Bộ Y tế vừa đề xuất một số quy định xử phạt vi phạm hành chính nhằm xử lý các hành vi lợi dụng không gian mạng để truyền bá, quảng cáo, tư vấn các phương pháp khám chữa bệnh sai lệch, trái quy định.
Theo Cục Quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, thời gian qua trên mạng xã hội có nhiều thông tin, nội dung khám chữa bệnh sai lệch, thậm chí cổ xúy các phương pháp, liệu pháp khám chữa bệnh chưa được kiểm chứng khoa học hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép áp dụng.
Ví dụ chữa bệnh “thuận tự nhiên”, chữa ung thư bằng nước kiềm, nhịn ăn, thải độc chữa bệnh, liệu pháp “chanh liều cao”…
Các thông tin, nội dung này ngày càng được đăng tải nhiều trên không gian mạng và đang gây những hiểu lầm nghiêm trọng, lôi kéo người dân từ bỏ phác đồ điều trị y khoa chính thống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người dân. Đồng thời vi phạm quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Vì vậy, Cục Quản lý khám, chữa bệnh đề xuất và đóng góp ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân đang lấy ý kiến các bộ, ngành, các đơn vị, tổ chức…
Cụ thể, Cục Quản lý khám, chữa bệnh đề xuất điều chỉnh, bổ sung phạt tiền 10.000.000 – 20.000.000 đồng đối với ba hành vi.
Thứ nhất, xử phạt với hành vi đăng tải, phát tán thông tin, nội dung tư vấn, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ, thiết bị, hàng hóa dưới danh nghĩa có tác dụng khám bệnh, chữa bệnh, thay thế thuốc chữa bệnh hoặc phác đồ điều trị trái với quy định của pháp luật.
Theo Bộ Y tế, các hành vi phát tán thông tin khám chữa bệnh sai lệch trên không gian mạng thường gắn liền với mục đích thương mại, trục lợi, như bán thực phẩm chức năng, thiết bị y tế không rõ nguồn gốc, sản phẩm “thải độc”, “tăng miễn dịch”, bài thuốc tự chế, khóa học hoặc dịch vụ tư vấn điều trị không phép.
Vì vậy, việc bổ sung quy định trực tiếp như trên sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý nhóm hành vi vi phạm, đồng thời hạn chế tình trạng lợi dụng niềm tin của người bệnh để kinh doanh trái pháp luật.
Thứ hai, hành vi phát tán thông tin về phương pháp, liệu pháp, bài thuốc, kỹ thuật khám chữa bệnh chưa được kiểm chứng khoa học hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép áp dụng tại Việt Nam.
Thứ ba, hành vi phát tán thông tin có nội dung xúi giục, lôi kéo, hướng dẫn người bệnh từ bỏ, trì hoãn hoặc thay thế các phương pháp, phác đồ khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh.
Bộ Y tế cũng đề xuất mức phạt tiền 20.000.000 – 30.000.000 đồng với các hành vi làm ra thông tin về phương pháp, liệu pháp, bài thuốc, kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chưa được kiểm chứng khoa học hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép áp dụng tại Việt Nam.
Làm ra thông tin có nội dung xúi giục, lôi kéo, hướng dẫn người bệnh từ bỏ, trì hoãn hoặc thay thế các phương pháp, phác đồ khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh.
Bộ Y tế đề xuất các nội dung xử phạt này không áp dụng đối với trường hợp cá nhân chia sẻ kinh nghiệm, trải nghiệm cá nhân về quá trình khám bệnh, chữa bệnh không vì mục đích quảng cáo, tư vấn chuyên môn, hướng dẫn thay thế điều trị hoặc thu lợi từ việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ, phương pháp khám bệnh, chữa bệnh.
Đối với biện pháp khắc phục hậu quả, Bộ Y tế đề xuất bổ sung việc buộc hoàn trả hoặc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm các đề xuất trên.
Cục Quản lý khám, chữa bệnh nhấn mạnh những đề xuất trên rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay nhằm tăng cường bảo vệ sức khỏe người dân, phòng ngừa và xử lý hiệu quả các hành vi lợi dụng không gian mạng để truyền bá, quảng cáo, tư vấn các phương pháp khám bệnh, chữa bệnh trái quy định.
Trong hướng dẫn chẩn đoán và điều trị dinh dưỡng cho người bệnh ung thư vừa ban hành, Bộ Y tế nhấn mạnh dinh dưỡng là một phần không thể tách rời trong quá trình điều trị. Việc can thiệp dinh dưỡng cần được cá thể hóa cho từng bệnh nhân, bắt đầu từ thời điểm chẩn đoán và theo dõi xuyên suốt quá trình điều trị.
Bộ Y tế khuyến nghị người bệnh ung thư bổ sung 25-30 kcal/kg cân nặng/ngày. Lượng protein tối thiểu là 1,2 g/kg/ngày, trường hợp suy dinh dưỡng nặng hoặc mất nhiều khối cơ có thể tăng lên 1,5 g/kg/ngày.
Chất béo nên chiếm dưới 30% tổng năng lượng khẩu phần, ưu tiên các loại chất béo không bão hòa và hạn chế chất béo bão hòa cũng như chất béo chuyển hóa. Vitamin và khoáng chất được bổ sung theo nhu cầu khuyến nghị như người bình thường; chỉ sử dụng liều cao khi có bằng chứng thiếu hụt cụ thể và theo chỉ định của nhân viên y tế.
Đáng chú ý, Bộ Y tế khuyến cáo không áp dụng các chế độ ăn kiêng nghèo năng lượng, bao gồm chế độ ăn keto, cho người bệnh ung thư. Hiện chưa có bằng chứng khoa học chứng minh các chế độ ăn này giúp cải thiện hiệu quả điều trị, song có thể làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng, nhất là với bệnh nhân thể trạng yếu.
Ung thư hiện là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và tại Việt Nam. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính căn bệnh này đã cướp đi khoảng 10 triệu sinh mạng trong năm 2022. Số ca mắc mới tiếp tục gia tăng do già hóa dân số, đô thị hóa và các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, chế độ ăn uống không lành mạnh và ít vận động.
Những tiến bộ trong phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch đã giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống. Song, các phương pháp này cũng gây nhiều tác dụng phụ lên hệ tiêu hóa, làm giảm khả năng ăn uống, tăng nhu cầu chuyển hóa và dẫn đến suy dinh dưỡng, suy mòn.
Theo Bộ Y tế, mối liên hệ giữa ung thư và dinh dưỡng mang tính hai chiều. Bản thân khối u và quá trình điều trị có thể gây suy dinh dưỡng, trong khi tình trạng dinh dưỡng lại ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp ứng điều trị, mức độ dung nạp hóa trị, xạ trị cũng như tiên lượng sống của người bệnh. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư có thể lên tới 80%, tùy thuộc vào loại ung thư, giai đoạn bệnh và phương pháp điều trị. Tình trạng này đặc biệt phổ biến ở người mắc ung thư đường tiêu hóa, gan mật tụy và vùng đầu cổ.
Vì vậy, hướng dẫn mới yêu cầu sàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng và đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngay từ khi chẩn đoán. Người bệnh có nguy cơ hoặc đã bị suy dinh dưỡng cần được đánh giá toàn diện về cân nặng, chỉ số BMI, mức độ sụt cân, khối lượng cơ, khẩu phần ăn và các chỉ số cận lâm sàng liên quan để xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp.
Bộ Y tế cho rằng phát hiện sớm nguy cơ suy dinh dưỡng, can thiệp kịp thời và phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ điều trị với bác sĩ dinh dưỡng sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị, giảm biến chứng, cải thiện chất lượng sống và tiên lượng lâu dài cho người bệnh ung thư.
Làm việc tại một trung tâm hỗ trợ bạo lực gia đình, Lan, 36 tuổi, từng đồng hành với nhiều phụ nữ và trẻ em vượt qua sang chấn. Mười giờ mỗi ngày, chuyên gia ngồi lắng nghe những điều không thể nói với ai khác. Một người phụ nữ với vết bầm chưa kịp tan. Một đứa trẻ không còn dám ngủ một mình. Trường hơn khác đang nghĩ đến chuyện "kết thúc tất cả" vì không thể chịu đựng những đau khổ dày vò.
Trong giai đoạn thiếu nhân sự, Lan tiếp nhận đến 10 ca trị liệu liên tiếp mỗi ngày. Những câu chuyện chất chồng không có lối thoát. Chị bắt đầu sợ đám đông, mất ngủ, thường xuyên gặp ác mộng mang hình ảnh của thân chủ. Lo âu kéo dài suốt hai năm. Người phụ nữ tự áp dụng mọi phương pháp từng hướng dẫn người khác đọc sách, chánh niệm, thiết lập ranh giới cảm xúc nhưng không có gì hiệu quả.
"Càng cố tự chữa, tôi càng thấy bất lực", chị kể.
Những gì chuyên gia tâm lý trải qua được khoa học gọi tên là kiệt sức vì thấu cảm, hay "compassion fatigue". Đây không phải trạng thái tâm lý mơ hồ. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Traumatology chỉ ra hơn 50% chuyên gia làm việc với nạn nhân sang chấn có biểu hiện của kiệt sức thấu cảm ở mức độ trung bình đến nặng. Với những người làm việc trong lĩnh vực bạo lực gia đình hoặc chăm sóc tâm thần cường độ cao, tỷ lệ này còn cao hơn đáng kể.
Theo Bộ Y tế, khoảng 15 triệu người Việt Nam đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến. Trầm cảm cùng chứng lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong khi đó, cả nước chỉ có khoảng 1.000 bác sĩ tâm thần. Tỷ lệ gần một bác sĩ trên 100.000 dân này thấp hơn nhiều so với mức trung bình 3,96 mà Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận năm 2022.
Sự thiếu hụt nhân lực y khoa tuyến trên vô tình đẩy các chuyên gia tâm lý trở thành cửa ngõ tiếp nhận bệnh nhân. Khối lượng công việc khổng lồ dẫn đến hội chứng kiệt sức vì thấu cảm. Báo cáo từ Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) chỉ ra thực trạng đáng báo động khi có tới 45% chuyên gia trị liệu từng trải qua các triệu chứng kiệt sức nghề nghiệp, một con số cho thấy nguy cơ đứt gãy của hệ thống phòng vệ tuyến đầu.
"Khoảng trống nhân lực đó dồn gánh nặng xuống tầng chuyên gia tâm lý và tham vấn viên ở tuyến tiếp cận ban đầu. Họ trở thành 'cửa ngõ' đầu tiên mà người dân tìm đến khi gặp khủng hoảng tinh thần, nhưng lại là nhóm ít được bảo vệ nhất trong hệ thống", TS.BS Ngô Thị Thanh Hương, cố vấn cao cấp và đồng sáng lập dự án Safe and Sound thuộc Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, nói.
Áp lực đó còn đi kèm rủi ro chuyên môn. TS Hương chỉ ra rằng nhiều ca ban đầu trông như stress thông thường hoặc kém thích nghi, nhưng thực chất đang ở giai đoạn sớm của rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu nặng, thậm chí loạn thần.
"Nếu thiếu kiến thức nền tảng về tâm thần, người làm chuyên môn rất dễ bỏ sót tín hiệu quan trọng hoặc đánh giá thấp mức độ nguy cơ", bà nói. Sai lầm đó không chỉ ảnh hưởng đến thân chủ mà còn tích lũy thành gánh nặng tâm lý ngược chiều lên chính người trị liệu.
Một vấn đề khác là sự thiếu thống nhất ngôn ngữ chuyên môn giữa tâm lý học và tâm thần học, làm giảm hiệu quả phối hợp ở các ca cần kết hợp trị liệu tâm lý và dùng thuốc. ThS.BS Nguyễn Văn Công, Viện trưởng Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, cho rằng xu hướng đào tạo hiện nay cần dịch chuyển mạnh hơn theo hướng thực hành, tăng phân tích ca bệnh và phối hợp đa chuyên khoa, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn lâm sàng. Ông cho rằng người làm tâm lý tuyến đầu không chỉ cần kiến thức nền mà còn phải biết khi nào cần chuyển tuyến và cách phối hợp với bác sĩ tâm thần trong từng tình huống cụ thể.
Nhưng tất cả giải pháp hệ thống đó đều có một điều kiện tiên quyết là bản thân người làm nghề phải còn đủ sức để ở lại. Chị Lan cuối cùng đã tìm đến một đồng nghiệp để được trị liệu. Ngày đầu tiên ngồi ở vị trí của người cần được hỗ trợ, chị bật khóc. Không phải vì đau, mà vì nhẹ nhõm khi được tháo bỏ "chiếc mặt nạ" của người luôn phải mạnh mẽ.
Sau thời gian nghỉ ngơi, thiết lập lại ranh giới công việc và tiếp tục trị liệu, chị dần lấy lại thăng bằng để trở về với nghề. Với Lan, bài học không nằm ở kỹ thuật hay lý thuyết nào.
"Người làm công tác hỗ trợ tâm lý chỉ có thể đi đường dài cùng người khác khi biết chăm sóc chính sức khỏe tinh thần của mình", chuyên gia tâm sự.
Thực trạng này đặt ra thách thức lớn cho công tác kiểm soát bệnh, trong khi vẫn tồn tại rào cản tâm lý kỳ thị trong cộng đồng và thiếu hụt nhân lực y tế cơ sở.
Một thanh niên trẻ 19 tuổi ngụ Đồng Tháp thấy trên da xuất hiện nhiều vết loét chảy dịch mủ, cằm kèm sưng các khớp. Bệnh nhân khám tại tỉnh, điều trị kháng sinh, kháng viêm và giảm đau không đỡ. Mảng loét cũ đóng mài đen, xuất hiện nhiều vết loét mới khiến bệnh nhân lo lắng và đến khám tại Bệnh viện Da liễu, TP.HCM.
Thanh niên này từng có quan hệ đồng giới, có nhiều hơn hai bạn tình, được chẩn đoán nhiễm HIV cách đây năm năm, đang điều trị thuốc ARV.
Nghi ngờ bệnh nhân nhiễm giang mai trên nền HIV sẵn có nên bác sĩ hướng dẫn bệnh nhân làm xét nghiệm sàng lọc tất cả các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục. Kết quả cho thấy bệnh nhân mắc giang mai ác tính và được điều trị theo phác đồ.
Một bệnh nhân nam 43 tuổi tại Tây Ninh đang điều trị HIV, có quan hệ đồng giới. Tuy nhiên gần đây bệnh nhân bắt đầu nhận thấy thị lực của mình giảm dần trong suốt ba tuần. Mọi thứ trước mắt trở nên mờ nhòe, như bị phủ một lớp sương. Không lâu sau, lòng bàn tay và bàn chân của bệnh nhân xuất hiện những nốt đỏ bất thường.
Đi khám, ông được chẩn đoán viêm màng bồ đào ở cả hai mắt. Tưởng rằng chỉ là bệnh lý về mắt đơn thuần, bệnh nhân tiếp tục được chuyển đến Bệnh viện Da liễu TP.HCM để kiểm tra thêm. Tại đây, kết quả xét nghiệm khiến ông không khỏi bàng hoàng: huyết thanh học dương tính với giang mai.
Trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 6-5, bác sĩ Bùi Mạnh Hà - Phó giám đốc Bệnh viện Da liễu TP.HCM - cho biết số bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh giang mai tại bệnh viện tăng theo thời gian, ước tính ca bệnh tăng gấp 3-5 lần trong khoảng 10-15 năm qua. Đây không phải là vấn đề riêng lẻ mà có xu hướng toàn cầu, nhất là các quốc gia phát triển.
BS Hà phân tích sự gia tăng của bệnh giang mai đến từ sự kết hợp của nhiều yếu tố, bên cạnh năng lực quản lý, chẩn đoán của hệ thống y tế được cải thiện, nâng cao khả năng phát hiện bệnh thì hành vi xã hội, tâm lý chủ quan của cộng đồng, đặc biệt là ở các nhóm đối tượng nguy cơ cao, cũng là yếu tố quan trọng làm tăng tỉ lệ nhiễm bệnh.
Ngoài ra, bệnh cũng có xu hướng tăng trở lại theo chu kỳ sau nhiều năm, có thể do những thay đổi khả năng miễn dịch của vật chủ.
Tỉ lệ mắc giang mai cao ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) do các hành vi có nguy cơ lây nhiễm cao, đặc biệt là nhóm MSM có nhiễm HIV. Ngoài ra mạng xã hội giúp việc tìm kiếm bạn tình trở nên dễ dàng và xuyên biên giới. Sự giao lưu giữa các khu vực và quốc gia diễn ra thuận tiện hơn, khiến bệnh lây lan trong một "thế giới phẳng".
Một phần số ca tăng là do công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe và năng lực xét nghiệm, sàng lọc tại các cơ sở y tế đã được cải thiện, giúp phát hiện bệnh tốt hơn. Với bệnh giang mai bẩm sinh (mẹ truyền sang con), hiện tỉ lệ mắc không cao nhưng hệ quả đối với thai nhi và thế hệ tương lai là cực kỳ trầm trọng.
Ngành y tế đang nỗ lực thực hiện các chương trình loại trừ giang mai bẩm sinh thông qua việc xét nghiệm sàng lọc 100% phụ nữ mang thai ngay từ lần khám đầu tiên và trước khi sinh.
BS Đào Trọng Nghĩa, chuyên khoa da liễu khoa tổng hợp Bệnh viện Nhân dân Gia Định (TP.HCM), cho hay năm 2024-2025 bệnh viện đã tiếp nhận khoảng 500 trường hợp đến khám vì các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục. Trong đó bệnh giang mai được chẩn đoán khoảng 200 trường hợp.
Bác sĩ Nghĩa chia sẻ thêm bệnh giang mai là bệnh lây truyền chủ yếu từ người sang người qua đường tình dục do xoắn khuẩn giang mai (Treponema pallidum) gây nên. Xoắn khuẩn xâm nhập vào cơ thể người lành qua quan hệ tình dục đường âm đạo, đường hậu môn hoặc đường miệng.
Bệnh cũng có thể lây gián tiếp qua các đồ dùng, vật dụng bị nhiễm xoắn khuẩn hoặc lây qua các vết xước trên da, niêm mạc. Đồng thời có thể lây truyền qua đường máu hoặc từ mẹ bị giang mai sang con trong thời kỳ mang thai.
Những người có nguy cơ mắc cao nhất là: nam quan hệ đồng giới, theo các nghiên cứu trên thế giới khoảng 47% nhóm MSM mắc giang mai đồng nhiễm HIV; người nhiềm HIV đồng thời, tỉ lệ mắc bệnh giang mai nhóm MSM đồng nhiễm HIV cao hơn đáng kể so với nhóm không nhiễm HIV; người trẻ tuổi quan hệ tình dục không an toàn và phụ nữ mang thai.
Bác sĩ Nghĩa phân tích thêm bệnh có thể gây tổn thương ở da, niêm mạc. Nếu không được điều trị có thể gây biến chứng tổn thương các tổ chức và cơ quan khác của cơ thể như cơ, xương, khớp, tim mạch và thần kinh.
Với biến chứng thần kinh, xoắn khuẩn giang mai có thể xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương ở bất kỳ giai đoạn nào, gây ra viêm màng não, gây đau đầu dữ dội, cứng cổ và sợ ánh sáng; đột quỵ do viêm mạch máu não; tổn thương tủy sống dẫn đến mất điều hòa vận động, đau nhức các chi và rối loạn cảm giác; sa sút trí tuệ, thay đổi nhân cách, mất trí nhớ và ảo giác.
Biến chứng tim mạch (Cardiovascular syphilis) thường xuất hiện từ 10-30 năm sau khi nhiễm bệnh như: phình động mạch chủ, đây là biến chứng nguy hiểm nhất, có thể gây vỡ động mạch dẫn đến tử vong nhanh chóng; hở van động mạch chủ do viêm làm giãn vòng van tim; hẹp lỗ động mạch vành, gây ra các cơn đau thắt ngực...
Trước thực trạng số ca nhiễm giang mai tăng gấp đôi trong năm năm qua cùng các bệnh lây truyền qua đường tình dục diễn biến phức tạp, ngành y tế TP.HCM đã chính thức khởi động chương trình phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục năm 2026.