Theo nghị quyết, việc phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh được thực hiện trong 10 lĩnh vực thuộc quản lý của Bộ Công Thương gồm: Hóa chất, điện lực, thuốc lá, xăng dầu, thương mại điện tử, thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu, xúc tiến thương mại, hoạt động sở giao dịch hàng hóa và công nghiệp địa phương.
Đáng chú ý nhất trong nghị định này là việc cắt giảm và bãi bỏ nhiều thủ tục, quy định trong lĩnh vực xăng dầu. Cụ thể, không thực hiện các thủ tục hành chính cấp lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu trên địa bàn 2 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.
Thương nhân cũng không phải thực hiện các thủ tục hành chính cấp sửa đổi, bổ sung giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu trên địa bàn 2 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.
Đơn giản hóa một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực xăng dầu gồm: thủ tục cấp, cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu.
Cùng đó là các thủ tục khác như cấp, cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu, thủ tục cấp, cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu, thủ tục cấp, cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu.
Đặc biệt, nhiều điều kiện kinh doanh được cắt, giảm. Bao gồm các điều kiện đối với thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu như việc doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp có cầu cảng chuyên dụng nằm trong hệ thống cảng quốc tế, có kho tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu dung tích tối thiểu 15.000m3, có hệ thống phân phối xăng dầu tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, ít nhất 5 cửa hàng thuộc sở hữu của doanh nghiệp; tối thiểu 40 tổng đại lý.
Thương nhân đầu mối kinh doanh nhiên liệu hàng không không bắt buộc phải có hệ thống phân phối, song phải đáp ứng các điều kiện: có phương tiện vận tải, xe tra nạp nhiên liệu hàng không, có kho tiếp nhận tại sân bay, có phòng thử nghiệm đủ năng lực…
Đối với thương nhân phân phối xăng dầu, các điều kiện kinh doanh được cắt giảm như có hệ thống phân phối xăng dầu. Bao gồm có tối thiểu 5 cửa hàng bán lẻ, có tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc các đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu được cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
Điều kiện đối với đại lý bán lẻ xăng dầu, thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu, các điều kiện được cắt giảm như có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu hoặc thuê với thời hạn thuê từ 5 năm trở lên.
Với cửa hàng bán lẻ, các quy định được cắt giảm như thuộc sở hữu hoặc thuê với thời hạn thuê từ 5 năm trở lên của thương nhân là đại lý, tổng đại lý, thương nhân nhận quyền, thương nhân phân phối, thương nhân đầu mối.
Trường hợp đi thuê cửa hàng bán lẻ xăng dầu, thương nhân đi thuê phải đứng tên tại giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
Cùng đó, nghị định cắt giảm các quy định liên quan tới thiết kế, xây dựng và có trang thiết bị theo đúng quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu thiết kế cửa hàng xăng dầu, bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Sáng 13-5, tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance tổ chức tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68”.
Phát biểu tại tọa đàm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhận định thành tựu lớn nhất của Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư tưởng và định hướng chính sách.
Cụ thể, hàng loạt nghị quyết, văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thực thi, xử lý vướng mắc pháp lý và điều chỉnh quy định theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân.
Ông đánh giá trong giai đoạn đầu triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo ra sự hứng khởi rất lớn trong khu vực kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp kỳ vọng và chờ đợi vào bước đột phá chính sách xuất hiện và tâm lý này vẫn còn hiện hữu.
“Tuy nhiên nếu nhìn kỹ hơn vào thực tế, sự hứng khởi đó dường như tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp lớn”, ông Bình nhận định.
Ông lấy ví dụ hàng loạt dự án quy mô hàng trăm nghìn tỉ đồng của các tập đoàn Vingroup hay Sungroup liên tiếp được khởi công, cho thấy tác động tích cực của chính sách với khu vực doanh nghiệp lớn.
Ở chiều ngược lại, khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức không khí tích cực ban đầu dần thay thế bởi tâm lý lo âu. Điều này xuất phát từ những lo ngại liên quan đến thuế, kiểm tra hàng giả, hàng nhái hay hoạt động thanh tra, kiểm tra.
TS Lê Duy Bình cho biết do hạn chế về thể chế, quy định pháp luật, quá trình triển khai Nghị quyết 68 xuất hiện những phản ứng ngược ngoài mong muốn.
Ông lấy ví dụ chính sách thuế đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn nặng tư duy coi các chủ thể này là “đối tượng quản lý”, thay vì xem họ là đối tác hay khách hàng trong quá trình quản trị quốc gia.
TS Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV, cũng đánh giá hiệu ứng tích cực từ Nghị quyết 68 đang lan tỏa không đồng đều. Ban đầu cộng đồng doanh nghiệp khá hào hứng, nhưng theo thời gian tâm lý tích cực đã giảm dần. Khảo sát của Ban IV cho thấy khoảng 7/10 doanh nghiệp được hỏi vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh.
“Doanh nghiệp lớn vui hơn doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nhỏ vui hơn hộ kinh doanh. Chúng ta cần lan tỏa niềm vui đến toàn bộ nếu không sẽ tạo ra sự méo mó”, ông chia sẻ.
Ông cho rằng cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi tác động được tới lớp doanh nghiệp ở phía dưới, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tạo thuận lợi cho một nhóm doanh nghiệp lớn.
Ông Bùi Thanh Minh cũng lưu ý dư luận đang đặt quá nhiều kỳ vọng vào riêng Nghị quyết 68, trong khi cải cách thể chế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi là quá trình dài hạn, không thể giải quyết chỉ trong vài tháng.
Theo ông Minh, vấn đề cốt lõi nằm ở tư duy thiết kế cải cách. Nếu chỉ nhìn từng vấn đề riêng lẻ mà thiếu góc nhìn tổng thể thì càng cải cách càng không tạo được tác động thực chất, thậm chí còn khiến doanh nghiệp khó khăn hơn.
“Nghị quyết 68 không chỉ hướng tới tăng số lượng doanh nghiệp, mà còn phải nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp”, ông nói.
Ông cho biết sau khi nghị quyết được ban hành, Chính phủ và Quốc hội đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa chính sách. Tuy nhiên nhiều chính sách quan trọng vẫn triển khai chậm. Trong khi áp lực từ thương mại quốc tế, đặc biệt yêu cầu chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn phát triển bền vững, đang tạo sức ép rất lớn lên cộng đồng doanh nghiệp.
TS Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách, cho rằng niềm tin của doanh nghiệp đang bị xói mòn không hẳn do khó khăn thị trường, mà từ các biện pháp can thiệp hành chính và thay đổi chính sách điều hành.
Thực tế, doanh nghiệp và người dân có xu hướng chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản phòng thủ khác. Điều này không đơn thuần là hành vi đầu tư, mà phản ánh tâm lý muốn giữ tài sản trong bối cảnh niềm tin đối với môi trường kinh doanh suy giảm.
Vị chuyên gia cho rằng để thị trường vận hành hiệu quả hơn, điều cần thiết không phải là ban hành thêm thật nhiều quy định hay gia tăng sự hiện diện của cơ quan quản lý, mà là giảm bớt các can thiệp hành chính không cần thiết, tạo ra môi trường ổn định và dễ dự báo hơn cho doanh nghiệp.
Cục Điện lực (Bộ Công Thương) vừa thông tin về giá mua điện bình quân tháng 3 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), công suất khả dụng hệ thống điện toàn quốc tháng 3 và các thông số đầu vào cơ bản của quý I.
Theo đó, giá mua điện bình quân theo báo cáo của EVN trong tháng 3 từ các nhà máy điện công suất trên 30MW, nhập khẩu điện là 1.907,65 đồng/kWh, tăng khoảng 19,9 đồng/kWh so với tháng 2, tương đương tăng khoảng 1,05%.
Hiện nay giá bán lẻ điện bình quân là 2.204,06 đồng/kWh (chưa bao gồm VAT) được áp dụng từ ngày 10/5/2025 đến nay.
Trong quý I, giá than dao động 1,8-2,8 triệu đồng/tấn mua từ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin); giá khí bình quân là 7,9-13,194 USD/trBTU với khí Cà Mau. Giá dầu DO ngày 26/3 là 35.440 đồng/lít và tỷ giá ngoại tệ quy đổi là 26.357 VND/USD.
Trong tháng 3, phụ tải cực đại của hệ thống điện quốc gia là 48.783MW. Nhập khẩu từ Trung Quốc, Lào và chạy dầu tại thời điểm khả dụng của hệ thống là 1.273MW. Công suất dự phòng của hệ thống điện là 3.587MW (gồm cả nguồn nhập khẩu và chạy dầu).
Hiện nay, việc thực hiện cơ chế điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 72/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ chế, thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân.
Theo đó, giá bán lẻ điện bình quân được xem xét điều chỉnh theo định kỳ hàng năm hoặc trong năm, căn cứ biến động chi phí sản xuất và các thông số đầu vào của các khâu trong hệ thống điện.
Nếu giá điện bình quân tính toán giảm từ 1% trở lên so với hiện hành thì được điều chỉnh giảm tương ứng; nếu tăng từ 2% trở lên thì được xem xét điều chỉnh tăng theo các mức quy định (từ dưới 5%, 5-10% và từ 10% trở lên sẽ có thẩm quyền xử lý khác nhau, từ EVN đến Bộ Công Thương và Chính phủ).
Trong năm, giá điện cũng có thể được cập nhật theo quý nếu chi phí đầu vào biến động. Tuy nhiên, việc điều chỉnh phải đảm bảo tối thiểu cách nhau 3 tháng và thực hiện công khai, minh bạch.
Đồ thị VN-Index có phần lớn thời gian giữ trên tham chiếu trong phiên hôm nay. Sau khi thực hiện các lệnh giao dịch giá mở cửa, thị trường vượt 1.846 điểm - mức cao nhất gần một tháng rưỡi qua. Tuy nhiên, áp lực bán chiếm hơn 40% toàn sàn HoSE, đẩy chỉ số chung về sát 1.815 điểm. Chứng khoán nhanh chóng phục hồi và biến động quanh vùng 1.820-1.830 điểm.
Sang buổi chiều, chỉ số chung tiếp tục giao dịch quanh vùng giá kể trên. Nhưng sau 14h, thị trường hạ độ cao, rơi vào trạng thái "xanh vỏ, đỏ lòng". Ngoài ra, một số mã trụ cũng yếu dần, khiến chỉ số chung mất bệ đỡ. Chứng khoán bị nhuộm đỏ khi bước vào phiên ATC, dù số lượng cổ phiếu giữ sắc xanh vẫn nhiều hơn.
Chốt phiên, VN-Index giảm gần 3 điểm về hơn 1.817 điểm. Như vậy, chứng khoán đã dứt mạch tăng 5 phiên liên tiếp.
Toàn sàn có 178 cổ phiếu tăng giá, nhiều hơn số lượng 146 mã giảm. Điều này cho thấy áp lực bán không quá cao khi dòng tiền vẫn tìm đến các cổ phiếu hoặc nhóm mã có câu chuyện hấp dẫn.
Sàn HoSE vẫn ghi nhận 7 cổ phiếu tăng hết biên độ. MWG dẫn đầu nhóm cổ phiếu hỗ trợ nhiều nhất cho VN-Index. Từ gần 10h, cổ phiếu Thế Giới Di Động đã tăng trần, lên 86.900 đồng một đơn vị và giữ đến hết phiên. Thị giá MWG đang ở mức cao nhất khoảng một tháng rưỡi qua.
Tình trạng "trắng" bên bán được ghi nhận liên tục do các lệnh được đưa lên gần như được hấp thụ ngay lập tức. Thanh khoản cổ phiếu Thế Giới Di Động đạt hơn 1.290 tỷ đồng, đứng thứ 3 toàn thị trường. Gần 54% khớp lệnh đến từ bên mua chủ động.
Cùng với MWG, các cổ phiếu bán lẻ cũng có diễn biến tích cực, giúp chỉ số ngành này tăng mạnh nhất toàn thị trường. PNJ tăng 1,9%, DGW là 1,7% và FRT tích lũy 0,7%.
Ba mã "họ Vin" gây áp lực lớn nhất cho chỉ số chung, gồm VHM góp hơn 6 điểm vào mức giảm, VIC hơn 2 điểm và VPL trên 1 điểm.
Cổ phiếu Vinhomes giảm 5,2% về 135.700 đồng. Thanh khoản mã này đứng đầu thị trường, đạt gần 1.296 tỷ đồng, trong đó hơn một nửa khớp lệnh đến từ bên bán chủ động. Còn cổ phiếu Vingroup sụt 0,7% về 187.900 đồng với thanh khoản đạt hơn 1.294 tỷ đồng. Khác với VHM, gần 52% khớp lệnh VIC xuất phát từ bên mua chủ động.
Trong phiên chứng khoán giảm điểm vì nhóm trụ, thanh khoản sàn HoSE cũng đi lùi. Tổng giá trị giao dịch đạt hơn 23.400 tỷ đồng, sụt khoảng 4.500 tỷ so với hôm qua.
Khối ngoại trở lại mua ròng khoảng 110 tỷ đồng, sau hai phiên bán ròng hàng nghìn tỷ trước đó. VIC là cổ phiếu được mua ròng nhiều nhất với gần 315 tỷ đồng, theo sau là MWG với gần 195 tỷ.
Dù có sự điều chỉnh trong phiên, VN-Index tuần này vẫn tăng hơn 67 điểm, tương đương hơn 3,8%. Đây là tuần cải thiện điểm số thứ 4 liên tiếp của chứng khoán.