Chiều 29/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn công tác của Trung ương làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị về kết quả triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất, các nghị quyết của Trung ương và một số nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh trong thời gian tới.
Phát biểu chỉ đạo, kết luận tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao tinh thần đoàn kết, chủ động, nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Trị; biểu dương tinh thần cố gắng, trách nhiệm, nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân tỉnh Quảng Trị trong thời gian qua.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ một số hạn chế gồm nền tảng kinh tế và động lực tăng trưởng còn hạn chế; hạ tầng phát triển và khả năng chuyển hóa tiềm năng còn chưa tương xứng; mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cải cách hành chính và chuyển đổi số còn bất cập; đời sống của người dân nhìn chung còn nhiều khó khăn; năng lực tổ chức thực hiện vẫn là điểm hạn chế cần tập trung khắc phục.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý tỉnh phải đổi mới tư duy, hành động quyết liệt hơn, chọn đúng trọng tâm, tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả hơn và đề nghị tỉnh tiếp tục xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, kỷ luật, hành động, lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo. Vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp thực chất, thông suốt, hiệu quả, không để cấp xã trở thành điểm nghẽn mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tái định vị không gian phát triển Quảng Trị với chiến lược “vươn Đông, tỏa Tây.” “Vươn Đông” là lấy hướng biển làm trung tâm mở rộng của nền kinh tế, là hướng phát triển chủ đạo; thông qua hành lang kinh tế Đông – Tây. Tích hợp các phương thức vận tải và logistics để đưa các chức năng của kinh tế biển lan tỏa lên phía Tây và mở rộng sang các vùng, lãnh thổ khác.
Trục Đông – Tây trở thành trục tổ chức lại không gian sản xuất, logistics, đô thị, liên kết vùng, kết nối chiến lược với Lào, Thái Lan, Myanmar và tiểu vùng Mekong; gắn Lao Bảo, La Lay, cửa khẩu, cảng biển, khu kinh tế, thương mại biên giới thành một hệ sinh thái thống nhất.
Tỉnh cần khẩn trương quy hoạch lại không gian phát triển biển – rừng – biên giới, với tư duy vùng rõ hơn, quy hoạch tích hợp hơn và trọng tâm tập trung hơn; thực hiện kết nối đồng bộ Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị, Mỹ Thủy, Hòn La, hệ thống cảng, công nghiệp chế biến, năng lượng và đô thị ven biển; lựa chọn rõ cực tăng trưởng, dự án động lực, tránh dàn trải, không đánh đổi môi trường, không để đầu cơ đất đai làm méo mó định hướng phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở phát triển mạnh các ngành kinh tế có lợi thế, gồm kinh tế biển, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến; tận dụng vai trò cửa ngõ ra biển của hành lang Đông – Tây để phát triển cảng biển, logistics, công nghiệp chế biến, thương mại biên giới và xuất nhập khẩu. Trong đó cảng biển và không gian ven biển phải trở thành hạt nhân của tăng trưởng; đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng kết nối, thủ tục, nhân lực và môi trường đầu tư.
Xây dựng thương hiệu Quảng Trị là điểm đến của lịch sử, hòa bình, tâm linh, sinh thái, hang động, biển đảo và văn hóa biên giới; không chỉ “đến để tưởng niệm” mà còn đến để hiểu lịch sử, trân trọng hòa bình, trải nghiệm thiên nhiên, văn hóa và con người; ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch chất lượng cao, tăng liên kết vùng, thu hút doanh nghiệp chiến lược, đồng thời bảo vệ giá trị lịch sử, văn hóa và môi trường; phát huy tối đa lợi thế kỳ quan Phong Nha – Kẻ Bàng, để tạo thành “kinh đô của du lịch khám phá mạo hiểm châu Á”.
Tỉnh cần thay đổi tư duy, tập quán sản xuất nhỏ lẻ, ưu tiên nông nghiệp hàng hóa, hữu cơ, tuần hoàn, thích ứng khí hậu; gắn sản xuất với chế biến, chất lượng, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và thị trường, để người nông dân trở thành chủ thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; nâng cao chất lượng và minh bạch quá trình sản xuất; nâng cao hiệu quả nuôi trồng, chế biến thủy hải sản.
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng 10,6% năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, phải bảo đảm bền vững, dựa trên năng suất, đầu tư hiệu quả và động lực mới; phải có kịch bản điều hành cụ thể theo tháng, quý, ngành, dự án, địa bàn, xác định rõ nguồn lực, điểm nghẽn và trách nhiệm thực hiện.
Đầu tư công phải là động lực dẫn dắt, tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm, kết nối chiến lược; dự án nào chậm phải rõ nguyên nhân, rõ trách nhiệm; cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, kinh tế tư nhân; hỗ trợ nâng cao quản trị, chuyển đổi số, tiếp cận vốn, đất đai, thị trường, lao động kỹ năng, để hình thành những doanh nghiệp khỏe của địa phương, tạo việc làm tốt và đóng góp lâu dài cho tỉnh.
Quảng Trị không thể đi nhanh nếu chỉ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ; cần triển khai thực chất Nghị quyết 57 trong quản trị, sản xuất, dịch vụ công và các ngành kinh tế trọng điểm; hoàn thiện hạ tầng số đến cơ sở, nâng cao kỹ năng số, xây dựng dữ liệu dùng chung về đất đai, doanh nghiệp, đầu tư, quy hoạch, tài sản công và thủ tục hành chính; đổi mới cách làm việc, phục vụ và ra quyết định, giúp người dân, doanh nghiệp làm thủ tục nhanh hơn, minh bạch hơn, ít chi phí hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, chăm lo tốt hơn cho văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và đời sống nhân dân, nhất là vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng còn nhiều khó khăn; phát triển kinh tế phải gắn với phát triển con người, đặt gia đình chính sách, người có công, người nghèo, trẻ em, đồng bào vùng sâu, vùng xa ở trung tâm chính sách.
Tỉnh cần hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng các trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới; tổ chức lại trạm y tế cấp xã nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu; làm sâu sắc hơn công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo thiết thực cho người có công, cựu chiến binh và người dân vùng chịu ảnh hưởng của chiến tranh.
Với vị trí đặc biệt về biên giới, biển đảo và hành lang Đông -Tây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Quảng Trị phải gắn phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh; mọi quy hoạch phải tính đến yêu cầu bảo vệ chủ quyền, an ninh và an toàn xã hội; cần nắm chắc tình hình, xử lý vấn đề từ cơ sở; đấu tranh hiệu quả với ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại, khai thác tài nguyên trái phép, tội phạm công nghệ cao, lợi dụng dân tộc, tôn giáo; tăng cường hợp tác với các địa phương của Lào và đối tác quốc tế, biến biên giới thành không gian giao thương, văn hóa, du lịch, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường.
Về các kiến nghị, đề xuất của tỉnh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ghi nhận và khẳng định, tinh thần chung là Trung ương đồng hành, tháo gỡ, tạo điều kiện tối đa để Quảng Trị phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Quý 1/2026 tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 8,02% so với cùng kỳ, cao hơn kịch bản đề ra 7,43%, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Quảng Trị cũng đã xây dựng kịch bản tăng trưởng cụ thể cho từng quý, với việc xác định các trụ cột chiến lược đóng góp tích cực cho tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng GRDP năm 2026 đạt 10,6% theo chỉ đạo của Chính phủ.
Thu ngân sách trên địa bàn quý I đạt 3.354 tỷ đồng, đạt 26,6% dự toán Trung ương giao; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 14.382 tỷ đồng, đạt 15,2% kế hoạch, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.
Khoảng 14h chiều 24-5, lốc xoáy quét qua các khóm 16B, 19, 20 và 21 thuộc phường Láng Tròn, làm 35 căn nhà bị tốc mái, 3 căn bị sập. Nhiều cây xanh cũng ngã đổ do ảnh hưởng của dông lốc.
Đến khoảng 15h30, lốc xoáy tiếp tục ảnh hưởng đến ấp 2A, xã Phong Thạnh, làm 15 căn nhà hư hỏng. Trong đó, 5 căn bị tốc mái, 10 căn bị thiệt hại một phần. Tổng thiệt hại ước tính khoảng 150 triệu đồng.
Cùng thời điểm, dông lốc tại xã Vĩnh Phước làm 18 căn nhà bị ảnh hưởng, một số trụ điện và cây xanh ngã đổ. Tại khóm 19A, 20 thuộc phường Giá Rai, thêm 20 nhà dân bị ảnh hưởng; nhiều tuyến giao thông bị cản trở do cây xanh đổ ngã. Thiệt hại ban đầu ước tính khoảng 800 triệu đồng.
Sau dông lốc, lực lượng công an, quân sự, an ninh cơ sở cùng các ban, ngành địa phương được huy động hỗ trợ người dân dọn dẹp cây ngã đổ, gia cố nhà cửa, khắc phục hậu quả.
Chính quyền địa phương đang tiếp tục thống kê thiệt hại, triển khai hỗ trợ các hộ dân bị ảnh hưởng sớm ổn định cuộc sống.
Sáng 24.4, với đa số đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội thông qua nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.
Theo nghị quyết, tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 là hơn 8,2 triệu tỉ đồng. Trong đó, vốn ngân sách trung ương là 3,8 triệu tỉ đồng, vốn ngân sách địa phương hơn 4,4 triệu tỉ đồng.
Dự phòng 10% kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương theo từng nguồn vốn để xử lý những vấn đề phát sinh trong kỳ kế hoạch trung hạn theo quy định của pháp luật về đầu tư công và ngân sách nhà nước.
Dự phòng kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2026 - 2030 do Hội đồng nhân dân các cấp quyết định theo quy định của pháp luật về đầu tư công và ngân sách nhà nước.
Nghị quyết cũng phân bổ chi tiết nguồn vốn ngân sách trung ương là 717.000 tỉ đồng, bao gồm: phân bổ cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương 462.973 tỉ đồng; phân bổ cho các chương trình mục tiêu quốc gia 254.027 tỉ đồng.
Với số vốn còn lại chưa phân bổ của kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương hơn 2,7 triệu tỉ đồng, nghị quyết giao Chính phủ triển khai thực hiện trên cơ sở đảm bảo các điều kiện của pháp luật về đầu tư công và các nguyên tắc của nghị quyết này.
Về định hướng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, nghị quyết của Quốc hội nhấn mạnh việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, sớm hoàn thành đưa các công trình vào sử dụng, phát huy hiệu quả thực tế.
Trong đó, tập trung cho các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Ban chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV.
Cùng đó là các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo đột phá thu hút vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài.
Nghị quyết cũng lưu ý lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt huy động các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước, đẩy mạnh hợp tác công tư trong phát triển hạ tầng chiến lược; ưu tiên vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho các vùng động lực, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực chịu ảnh hưởng lớn bởi thiên tai, bão lũ và các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số.
Đến năm 2030, cả nước có tối thiểu 5.000 km đường bộ cao tốc; tập trung đầu tư, xây dựng các trục giao thông đường bộ cao tốc quan trọng; các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế; các cảng hàng không lớn; tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; hệ thống đường sắt đô thị ở Hà Nội, TP.HCM, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế và các cảng biển trung chuyển quốc tế; phấn đấu hoàn thành tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trước năm 2030…
Theo quyết định vừa được UBND TP HCM ban hành, ranh giới cho việc nghiên cứu lập quy hoạch các khu vực TOD xung quanh 10 nhà ga và depot của metro số 2, đoạn Bến Thành - Tham Lương, rộng khoảng 938 ha.
Việc phê duyệt ranh giới không đồng nghĩa toàn bộ phần diện tích này đều phát triển theo mô hình TOD, mà là cơ sở để xác định các vị trí phù hợp bên trong nhằm xây dựng đô thị gắn với đầu mối giao thông công cộng.
Tại hai nhà ga nằm ở trung tâm thành phố gồm Bến Thành và Tao Đàn, ranh giới cho việc lập quy hoạch các khu TOD có tổng diện tích hơn 188 ha. Khu vực này được giới hạn bởi các tuyến: Trương Định, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Trung Trực, Lý Tự Trọng, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Trãi, Cách Mạng Tháng Tám, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học, giáp sông Sài Gòn, Bến Vân Đồn, Võ Văn Kiệt và rạch Bến Nghé.
Đối với các ga Dân Chủ, Hòa Hưng, Lê Thị Riêng, Phạm Văn Hai và Bảy Hiền, ranh giới nghiên cứu lập quy hoạch các khu TOD rộng hơn 265 ha. Nơi này nằm trong hành lang các tuyến Hoàng Văn Thụ, Xuân Diệu, Nguyễn Thái Bình, giáp kênh Nhiêu Lộc, đường Hoàng Sa, Trường Sa, Bà Huyện Thanh Quan, Lý Chính Thắng, Điện Biên Phủ.
Các tuyến khác gồm: giáp đường Tô Hiến Thành, Hồ Bá Kiện, công viên Lê Thị Riêng, đường Bành Văn Trân, Năm Châu, giáp đường Cách Mạng Tháng Tám, Hòa Hưng.
Tại ga Nguyễn Hồng Đào, khu vực nghiên cứu phát triển TOD rộng gần 44 ha, giới hạn bởi các tuyến Cộng Hòa, Đồng Xoài, Trường Chinh, Hoàng Hoa Thám, Đồng Đen, Trương Công Định, Ấp Bắc và Bàu Cát.
Kế đến, khu vực xung quanh ga Bà Quẹo, Phạm Văn Bạch và Tây Thạnh có ranh giới nghiên cứu lập quy hoạch TOD rộng gần 149 ha. Phạm vi này nằm trong hành lang các tuyến Trường Chinh, sân bay Tân Sơn Nhất, đường Phạm Văn Bạch, Trần Thái Tông, Phan Huy Ích, Tây Thạnh, CN2, D15, D10, D16, D9, Chế Lan Viên, hẻm 71, Lê Trọng Tấn; đồng thời bao gồm khu vực giáp tuyến Tân Kỳ Tân Quý, khu công nghiệp và đường CN5.
Khu vực cuối cùng là xung quanh ga và depot Tham Lương, với tổng diện tích gần 293 ha, nằm trong phạm vi các tuyến Tân Thới Nhất, đường số 22, đường số 17, kênh Tham Lương, khu vực giáp kênh 19/5, đường Lê Trọng Tấn và Phan Văn Hớn.
TOD là mô hình phát triển đô thị lấy giao thông công cộng làm trung tâm. Dù cách triển khai có thể khác nhau tùy địa phương, điểm chung của mô hình này là phát triển đa chức năng với mật độ cao, gồm nhà ở cao tầng, trung tâm thương mại, văn phòng, cùng các tiện ích giáo dục, y tế, thể thao... Tất cả được tích hợp quanh các đầu mối giao thông công cộng như ga metro, đảm bảo khả năng kết nối thuận tiện nhất. Mô hình này nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, công trình công cộng, hạn chế ùn tắc, ô nhiễm...
Hiện, chính quyền TP HCM giao Ban Quản lý phát triển đô thị (thuộc Sở Quy hoạch - Kiến trúc) phối hợp đơn vị tư vấn khảo sát hiện trạng, chịu trách nhiệm về tính chính xác trong quá trình lập quy hoạch TOD tại các khu vực trên. Thời gian lập quy hoạch tối đa 4 tháng kể từ ngày phê duyệt ranh giới nghiên cứu.
Metro Bến Thành - Tham Lương dài hơn 11 km, điểm đầu tại ga Bến Thành (quận 1 cũ), điểm cuối tại depot Tham Lương (quận 12 cũ). Trên tuyến bố trí 10 ga ngầm (bao gồm ga Bến Thành), một ga trên cao và một depot. Dự án khởi công hồi tháng 1 năm nay, dự kiến hoàn thành vào năm 2030, hình thành trục vận tải khối lượng lớn kết nối trung tâm với cửa ngõ phía tây bắc thành phố.