập được tuần hoàn của bệnh nhi, đặt ống, thở máy và chuyển sang Bệnh viện Nhi Trung ương, tiên lượng rất nặng.
Xin hãy đọc để biết cách sơ cứu đúng cách!
Theo TS Duy, dốc ngược trẻ và chạy là sai lầm thường gặp trong sơ cứu đuối nước có thể khiến trẻ nguy kịch, tổn thương thần kinh nặng thậm chí tử vong.
"Dốc ngược trẻ lên vai rồi chạy sẽ làm cho các dịch ở dạ dày trào ngược hít vào đường thở và làm chậm trễ hồi sức tim phổi (ép tim/thổi ngạt), làm mất thời gian vàng để cấp cứu trẻ, thậm chí gây thêm các tổn thương cho trẻ", bác sĩ khuyến cáo.
Thời gian chịu đựng thiếu oxy của não tối đa 4-5 phút. Vì thế, khi trẻ bị đuối nước ngừng tim, cần hồi sức tim phổi ngay để trẻ có cơ hội được cứu sống.
"Nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ đuối nước là tổn thương não do thiếu oxy. Nếu không ép tim, thổi ngạt kịp thời sẽ dẫn tới tổn thương não không hồi phục, gây tử vong hoặc di chứng thần kinh.
Vì thế, khi thấy một trẻ bị đuối nước không tỉnh, không thở, ngừng tim thì cần phải hồi sức tim phổi (ép tim - thổi ngạt) ngay và làm liên tục đến khi trẻ thở trở lại. Trong quá trình hồi sức tim phổi, tuyệt đối không ngừng hồi sức tim phổi nếu trẻ chưa có nhịp thở và khi có nhân viên y tế đến.
Sau khi trẻ có nhịp thở, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để tiếp tục kiểm tra và theo dõi các biến chứng sau đuối nước.
Cùng quan điểm này, PGS Hải lưu ý: "Xin hãy nhớ: khi phát hiện trẻ đuối nước, hãy gọi cấp cứu, kiểm tra phản ứng và bắt đầu CPR (hồi sức tim phổi) ngay nếu trẻ ngừng thở hoặc thở bất thường. Đừng dốc ngược trẻ. Đừng chờ nước chảy ra. Đừng để những phút vàng bị đánh mất".
Theo PGS Hải, nguy cơ đuối nước luôn hiện hữu, có thể xảy ra với bất cứ ai. Khi gặp một người bị đuối nước, cần thực hiện sơ cứu theo các bước sau:
- Gọi người xung quanh đến hỗ trợ, nhanh chóng đưa nạn nhân lên bờ.
- Ưu tiên xác định được tình trạng ngừng tuần hoàn để tiến hành hồi sinh tim phổi càng sớm càng tốt.
- Thổi ngạt bằng cách hít một hơi thật sâu rồi ngậm miệng nạn nhân thổi một hơi thật mạnh, lặp lại lần thứ 2, việc này cần phải tiến hành ngay khi có thể, khi nạn nhân đã được kéo đến chỗ nông hơn, ít nguy hiểm hơn, khi chân người cứu chạm đất.
- Nếu nạn nhân không tỉnh trở lại sau 2 lần thổi ngạt đủ mạnh làm ngực phồng lên thì cần tiến hành ngay hồi sinh tim phổi kết hợp ép tim và thổi ngạt.
"Đặt nạn nhân nằm ngửa trên bờ, đặt cườm tay lên giữa ngực ép mạnh xuống, tốc độ nhanh 100 đến 120 lần/phút; cứ sau 30 lần ép tim ngoài lồng ngực, thổi ngạt 2 lần. Phải làm liên tục cho đến khi có đơn vị cấp cứu ngoại viện, nhân viên y tế đến hỗ trợ. Hạn chế tối đa gián đoạn ép tim ngoài lồng ngực", PGS Hải lưu ý.
Ông cũng nhấn mạnh, hồi sức tim phổi là phương pháp đúng nhất khi sơ cứu bệnh nhân đuối nước. Các phương pháp như Heimlich, dốc ngược nạn nhân để nước tống ra từ phổi không mang lại giá trị gì nên tuyệt đối không làm mất thời gian, hãy tập trung để ép tim cho nạn nhân.
Việc tập trung cấp cứu nạn nhân liên tục, kiên trì hàng giờ có thể mang lại cơ hội sống cho người bệnh. Chỉ chuyển nạn nhân đến bệnh viện khi đã thở trở lại, khi tuần hoàn được tái lập. Vận chuyển bằng xe chuyên dụng, kể cả người đã tự thở vẫn có nguy cơ suy hô hấp sau đó do nước đã vào phổi, nên vẫn phải vận chuyển vào bệnh viện.
Các chuyên gia cũng khuyến cáo, cần đẩy mạnh phòng ngừa đuối nước bằng cách cấm trẻ em dưới 4 tuổi bơi trong bể bơi (có thể giảm được 80% vụ đuối nước ở trẻ); có người giám sát bể bơi; có người bơi cùng; dùng phao cá nhân.
Các bể cạn, toilet, thùng chứa nước ăn, nước rửa cần có che chắn, có nắp, khoá; cấm trẻ con chơi gần; phải có cảnh báo với người đi qua.
PGS Hải cũng đề xuất phải tập huấn an toàn cho nhân viên các bể bơi, khu bãi tắm.
Các bước sơ cứu đuối nước đúng cách:
Dưới đây là video "Cấp cứu trẻ bị đuối nước" đúng cách, mọi người có thể áp dụng khi gặp tình huống trẻ đuối nước:
Tin Gốc: Dân Trí

Cơ thể người vận hành theo đồng hồ sinh học 24 giờ, giúp điều chỉnh hoóc môn, cảm giác đói và quá trình trao đổi chất. Buổi sáng thường là thời điểm cơ thể xử lý đường hiệu quả hơn vì độ nhạy insulin cao hơn so với buổi tối, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Khi ăn sáng muộn, thậm chí đến gần trưa mới ăn, cơ thể có thể bị lệch giữa thời gian thức dậy và thời gian nạp năng lượng. Một nghiên cứu công bố trên chuyên san Nutrients cho thấy ăn muộn hơn trong ngày có liên quan đến nguy cơ rối loạn chuyển hóa cao hơn, trong khi ăn sớm lại phù hợp hơn với nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể.
Ở một số người, tình trạng này kéo dài sẽ làm khó kiểm soát cân nặng hơn. Một nghiên cứu đăng trên chuyên san Appetite đã chia các tình nguyện viên ra 2 nhóm. Nhóm đầu ăn sáng trước 10 giờ, nhóm còn lại ăn sau 10 giờ. Kết quả cho thấy nhóm ăn sáng muộn hơn có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao hơn và nguy cơ béo phì cũng tăng so với nhóm ăn sớm.
Do đó, duy trì thời điểm ăn sáng ổn định và không ăn quá muộn có thể hỗ trợ kiểm soát cân nặng, đặc biệt khi kết hợp với chế độ ăn cân đối và lối sống lành mạnh.
Ngoài ra, không phải ai cũng phù hợp với việc ăn sáng sớm, đặc biệt là lúc 6 - 7 giờ sáng. Người làm ca đêm, người có lịch sinh hoạt khác biệt hoặc những người thức dậy muộn có thể có giờ ăn khác.
Ví dụ, nếu thức dậy lúc 10 giờ sáng và ăn lúc 11 giờ thì điều đó vẫn khá hợp lý. Vấn đề đáng lo hơn là thức dậy từ rất sớm nhưng đến trưa mới ăn bữa đầu tiên. Khoảng cách giữa lúc thức dậy và bữa sáng đôi khi lại quan trọng hơn so với dựa vào giờ cố định trên đồng hồ.
Hiện chưa có một khung giờ ăn sáng cố định phù hợp với tất cả mọi người. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia dinh dưỡng cho rằng nên ăn bữa đầu tiên trong khoảng 1 - 3 giờ sau khi thức dậy, đặc biệt nếu dễ bị đói vào cuối ngày hoặc có vấn đề kiểm soát đường huyết.
Một bữa sáng cân bằng nên có protein như trứng hoặc sữa chua, chất xơ từ yến mạch, trái cây hoặc rau xanh, cùng chất béo lành mạnh từ các loại hạt hoặc trái bơ. Quan trọng nhất vẫn là duy trì giờ ăn tương đối ổn định, tránh bỏ đói cơ thể quá lâu rồi ăn dồn quá nhiều vào buổi tối, theo Healthline.
Tin Gốc: Thanh Niên

