Theo báo cáo tài chính quý 1-2026, Vietjet ghi nhận kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh thông qua tối ưu hóa khai thác vận hành, mở rộng mạng bay quốc tế, tạo cơ sở vững chắc cho phát triển hệ sinh thái hàng không trong tương lai, với các kết quả kinh doanh ấn tượng:
– Doanh thu hợp nhất: 21.021 tỉ đồng (tăng trưởng 17,1% so với cùng kỳ).
– Lợi nhuận trước thuế hợp nhất: 1.142 tỉ đồng (tăng trưởng 36,5% so với cùng kỳ).
– Lợi nhuận sau thuế hợp nhất: 1.023 tỉ đồng (tăng trưởng mạnh mẽ 59,6% so với cùng kỳ).
Ở cấp độ công ty mẹ, Vietjet đạt:
– Doanh thu: 19.473 tỉ đồng (tăng trưởng 8,7% so với cùng kỳ).
– Lợi nhuận trước thuế: 1.020 tỉ đồng (tăng trưởng 24,5% so với cùng kỳ).
– Lợi nhuận sau thuế: 922 tỉ đồng (tăng trưởng 47% so với cùng kỳ).
Doanh thu và lợi nhuận tiếp tục tăng trưởng tốt nhờ Vietjet tăng cường kiểm soát chi phí vận hành bằng việc tối ưu hóa hiệu suất khai thác, thúc đẩy chuyển đổi số trong vận hành, cùng với việc duy trì đội bay mới và hiện đại, giúp tiết kiệm nhiên liệu góp phần vào hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Nền tảng tài chính vững mạnh
Tại thời điểm 31-3-2026:
– Tổng tài sản của Vietjet: 143.534 tỉ đồng.
– Nợ vay ròng/vốn chủ sở hữu: 2,1 lần.
– Hệ số thanh khoản: 1,5 lần.
Các chỉ số tài chính duy trì trong ngưỡng an toàn của ngành do Vietjet liên tục tăng cường đầu tư tàu bay mới. Trong quý 1, hãng cũng đã đóng góp 1.941 tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước.
Trong quý 1, Vietjet tiếp tục khai thác hiệu quả với 7,2 triệu lượt khách (tăng 5,1% so với cùng kỳ); 39.903 chuyến bay (tăng 3,3% so với cùng kỳ) và vận chuyển được 23.344 tấn hàng hóa.
Hãng tiếp tục mở rộng mạng bay với 5 đường bay kết nối Việt Nam và Trung Quốc trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Trung Quốc, Vietjet hiện khai thác 186 đường bay (45 nội địa, 141 quốc tế).
Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA) đã chính thức gia hạn chứng nhận ISAGO cho hoạt động phục vụ mặt đất của Vietjet tại Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài.
Chứng nhận được áp dụng cho 07 lĩnh vực, gồm: quản lý tổ chức, đào tạo, phục vụ hàng hóa và bưu gửi, phục vụ sân đỗ, phục vụ hành khách, phục vụ hành lý và kiểm soát tải trọng, với thời hạn hiệu lực đến ngày 22-3-2028, khẳng định năng lực quản trị, tổ chức khai thác và kiểm soát an toàn của Vietjet trong hoạt động phục vụ mặt đất theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Chiến lược mở rộng quốc tế tiếp tục là động lực tăng trưởng dài hạn, góp phần đa dạng hóa nguồn doanh thu và giảm phụ thuộc vào thị trường nội địa.
Trong quý 1-2026, Vietjet đẩy mạnh đầu tư đội bay tương lai:
– Đặt hàng Pratt & Whitney trang bị động cơ GTF cho 44 tàu bay Airbus A320neo, với tổng giá trị khoảng 5,4 tỉ USD.
– Ký thỏa thuận tài chính tàu bay cho 6 tàu bay Boeing 737-8, trị giá khoảng 965 triệu USD.
– Ký thỏa thuận tài trợ thuê mua 10 tàu bay Comac C909.
Song song đó, hãng tiếp tục mở rộng phát triển với tầm nhìn dài hạn:
– Là thành viên sáng lập Trung tâm Tài chính Hàng không châu Á – Thái Bình Dương.
– Ký kết với AVIC Cabin Systems hợp tác phát triển các giải pháp nội thất tàu bay hiện đại, hướng tới xây dựng tại Việt Nam một hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ hàng không bền vững.
– Tiên phong ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các giải pháp tối ưu nhiên liệu thông qua hợp tác chiến lược với các đối tác quốc tế như Open Airlines và Safran.
– Đầu tư nguồn nhân lực thông qua Học viện Hàng không Vietjet (VJAA): tổ chức 3.193 khóa học, đào tạo 34.727 học viên trong ba tháng đầu năm; tiếp tục ký kết hợp tác đào tạo với Australia Aviation và Học viện đào tạo bay F Air.
Với sự hỗ trợ của Chính phủ về chính sách giảm thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nhiên liệu bay trước tác động của chiến sự tại Trung Đông, Vietjet mong đợi nhận được chính sách linh hoạt về giá vé trên các đường bay nội địa.
Vietjet tự tin bước vào giai đoạn tăng trưởng mới với việc mở rộng quy mô quốc tế, từ đó thúc đẩy động lực tăng trưởng dài hạn.
Ý kiến được đại diện các hiệp hội, nhà đầu tư đưa ra tại tọa đàm Bảo đảm năng lượng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP HCM do báo Người lao động phối hợp Tổng công ty điện lực TP HCM (EVNHCM) tổ chức, ngày 5/5.
Ông Phan Thanh Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP HCM, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ hay chi phí thiết bị - vốn đã giảm mạnh những năm gần đây - mà ở cơ chế thị trường, đặc biệt là mức giá mua điện dư quá thấp, chưa tạo được động lực tài chính.
Theo ông Lâm, sau giai đoạn bùng nổ với cơ chế giá FIT (FiT 1 và FiT 2) vào các năm 2019-2020, thị trường đã chững lại đáng kể. Các chính sách hiện hành chưa tạo được cú hích đủ mạnh, đặc biệt còn có một số rào cản.
Đầu tiên là thủ tục hành chính và quy trình triển khai còn phức tạp, đặc biệt khi có yếu tố bán điện lên lưới, khiến phần lớn người dân và doanh nghiệp lựa chọn phương án tự tiêu thụ thay vì tham gia sâu hơn vào thị trường điện.
Tiếp đến là thiếu các chính sách khuyến khích mang tính kinh tế rõ ràng. Ở nhiều quốc gia, người dân đầu tư điện mặt trời vì có cơ chế hỗ trợ cụ thể như ưu đãi thuế, tín dụng xanh, hoặc giá điện theo thời gian. Trong khi đó, tại Việt Nam, động lực tài chính hiện nay chưa đủ mạnh để tạo làn sóng đầu tư mới.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Thanh Toàn, đại diện nhóm nhà đầu tư năng lượng tái tạo tại TP HCM, cho rằng ở các khu công nghiệp TP HCM, mái nhà máy sản xuất mới lắp đặt khoảng 20% tiềm năng, còn hộ gia đình tham gia rất ít do bài toán kinh tế chưa khả thi.
"Người dân phát điện vào ban ngày nhưng đi làm, không sử dụng hết; phần điện dư bán lại với giá quá thấp không bù được tiền điện mua vào buổi tối", ông Toàn nói. Trong khi đó, người dân chỉ được bán tối đa 20% công suất lắp đặt thực tế với giá hiện hành chỉ hơn 800 đồng/kWh.
Theo ông, dự kiến sắp tới tỷ lệ bán điện dư lên lưới lên đến 50% cũng là một tín hiệu để phát triển điện mặt trời áp mái. Tuy nhiên, điều quan trọng là giá mua cần hấp dẫn hơn. "Cần có chính sách để giá mua điện dư tiệm cận với giá đầu tư thì mới đủ sức thu hút", ông Toàn nói.
Hiện theo quy định, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu chỉ được bán lên lưới một phần dư với giá điện năng thị trường bình quân năm trước, thay vì cơ chế giá ưu đãi cố định như giai đoạn 2019-2020 (giá mua hiện tại 2.105 đồng/kWh, chưa bao gồm VAT). Giới chuyên môn cho rằng mức này chưa đủ tạo lợi nhuận rõ rệt cho các khoản đầu tư nhỏ lẻ.
Trong khi đó, theo Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030 cả nước đặt mục tiêu khoảng 50% mái nhà công sở và hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, tương đương quy mô 26.000 MW.
Với TP HCM, nơi nhu cầu điện cho tăng trưởng kinh tế, kinh tế số và AI được dự báo tăng nhanh, việc tận dụng hàng triệu mái nhà như những "nhà máy điện nhỏ" được xem là giải pháp quan trọng để bổ sung nguồn điện tại chỗ.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phó giám đốc Sở Công Thương TP HCM, cho biết thành phố hiện có 22.355 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 1.832 MWp, song dư địa phát triển vẫn còn rất lớn ở khu dân cư, thương mại và công nghiệp.
Theo bà Ngọc, TP HCM đang xây dựng một nghị quyết riêng về cơ chế, chính sách hỗ trợ điện mặt trời mái nhà cho hộ dân và doanh nghiệp theo cơ chế đặc thù. Song song đó, thành phố nghiên cứu thêm các giải pháp như tín dụng xanh, vốn vay ưu đãi, mô hình ESCO, hỗ trợ kỹ thuật, số hóa thủ tục và ưu đãi thuế để giảm chi phí đầu tư ban đầu.
Năm 2026, ngành điện TP HCM xây dựng kế hoạch cung cấp điện với mục tiêu đáp ứng mức tăng trưởng điện năng khoảng 5% so với năm trước. Ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc EVNHCMC, cho biết sau khi tiếp nhận thêm địa bàn Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ), quy mô hệ thống điện TP HCM đã tăng lên đáng kể. Công suất cực đại năm 2025 của toàn hệ thống đạt 8.936 MW; công suất đặt các máy biến áp 110kV thuộc sở hữu ngành điện là 13.363 MVA, tương ứng khoảng 12.027 MW với hệ số công suất 0,90; tỷ lệ dự phòng lưới điện khoảng 35%.
Theo ông Kiên, dù hệ thống điện TP HCM sau khi mở rộng địa bàn vẫn đang duy trì mức dự phòng tương đối an toàn, ngành điện cho rằng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng cao trong các năm tới, thành phố vẫn cần đẩy mạnh nguồn điện phân tán tại chỗ. EVNHCMC khuyến khích hộ dân, doanh nghiệp phát triển điện mặt trời mái nhà kết hợp lưu trữ năng lượng nhằm giảm áp lực lưới điện giờ cao điểm và tối ưu chi phí sử dụng điện lâu dài.
Dữ liệu từ S&P Global vừa ghi nhận một cột mốc đáng kinh ngạc trên thị trường năng lượng. Giá dầu Brent giao ngay cho các lô hàng vật lý đã vọt lên 141,36 USD/thùng. Đây là mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
Giá giao ngay vốn phản ánh nhu cầu đối với các lô dầu sẽ được giao nhanh chóng trong vòng 10-30 ngày tới. Việc mức giá này cao hơn tới hơn 32 USD so với hợp đồng tương lai đang phát đi tín hiệu khẩn cấp. Nguồn cung vật lý trên thị trường đang rơi vào trạng thái cực kỳ căng thẳng.
Theo bà Amrita Sen từ công ty tư vấn Energy Aspects, thị trường tài chính đang tạo ra một cảm giác an toàn giả tạo. Những con số hợp đồng tương lai dường như che lấp mức độ khan hiếm thực tế. Áp lực này lớn đến mức đẩy giá dầu diesel tại châu Âu tiến sát mốc 200 USD/thùng.
Đồng tình với góc nhìn này, CEO Chevron là ông Mike Wirth cũng đưa ra lời cảnh báo sắc sảo. Giới đầu tư đang giao dịch dựa trên nhận thức và thông tin hạn chế thay vì thực tế. Những tác động vật lý từ việc gián đoạn chuỗi cung ứng đang lan rộng nhưng chưa được định giá đúng mức.
Vì sao dầu chuẩn Mỹ bứt phá ngoạn mục?
Đóng cửa phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Dow Jones, dầu WTI vọt tăng hơn 11% lên 111,54 USD/thùng. Trong khi đó, dầu Brent khép phiên ở mức 109,03 USD. Sự bứt phá của dầu chuẩn Mỹ đến từ nhu cầu tìm kiếm nguồn cung an toàn, nằm ngoài khu vực Trung Đông.
Yếu tố kỹ thuật cũng góp phần tạo nên hiện tượng này. WTI hiện vẫn giao dịch hợp đồng tháng 5, trong khi dầu Brent đã chuyển sang tháng 6. Giới đầu tư rõ ràng đang định giá rủi ro thiếu hụt nguồn cung trong ngắn hạn ở mức rất cao.
Lời kêu gọi hãy mua dầu từ Mỹ của Tổng thống Donald Trump mới đây càng tiếp thêm sức nóng. Nhu cầu mua những thùng dầu có sẵn ngay lập tức tăng vọt. Điều này xảy ra trong bối cảnh nhiều quốc gia đang chật vật tìm kiếm nhiên liệu hàng không.
Tâm lý thị trường càng căng thẳng khi nút thắt logistics tại eo biển Hormuz chưa được tháo gỡ. Theo AP News và Ngoại trưởng Anh Yvette Cooper, lưu lượng qua tuyến hàng hải huyết mạch này đã rơi tự do. Từ mức 150 tàu mỗi ngày, hiện chỉ còn vỏn vẹn 5 tàu qua lại.
Sức ép từ giá năng lượng cũng bắt đầu ngấm vào nền kinh tế đại chúng. Dữ liệu từ AAA cho thấy giá xăng trung bình tại Mỹ đã tăng hơn 1 USD/gallon chỉ trong một tháng. Trên thị trường chứng khoán, chỉ số S&P 500 cũng ghi nhận mức giảm 4,4% kể từ khi căng thẳng khu vực leo thang.
Phản ứng lại các diễn biến mới, phía Iran cũng nhanh chóng lên tiếng bảo vệ vị thế. Theo The Wall Street Journal, đại diện quân đội nước này bác bỏ các nhận định cho rằng năng lực của họ đang suy yếu. Họ khẳng định những đánh giá như vậy dựa trên thông tin hoàn toàn sai lệch.
Giải pháp "trên giấy" và góc nhìn nhà đầu tư
Đứng trước bài toán nguồn cung, liên minh OPEC+ dự kiến họp vào chủ nhật tới. Tổ chức này đang cân nhắc việc nâng sản lượng thêm 206.000 thùng/ngày. Tuy nhiên, Reuters dẫn lời các nguồn tin nội bộ cho biết đây nhiều khả năng chỉ là mức tăng trên giấy.
Thực tế, dù có bơm thêm dầu, các quốc gia vùng Vịnh cũng khó đưa sản phẩm ra thị trường. Tàu bè hiện không thể lưu thông qua eo biển Hormuz, nơi từng gánh vác 20% nguồn cung toàn cầu. Sự phân bổ công suất dự phòng của OPEC+ lúc này cũng bộc lộ nhiều bất cập.
Các nước như Nga, Kazakhstan hay Oman không bị ảnh hưởng trực tiếp nhưng lại cạn dư địa tăng sản lượng. Ngược lại, nhóm quốc gia vùng Vịnh có sẵn công suất thì lại mắc kẹt vì thiếu tuyến xuất khẩu. Để tự cứu mình, một số nước đang ráo riết tìm đường vòng.
Saudi Arabia đang đẩy mạnh vận chuyển 4,6 triệu thùng/ngày qua đường ống Đông - Tây tới cảng Yanbu. Trong khi đó, UAE cũng tăng cường xuất khẩu qua cảng Fujairah với công suất 1,61 triệu thùng/ngày. Dù vậy, các nỗ lực này vẫn mang tính tình thế, chưa đủ bù đắp khoảng trống khổng lồ.
Dưới góc nhìn đầu tư, rủi ro tăng giá vẫn hiện hữu rõ rệt. Ngân hàng UBS cảnh báo giá dầu hoàn toàn có thể vượt mốc 150 USD/thùng nếu tình trạng gián đoạn kéo dài. Chuyên gia Ryan Sweet từ Oxford Economics cũng dự báo nút thắt này có thể kéo dài hết tháng 4.
"Thị trường đang giao dịch dựa trên thông tin hạn chế thay vì các tác động vật lý thực tế", lời nhận định của CEO Chevron có lẽ là phản ánh chính xác nhất cho bức tranh năng lượng lúc này. Khi những thùng dầu thực vẫn đang mắc kẹt, mọi quyết định của các nhà sản xuất lớn dường như chỉ mang ý nghĩa chiến lược dài hạn thay vì giải tỏa cơn khát trước mắt.
Cập nhật đến đầu giờ sáng ngày 3/4 (giờ Việt Nam), sức nóng trên thị trường năng lượng châu Á vẫn duy trì đà tăng nhẹ, nối tiếp nhịp đập của phiên giao dịch đêm qua. Dầu WTI tiếp tục neo vững chắc trên mốc 111 USD/thùng, trong khi Brent bám sát vùng 109 USD/thùng.
Giới đầu tư toàn cầu hiện đang nín thở chờ đợi những tín hiệu mới nhất từ cuộc họp cuối tuần của OPEC+, cũng như các diễn biến tiếp theo trên tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới.
NFT (token không thể thay thế) đang tăng giá gần đây. Với những ai chỉ nhìn vào giá, thị trường có vẻ đang bùng nổ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào mức độ hoạt động tổng thể, câu chuyện lại khác.
Dẫn dắt đợt tăng này là các bộ sưu tập như Bored Ape Yacht Club (BAYC) và Pudgy Penguins. Giá sàn của chúng - tức mức giá thấp nhất để mua một NFT trong bộ sưu tập - đã tăng hai chữ số trong vài tuần gần đây và token liên quan cũng ghi nhận mức tăng tương tự. Dù vậy, sự phục hồi này diễn ra với số lượng người mua ít hơn đáng kể.
Giá sàn của Pudgy Penguins đã vượt 5 Ether (ETH), tăng hơn 20% trong tuần, với 201 giao dịch và gần 1.000 ETH khối lượng trong 7 ngày qua, hỗ trợ đà tăng. Trong khi đó, giá sàn của BAYC tăng 81% trong 30 ngày, phục hồi mạnh từ mức thấp trước đó.
Giá sàn là một chỉ số quan trọng. Trong một bộ sưu tập NFT, đây là mức giá thấp nhất của một NFT đang được rao bán. Ví dụ, nếu con Pudgy Penguin rẻ nhất đang được niêm yết ở mức 5,38 ETH, đó chính là giá sàn của cả bộ. Khi giá sàn tăng, điều đó thường cho thấy người mua sẵn sàng trả giá cao hơn để tham gia. Ngược lại, khi giá sàn giảm, thường là dấu hiệu cho thấy người nắm giữ đang bán tháo.
Tuy nhiên, đằng sau các con số tăng giá, cấu trúc thị trường lại chỉ ra một bức tranh khác: mức độ tham gia đang thu hẹp. Theo CryptoSlam, tổng doanh số NFT toàn cầu giảm xuống khoảng 175 triệu USD trong tháng 4, sụt mạnh so với mức 304 triệu USD vào tháng 2. Đồng thời, số lượng giao dịch và số người dùng hoạt động đều giảm gần một nửa.
Ngược lại, giá trị trung bình mỗi giao dịch lại tăng mạnh, hơn gấp đôi theo tháng, từ 30,6 USD trong tháng 3 lên 67,38 USD trong tháng 4. Hai dữ liệu này phản ánh cùng một hiện tượng: dòng tiền nhỏ hơn nhưng tập trung vào các giao dịch giá trị lớn, chủ yếu ở những bộ sưu tập "bluechip", thay vì nhu cầu quay trở lại một cách rộng rãi trên toàn thị trường.
Ngay cả trong nhóm bluechip, chất lượng nhu cầu cũng khác nhau. Pudgy Penguins vẫn có số lượng giao dịch cao đi kèm giá tăng, cho thấy hoạt động khá bền vững. Trong khi đó, các bộ như CryptoPunks có khối lượng giao dịch tương tự nhưng số giao dịch ít hơn nhiều, tức chỉ một vài giao dịch lớn đang kéo giá lên.
Các tín hiệu trên toàn thị trường vẫn khá lẫn lộn. Giao dịch wash trading - hành vi mua và bán cùng một tài sản bởi một cá nhân hoặc nhóm thông đồng - vẫn chiếm khoảng 50% tổng khối lượng, theo CryptoSlam. Tổng lợi nhuận giao dịch vẫn âm, cho thấy nhiều người tham gia vẫn đang thua lỗ dù giá đã phục hồi gần đây.
Những dữ kiện trên cho thấy thị trường đang có dấu hiệu ổn định nhưng chưa thực sự mở rộng. Giá tăng nhưng số người tham gia giảm và hoạt động tập trung vào một số ít bộ sưu tập.
Bên cạnh đó, Ether đã tăng khoảng 18% trong tháng qua và Bitcoin cũng tăng gần tương tự. Một phần của đợt tăng NFT thực chất phản ánh xu hướng chung của thị trường tài sản số, khi các tài sản rủi ro tăng giá, kéo theo các bộ sưu tập NFT định giá bằng ETH đi lên cùng.
Sau "cơn sốt" trong giai đoạn 2021-2022, thị trường NFT rơi vào trạng thái giảm nhiệt và tái cấu trúc, với thanh khoản và số người tham gia đều suy giảm. Dù giá ở một số bộ sưu tập lớn vẫn tăng, dòng tiền chủ yếu tập trung vào nhóm "bluechip" thay vì lan rộng. Điều này cho thấy thị trường vẫn tồn tại nhưng thu hẹp hơn, mang tính chọn lọc và ít còn là sân chơi đại chúng.
Theo CoinMarketCap, tổng doanh số bán hàng năm 2025 ghi nhận khoảng 5,63 tỷ USD, giảm 37% so với 8,9 tỷ USD năm 2024. Giá bán trung bình giảm xuống 96 USD từ 124 USD cùng kỳ, đánh dấu sự sụt giảm liên tục so với mức trung bình 400 USD được ghi nhận trong giai đoạn bùng nổ 2021-2022. Sự kết hợp giữa số lượng token tăng, tổng khối lượng bán hàng giảm và giá trung bình thu hẹp cho thấy lĩnh vực này đang hoạt động như một thị trường kém nhiệt.