Hòa trong tiếng cồng chiêng vang vọng, lễ cưới truyền thống của đồng bào Chăm Hroi được tái hiện sống động tại làng Canh Tiến, xã Canh Vinh (Gia Lai), thu hút đông đảo du khách.
Đây là điểm nhấn trong chuỗi sự kiện “Điểm hẹn Canh Tiến – Nơi hòa quyện cùng thiên nhiên” diễn ra ngày 25-26/4, nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia – Gia Lai 2026.
Không chỉ là hoạt động văn hóa, sự kiện còn mở ra không gian trải nghiệm đậm bản sắc, nơi du khách được “nghe núi rừng kể chuyện” qua những nghi lễ cổ xưa được phục dựng gần như nguyên bản.
Canh Tiến từng là ngôi làng biệt lập giữa đại ngàn. Để vào đây, người dân phải đi đò vượt hồ Núi Một hoặc băng rừng, qua đèo Nha Sam hiểm trở. Giờ đây, khi hạ tầng giao thông được đầu tư, điện lưới quốc gia phủ tới, diện mạo làng đã có nhiều đổi thay.
Theo lãnh đạo xã Canh Vinh, không chỉ chuyển mình về kinh tế – xã hội, Canh Tiến còn là nơi hội tụ văn hóa của đồng bào Ba Na, Chăm, cùng hệ sinh thái suối, rừng còn khá nguyên sơ, giàu tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng.
Người Chăm Hroi ở Canh Tiến theo chế độ mẫu hệ nên lễ cưới được tổ chức tại nhà gái. Trước ngày cưới, em gái cô dâu cùng đại diện nhà gái sang nhà trai để thay cô dâu thực hiện nghi thức “bắt chồng”.
Sau đó, lễ cúng cưới chính thức được diễn ra trước sự chứng kiến của họ hàng hai bên và bản làng. Nghi thức này được những ông Chơ No (ông mai mối) hai bên đảm nhiệm.
Điểm khiến nhiều du khách thích thú chính là các lễ vật trong lễ cưới. Không cầu kỳ, xa xỉ, tất cả đều gắn với đời sống thường nhật nhưng mang giá trị biểu trưng sâu sắc. Một mâm lễ cơ bản gồm ghè rượu, gà, nồi đồng, vòng tay, kiềng bạc, sáp ong, trầu cau và thau đồng đựng nước. Mỗi vật phẩm không chỉ là sính lễ mà còn thể hiện sự gắn kết, lời chúc về cuộc sống đủ đầy, bền chặt của đôi vợ chồng trẻ.
Theo ông Vũ Trọng Tiến, Phó Chủ tịch UBND xã Canh Vinh, việc phục dựng lễ cưới truyền thống của người Chăm Hroi không chỉ nhằm tạo điểm nhấn cho du lịch mà còn góp phần gìn giữ một nghi lễ độc đáo đang dần mai một.
Mỗi nghi thức, mỗi lễ vật trong lễ cưới đều chứa đựng những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và quan niệm sống của cộng đồng, cần được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ trẻ.
“Thông qua việc tái hiện, chúng tôi mong muốn giúp người dân, đặc biệt là lớp trẻ hiểu hơn về phong tục của dân tộc mình, từ đó nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa”, ông Tiến nói.
Ông cũng cho rằng thông qua chuỗi sự kiện “Điểm hẹn Canh Tiến – Nơi hòa quyện cùng thiên nhiên” là cơ hội quảng bá hình ảnh Canh Tiến, một vùng đất giàu bản sắc, thân thiện và giàu tiềm năng; đồng thời từng bước xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, nâng cao đời sống người dân.
“Quan trọng hơn, đây là dịp khơi dậy niềm tự hào văn hóa, để mỗi người dân trở thành một đại sứ du lịch cho quê hương”, ông Tiến nhấn mạnh.
Bên bờ sông yên tĩnh ở thành phố Sagamihara (Nhật Bản), hàng chục người Việt kiên nhẫn xếp hàng chờ tới lượt nổ bỏng gạo.
Khung cảnh ấy khiến không ít người ngỡ như mình đang ở một vùng quê Việt Nam nhiều năm trước, nơi tiếng máy nổ gạo vang lên luôn kéo theo sự háo hức của đám trẻ nhỏ.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, chị Phương Linh, người Việt đang sinh sống tại thành phố Sagamihara cho hay, chị biết thông tin có người tổ chức nổ bỏng gạo qua một hội nhóm cộng đồng người Việt tại Sagamihara.
Vì rất yêu thích món ăn quà tuổi thơ này nên chị rủ chồng người Nhật Bản đem gạo đi nổ bỏng.
Buổi nổ bỏng bắt đầu từ 14h, khi gia đình chị Phương Linh tới nơi là khoảng 16h đã thấy nhiều người có mặt.
“Lúc tôi đến đã có hơn 40 người đang xếp hàng, đủ mọi lứa tuổi, từ nam nữ tới trẻ nhỏ. Có cả mấy bạn đang mang bầu cũng tới chờ”, chị nói.
Người phụ nữ này cũng cho biết, vì hiếm khi thấy xuất hiện máy nổ bỏng tại khu vực này nên các đồng hương người Việt đem theo rất nhiều gạo, có người mang theo tới 10kg gạo nên các vị khách đến sau phải đợi khá lâu. Chi phí nổ bỏng khoảng 550 yên/kg gạo, tương đương khoảng 90.000 đồng.
“Nhà tôi có 2 vợ chồng và con trai nhỏ nên chỉ nổ khoảng 2kg. Tuy vậy, tôi cũng phải chờ từ 16h đến 19h mới tới lượt”, chị cười.
Người sở hữu chiếc máy nổ bỏng này là một lao động người Việt tại Nhật Bản. Anh còn khá trẻ nhưng khiến nhiều người nể phục bởi sự khéo léo và tâm huyết khi tự nghiên cứu, lắp ráp chiếc máy nổ bỏng độc đáo này.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ thiết bị, anh thường chở máy tới nhiều khu vực khác nhau. Khi tìm được địa điểm phù hợp, anh sẽ đăng thông tin lên các hội nhóm cộng đồng người Việt để mọi người tới tham gia.
Không chỉ mang theo máy nổ, anh Tài còn chuẩn bị sẵn nhiều nguyên liệu như gạo, đỗ đen, đỗ xanh, lạc, mì gói cùng các dụng cụ như thau, chậu đựng và cả máy xay để nghiền nhỏ các loại đỗ trước khi trộn với gạo.
Song phần lớn khách thường tự chuẩn bị sẵn gạo và nguyên liệu yêu thích mang đến. Một số người muốn trộn thêm đỗ hoặc nguyên liệu khác thì mua thêm tại chỗ. Có trường hợp hỗn hợp quá nhiều đường, khó nổ, khách sẽ mua thêm gạo từ chủ nhân chiếc máy để điều chỉnh lại độ ngọt phù hợp.
Trong số những người đi nổ bỏng, người tò mò nhất là chồng chị Linh - anh Hiroki.
Đây là lần đầu tiên anh nhìn thấy chiếc máy nổ bỏng truyền thống của Việt Nam. Anh quan sát rất kỹ cách máy vận hành và thắc mắc làm thế nào chủ nhân có thể di chuyển chiếc máy cồng kềnh này tới nhiều nơi để phục vụ cộng đồng người Việt.
Không chỉ tò mò về chiếc máy, anh còn ngạc nhiên trước sự háo hức của mọi người. Dường như ai cũng yêu thích món ăn này. Khi nếm thử bỏng gạo, anh thấy bất ngờ vì vị mộc mạc, dễ ăn, ngay cả con trai của hai vợ chồng cũng thích thú ăn liền hai ống bỏng.
Theo chị Linh, điều khiến món ăn dân dã này trở nên đặc biệt là cảm xúc nó mang lại nơi xứ người.
“Tôi rất nhớ món ăn này, đơn giản, dân dã nhưng lại rất ngon. Vì sống xa quê nên khi có cơ hội ăn lại món ăn tuổi thơ, ai cũng thích. Nhiều gia đình còn đưa con nhỏ vì muốn lưu giữ cho các con một phần ký ức về quê hương Việt Nam. Ai cũng muốn con biết đến những món ăn từng gắn bó với tuổi thơ người Việt”, chị nói.
Do máy chạy khá ồn nên nhóm nổ gạo không đặt gần khu dân cư mà lựa chọn khu vực gần bờ sông, xung quanh ít nhà dân để đặt máy.
Hầu hết khách tới nổ bỏng là người Việt Nam. Những cuộc trò chuyện bằng tiếng Việt vang lên rôm rả tạo cảm giác thân thuộc khó tả.
“Mọi người không quen biết nhau nhưng cứ trò chuyện, hỏi han rất tự nhiên như hàng xóm. Mấy đứa trẻ thì cầm bỏng chạy nhảy nô đùa khắp nơi. Tôi cứ ngỡ mình đang ở Việt Nam vậy. Ở xứ người, không phải lúc nào cũng có những khoảnh khắc như thế”, chị Linh nói.
Nhiều người sử dụng bấm móng tay mỗi ngày nhưng ít chú ý đến thiết kế của dụng cụ này. Các diễn đàn từng đưa ra nhiều giả thuyết về công dụng của chiếc lỗ nhỏ ở đuôi đòn bẩy, như dùng để hứng móng vụn, thông gió, hỗ trợ kết cấu hay dùng mở nắp chai.
Ông Jake Peters, Giám đốc điều hành EDJY, công ty chuyên nghiên cứu và tái thiết kế dụng cụ bấm móng tay tại Mỹ, cho biết chiếc lỗ ở phần đuôi có chức năng thực tế là xâu vào móc khóa, dây đeo để người dùng mang theo bên mình. Một số mẫu bấm móng tay thời kỳ đầu thường gắn sẵn một sợi dây chuyền nhỏ.
Về mặt kỹ thuật, chiếc lỗ đóng vai trò là điểm chốt để gắn đinh tán, giúp giữ phần đòn bẩy và phần đế kim loại lại với nhau. Người dùng cũng có thể tận dụng chi tiết này để xâu nhiều dụng cụ (cho móng tay, móng chân) thành một bộ.
Chi tiết này xuất hiện từ những năm 1880. Trước đó, người dân thường dùng dao bỏ túi để gọt móng, tiềm ẩn rủi ro gây tổn thương. Năm 1881, hai nhà phát minh Eugene Heim và Celestin Matz tại Cincinnati (Mỹ) nộp bằng sáng chế cho "dụng cụ cắt móng tay" dựa trên cơ chế đòn bẩy. Thiết kế này mang lại tỷ lệ đòn bẩy cơ học khoảng 15:1, giúp việc vệ sinh móng an toàn và tốn ít lực. Trong bản vẽ bằng sáng chế gốc, phần đuôi đòn bẩy đã có một vòng khuyên nhỏ, là tiền thân của chiếc lỗ ngày nay.
Bằng sáng chế năm 1881 gọi bộ phận cắt là "hàm" thay vì "lưỡi dao". Các dụng cụ hoạt động theo cơ chế nghiền đứt móng chứ không cắt gọt. Điều này lý giải việc móng tay thường văng xa khi cắt và để lại các cạnh không bằng phẳng.
Ông Peters cho biết mỗi ngày có khoảng 5 triệu chiếc bấm móng tay được bán ra. Ước tính 50 đến 100 tỷ chiếc đã được tiêu thụ trên toàn cầu.
"Trong sản xuất công nghiệp, những chi tiết không có tác dụng sẽ bị cắt bỏ để tiết kiệm chi phí vật liệu. Sự tồn tại của chiếc lỗ trên mọi phân khúc giá trong 145 năm qua cho thấy nó vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng", ông Peters nói.
Khoảng cách ấy được Gary Dawson - Giám đốc học tập và phát triển tại Employers Association of the NorthEast - quan sát thường xuyên trong quá trình đào tạo cho hàng trăm tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực. Dawson làm việc với nhiều cấp độ lãnh đạo, phát hiện một thực tế lặp đi lặp lại là đa số chưa từng được đào tạo về EQ một cách bài bản.
Theo ông, vấn đề cốt lõi nằm ở trình tự đào tạo. Doanh nghiệp thường yêu cầu cải thiện các kỹ năng như quản lý xung đột hay giao tiếp nhưng lại bắt đầu trực tiếp từ các kỹ năng này thay vì xây dựng nền tảng EQ trước. Khi thiếu nền tảng, việc đào tạo trở nên kém hiệu quả.
Thực tế cho thấy các kỹ năng quản lý sẽ vận hành tốt hơn khi được đặt trên nền tảng EQ. Với xung đột, lãnh đạo sẽ xử lý hiệu quả hơn khi hiểu rõ điểm kích hoạt của bản thân, điều gì khiến họ nhanh chóng nổi giận. Nhờ tự nhận thức và tự quản lý, họ có thể giữ bình tĩnh, tránh phản ứng bộc phát, tiếp cận mọi thứ bằng sự tò mò thay vì phán xét và hướng đến hợp tác thay vì đối đầu.
Nhiều quản lý né tránh những chủ đề đối thoại hóc búa không phải vì thiếu kỹ năng mà vì không muốn đối diện với cảm xúc tiêu cực đi kèm. EQ giúp họ nhận diện và vượt qua những cảm xúc này, đồng thời sử dụng sự đồng cảm để truyền đạt thông tin khó một cách rõ ràng, tinh tế.
Nhận thức xã hội và quản lý mối quan hệ cũng giúp tạo ra môi trường an toàn, nơi xung đột được giải quyết một cách lành mạnh. Trong giao tiếp, hiệu quả tăng lên khi lãnh đạo hiểu rằng mỗi nhân viên tiếp nhận thông tin khác nhau. Vì vậy việc hiểu phong cách giao tiếp, mức độ trưởng thành cảm xúc và nhận thức của từng cá nhân là điều cần thiết.
EQ là nền tảng cho nhiều năng lực, là giá trị thực tiễn khiến đây trở thành kỹ năng cốt lõi trong phát triển lãnh đạo. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển, Dawson nhìn nhận công nghệ này có thể giúp giảm tải công việc hành chính và tăng hiệu suất. Tuy nhiên ông cảnh báo về nguy cơ "chuyển giao cảm xúc - xã hội" cho AI.
Con người có thể nhờ AI viết những phản hồi mang tính cảm xúc nhưng điều đó đồng nghĩa với việc họ không còn thực sự hiểu nhu cầu của người khác hay xây dựng mối quan hệ. Những nhà lãnh đạo hiệu quả là người biết khi nào nên và không nên sử dụng AI.
Một xu hướng khác được ghi nhận là nhu cầu tăng cao đối với đào tạo nghi thức kinh doanh, đặc biệt dành cho gen Z. Các kỹ năng như đọc vị tình huống, xây dựng mối quan hệ, phát biểu trong cuộc họp hay phân biệt giao tiếp nội bộ và với khách hàng đều được chú trọng. Như các kỹ năng khác, EQ tiếp tục đóng vai trò nền tảng giúp nhân sự trẻ phát triển những năng lực này.
Dawson nhấn mạnh rằng các chương trình EQ hiệu quả cần gắn với trải nghiệm thực tế. Ông tin rằng kinh nghiệm thực tiễn và những câu chuyện cụ thể là yếu tố quan trọng giúp người học kết nối với nội dung. Nếu chỉ dừng ở lý thuyết, đào tạo sẽ trở nên khô cứng và kém hiệu quả.