Thông tin được đưa ra tại Hội thảo khoa học RSV 2026 với chủ đề “Hơi thở khỏe mạnh – Cuộc sống an yên” do Hội Y học Dự phòng Việt Nam (VAPM) tổ chức với sự hỗ trợ khoa học từ Pfizer vừa diễn ra tại TP.HCM.
Theo các chuyên gia, quá trình già hóa dân số kéo theo sự gia tăng các bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường và bệnh hô hấp, khiến nhiều người lớn tuổi dễ bị tổn thương hơn trước các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.
Trên toàn cầu, ước tính cứ 10 người cao tuổi nhập viện vì RSV thì có 1 người phải điều trị tại khoa hồi sức tích cực (ICU). Một số nghiên cứu còn cho thấy mức độ nặng của các ca nhập viện liên quan RSV ở người cao tuổi có thể tương đương hoặc thậm chí cao hơn cúm mùa.
Theo Giáo sư – tiến sĩ – bác sĩ Phan Trọng Lân, Chủ tịch Hội Y học Dự phòng Việt Nam, RSV không chỉ là một bệnh nhiễm trùng hô hấp thông thường. Ở người lớn tuổi, đặc biệt là người có bệnh nền, RSV có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh hiện có, dẫn đến nhập viện và suy giảm chức năng kéo dài.
Các chuyên gia tại hội thảo cũng nhấn mạnh mối liên hệ giữa RSV với nhiều bệnh mạn tính như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen suyễn, bệnh tim mạch và tiểu đường. Trong khi các bệnh nền làm tăng nguy cơ diễn tiến nặng khi nhiễm RSV, bản thân RSV cũng có thể làm gia tăng nguy cơ biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc gây các đợt cấp nghiêm trọng ở người mắc COPD và hen suyễn.
Đáng chú ý, ngay cả sau khi vượt qua giai đoạn nhiễm bệnh cấp tính, nhiều người cao tuổi vẫn có thể đối mặt với nhiều hệ lụy kéo dài.
RSV ở người lớn tuổi hiện vẫn chưa được nhận diện đầy đủ. Triệu chứng bệnh thường không đặc hiệu, dễ nhầm với các bệnh hô hấp khác khiến việc chẩn đoán gặp khó khăn. Ngoài ra, dữ liệu dịch tễ học về RSV ở nhiều quốc gia trong khu vực còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ đánh giá thấp gánh nặng thực sự của bệnh.
Giáo sư – tiến sĩ – bác sĩ Wei Chih Chen, Giám đốc Khoa Điều trị Hô hấp, Bệnh viện đa khoa Cựu chiến binh Đài Bắc, cho rằng khi số lượng người cao tuổi ngày càng tăng, hệ thống y tế sẽ phải đối mặt với áp lực lớn hơn từ các bệnh nhiễm trùng hô hấp như RSV. Do đó, việc nâng cao nhận thức, nhận diện sớm nhóm nguy cơ cao và tăng cường các biện pháp dự phòng là rất cần thiết.
Phó giáo sư – tiến sĩ – bác sĩ Đỗ Văn Dũng, Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Y Dược TP.HCM, cho rằng việc nhận diện đầy đủ và đo lường chính xác gánh nặng RSV là yếu tố quan trọng để tăng cường hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người lớn tuổi.
“Thách thức của RSV ở người lớn tuổi không chỉ nằm ở bệnh lý mà còn ở việc nhận diện và đo lường đúng gánh nặng của bệnh. Khi nhận thức còn hạn chế, dữ liệu còn phân tán và thực hành chẩn đoán chưa đồng nhất, RSV vẫn là nguy cơ tiếp tục bị đánh giá thấp dù có thể gây ra hậu quả đáng kể đối với người lớn tuổi”.
Ngoài việc cung cấp thêm năng lượng, bia còn có thể ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tiêu hóa. Theo Healthline, đồ uống có cồn có thể làm giảm tiết dịch tiêu hóa và ảnh hưởng đến quá trình hấp thu dưỡng chất. Điều này tác động đến quá trình trao đổi chất của cơ thể, bao gồm các cơ quan tham gia điều hòa cân nặng. Không chỉ lượng bia tiêu thụ, một số thói quen khi uống cũng có thể cản trở quá trình giảm cân.
Uống bia khi bụng đói
Nhiều người uống bia trước bữa ăn hoặc thay cho bữa tối. Tuy nhiên, rượu bia có thể làm tăng cảm giác thèm ăn, khiến bạn tiêu thụ nhiều thực phẩm hơn sau đó. Một số chuyên gia khuyến nghị nên ăn bữa nhẹ với thực phẩm giàu protein hoặc chất xơ như trứng, yến mạch, sữa chua, các loại hạt hoặc chuối trước khi uống để hạn chế tiêu thụ quá mức.
Uống kèm cùng đồ chiên, thức ăn nhanh
Xúc xích, pizza, khoai tây chiên, cánh gà rán hay các món chiên nhiều dầu mỡ khác ăn kèm với bia cũng là nguồn cung cấp lượng lớn chất béo và calo. Sự kết hợp giữa bia và các món ăn giàu năng lượng này có thể khiến tổng lượng calo trong một buổi nhậu tăng rất cao.
Dồn uống nhiều vào cuối tuần
Một số người hạn chế uống bia trong tuần nhưng tiêu thụ rất nhiều vào cuối tuần. Thói quen này có thể khiến lượng calo nạp vào tăng đột biến, đồng thời dễ dẫn đến ăn uống mất kiểm soát. Uống quá nhiều trong một lần có thể gây hại hơn so với việc duy trì mức tiêu thụ thấp và điều độ.
Chọn bia pha nhiều đường
Không phải loại bia nào cũng có lượng calo giống nhau. Nhiều loại bia thủ công hoặc bia có nồng độ cồn cao thường chứa nhiều calo hơn bia thông thường.
Ngoài ra, một số loại bia hương vị hoặc được bổ sung các thành phần tạo ngọt có thể chứa nhiều đường hơn bia thông thường. Nếu sử dụng thường xuyên, những loại đồ uống này có thể khiến tổng lượng calo trong ngày tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu kiểm soát cân nặng.
Không tính lượng calo từ bia
Theo Mayo Clinic, kiểm soát cân nặng phụ thuộc vào tổng lượng calo nạp vào và tiêu hao. Một lon bia thông thường có thể chứa khoảng 100-150 calo hoặc hơn tùy loại, nhưng nhiều người lại không tính phần năng lượng này trong khẩu phần hàng ngày.
Các chuyên gia cho biết đồ uống có cồn thường được xem là nguồn "calo rỗng", tức cung cấp năng lượng nhưng rất ít giá trị dinh dưỡng. Khi uống nhiều bia trong một buổi, tổng lượng calo nạp vào có thể tăng lên đáng kể mà người uống không nhận ra.
Ngoài làm tăng lượng calo tiêu thụ, rượu bia còn có thể khiến cơ thể ưu tiên chuyển hóa cồn trước các nguồn năng lượng khác. Theo Healthline, điều này có thể làm chậm quá trình đốt mỡ và ảnh hưởng đến mục tiêu giảm cân nếu uống bia thường xuyên.
Trứng là thực phẩm giàu dinh dưỡng, phổ biến trong bữa ăn hằng ngày. Tuy nhiên, câu hỏi nên ăn lòng trắng hay trứng nguyên quả vẫn khiến nhiều người băn khoăn. Theo các phân tích dinh dưỡng tổng hợp từ nhiều nghiên cứu, cả hai đều có giá trị riêng và lựa chọn phù hợp phụ thuộc vào mục tiêu sức khỏe cũng như chế độ ăn của từng người.
Khác biệt ở cholesterol và chất béo
Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa hai phần của quả trứng nằm ở lòng đỏ. Lòng trắng gần như không chứa chất béo và hoàn toàn không có cholesterol, trong khi một quả trứng nguyên chứa khoảng 200 mg cholesterol cùng hơn 5 g chất béo.
Lòng trắng chỉ cung cấp khoảng 18 calo, trong khi một quả trứng nguyên dao động khoảng 38-72 calo tùy kích cỡ. Nhờ đó, lòng trắng thường được lựa chọn trong các chế độ ăn kiểm soát năng lượng hoặc giảm mỡ.
Tuy vậy, các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng chất béo trong lòng đỏ không hoàn toàn bất lợi. Một phần là chất béo không bão hòa đơn và đa, có vai trò hỗ trợ sức khỏe tim mạch khi sử dụng hợp lý.
Cả hai đều là nguồn protein chất lượng cao
Dù khác nhau về thành phần chất béo, cả lòng trắng và trứng nguyên quả đều là nguồn protein hoàn chỉnh, chứa đầy đủ các acid amin thiết yếu.
Theo Verywell Health, một quả trứng nguyên cung cấp khoảng 6,2 g protein, trong khi lòng trắng thấp hơn (3,62 g). Nếu so sánh tương đương, cần khoảng hai lòng trắng để đạt lượng protein của một quả trứng nguyên. Nhờ đó, cả hai đều phù hợp với người tập luyện thể thao hoặc cần duy trì khối cơ.
Trứng nguyên quả giàu vi chất hơn
Nếu chỉ xét protein và calo, lòng trắng trứng có lợi thế hơn; song trứng nguyên quả lại vượt trội về vi chất. Lòng đỏ chứa vitamin A, D, B12, folate, selen, đặc biệt là choline - dưỡng chất quan trọng cho não bộ và hệ thần kinh. Đây cũng là một trong số ít thực phẩm tự nhiên giàu vitamin D. Trong khi đó, lòng trắng hầu như không chứa các vi chất này, khiến trứng nguyên quả có giá trị dinh dưỡng toàn diện hơn.
Ăn cả quả trứng hỗ trợ tăng cơ tốt hơn
Theo Health, sau tập luyện kháng lực, ăn trứng nguyên quả giúp duy trì tổng hợp protein cơ bắp tốt hơn so với chỉ ăn lòng trắng. Điều này được cho là nhờ sự kết hợp giữa protein và các dưỡng chất trong lòng đỏ, giúp tăng hiệu quả phục hồi cơ.
Khi nào nên chọn lòng trắng và nguyên quả?
Với người đang giảm cân, kiểm soát cân nặng hoặc cần hạn chế cholesterol, lòng trắng trứng là lựa chọn phù hợp nhờ ít calo, gần như không có chất béo và không chứa cholesterol.
Ngược lại, với người khỏe mạnh, không mắc bệnh tim mạch hay rối loạn lipid máu, trứng nguyên quả mang lại lợi ích dinh dưỡng toàn diện hơn. Nhóm này có thể ăn khoảng một quả trứng mỗi ngày trong chế độ ăn cân bằng, thay vì loại bỏ hoàn toàn lòng đỏ.
Bộ Y tế vừa Ban hành Thông tư 16/2026/TT-BYT quy định thực hiện chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí cho cơ sở khám chữa bệnh (KCB) để điều trị cho người bệnh (sau đây gọi tắt: chương trình) theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 42 của luật Dược, không áp dụng đối với thuốc thuộc nguồn viện trợ không hoàn lại thuộc nguồn thu ngân sách nhà nước. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 10.7.2026.
Việc thực hiện chương trình theo khả năng hỗ trợ của cơ sở kinh doanh dược, không phải nghĩa vụ bảo đảm đủ toàn bộ thuốc điều trị cho người bệnh nhưng phải bảo đảm không thu tiền hoặc kèm theo điều kiện thương mại ràng buộc người bệnh; không tác động đến việc lựa chọn phương pháp điều trị, chỉ định sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả cho người bệnh.
Thuốc trong chương trình phải được lưu hành hợp pháp tại VN. Các trường hợp được hỗ trợ là người bệnh đã được chẩn đoán xác định bệnh, được chỉ định và kê đơn sử dụng thuốc phù hợp với chỉ định của thuốc thuộc chương trình và tự nguyện tham gia. Quỹ BHYT không thanh toán đối với số lượng thuốc hỗ trợ miễn phí đã sử dụng cho người bệnh có thẻ BHYT.
Cơ sở kinh doanh dược và cơ sở KCB ký văn bản thỏa thuận thực hiện chương trình theo quy định của Bộ Y tế, bao gồm: thông tin về thuốc hỗ trợ; hình thức hỗ trợ; số lượng thuốc hỗ trợ; đối tượng và chỉ định sử dụng thuốc, khuyến khích hỗ trợ người có công với cách mạng, người bệnh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, học sinh, sinh viên, người hưởng trợ cấp xã hội, người lao động có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người bệnh có thẻ BHYT nhưng còn gánh nặng chi phí… Văn bản cần nêu rõ thời gian bắt đầu thực hiện, thời gian kết thúc.
Thông tư 16/2026/TT-BYT cũng quy định thuốc thuộc chương trình phải được sử dụng đúng chỉ định, đúng đối tượng. Thuốc phải được bảo quản, lưu trữ riêng và có ký hiệu nhận biết là thuốc trong chương trình. Cơ sở KCB thực hiện chương trình có trách nhiệm công khai thông tin của chương trình trên trang thông tin điện tử của cơ sở hoặc công khai tại cơ sở để người bệnh được biết; bảo đảm sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, tránh lạm dụng, lãng phí; cung cấp, tư vấn đầy đủ, kịp thời thông tin về phác đồ điều trị, hiệu quả điều trị, tác dụng không mong muốn của thuốc, chi phí thuốc trong phác đồ sử dụng… Hằng năm, cơ sở KCB tổng hợp kết quả thực hiện chương trình trong báo cáo tổng kết năm của đơn vị.
Theo Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế), chương trình hỗ trợ thuốc giúp người bệnh giảm gánh nặng chi phí điều trị, đặc biệt với các thuốc, các bệnh hiểm nghèo có chi phí lớn như ung thư.