Theo cơ quan điều tra, từ đầu năm 2026 đến nay, các nghi phạm đã tiêu thụ khoảng 3.600 con heo mắc dịch bệnh (tương đương gần 300 tấn).
Số thịt này được đưa vào các chợ đầu mối, chợ dân sinh và bán cho Công ty TNHH thực phẩm Cường Phát. Công ty này đã cung cấp thực phẩm cho một số trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Ngày 31-3, Hà Nội yêu cầu các trường rà soát, niêm yết công khai nguồn thực phẩm bếp ăn bán trú. Tuy nhiên vấn đề nhiều phụ huynh lo ngại là việc những con heo bệnh đã được tiêu thụ có thể gây ảnh hưởng như thế nào đối với con em mình.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, bác sĩ Lê Văn Thiệu, khoa nhiễm khuẩn tổng hợp, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, cho biết bệnh tả heo châu Phi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do vi rút African Swine Fever Virus (ASFV) gây ra.
Bệnh này lây lan rất nhanh trong đàn heo, bất kể heo nuôi hay heo rừng, với tỉ lệ chết có thể lên tới 100%.
Mặc dù, dịch tả heo châu Phi chỉ lây nhiễm ở loài heo, không có khả năng lây sang người, tuy nhiên thực tế vẫn xảy ra tình trạng người dân mua phải thịt heo bệnh hoặc thịt heo chết không rõ nguồn gốc.
“Nếu không may ăn phải thịt heo nhiễm vi rút nhưng đã được nấu chín kỹ như luộc, xào, nướng thì không quá nguy hiểm. Đây là điểm khác biệt so với một số bệnh khác như lở mồm long móng ở gia súc hay cúm gia cầm H5N1”, bác sĩ Thiệu nêu rõ.
Theo bác sĩ Thiệu, điều đáng lo ngại là thịt heo chết hoặc thịt bệnh thường là môi trường thuận lợi cho nhiều loại vi sinh vật phát triển mạnh, trong đó có vi khuẩn như Salmonella, E.coli hay Listeria.
Khi ăn phải, người tiêu dùng có thể bị rối loạn tiêu hóa với các triệu chứng như tiêu chảy, nôn mửa, sốt cao. Những nhóm đối tượng dễ bị biến chứng nặng nhất là trẻ nhỏ, người già và phụ nữ mang thai.
Không chỉ vi khuẩn, một số loại ký sinh trùng như giun xoắn, sán dây cũng có thể xâm nhập vào cơ thể nếu thịt không được nấu chín hoàn toàn. Chúng có thể gây tổn thương ở cơ, mắt hoặc thậm chí tấn công hệ thần kinh trung ương.
Đặc biệt, thịt heo chết hoặc ôi thiu có thể sinh ra nhiều độc tố như histamine, endotoxin hay mycotoxin. Những độc tố này rất khó bị phá hủy hoàn toàn, kể cả khi nấu ở nhiệt độ 100 độ C.
“Khi ăn phải thịt chứa độc tố, người tiêu dùng có thể bị ngộ độc cấp tính với các biểu hiện như nôn mửa dữ dội, đau bụng, tiêu chảy, sốt cao, tụt huyết áp. Trong những trường hợp nặng, người bệnh có thể bị sốc nhiễm độc, đe dọa tính mạng.
Nếu tiếp xúc lâu dài với lượng nhỏ độc tố, cơ thể cũng dễ bị tổn thương gan, thận, hệ miễn dịch và làm tăng nguy cơ ung thư. Điều đáng lo là những loại thịt chứa độc tố này thường không có dấu hiệu khác thường rõ rệt về màu sắc hay mùi vị, khiến người tiêu dùng dễ chủ quan”, bác sĩ Thiệu cho hay.
Bên cạnh đó, khi heo nhiễm tả châu Phi, sức đề kháng của chúng giảm đi rõ rệt, khiến đàn heo dễ mắc thêm các bệnh lây nhiễm nguy hiểm khác như bệnh tai xanh, cúm, thương hàn, liên cầu khuẩn lợn hay lở mồm long móng.
Trong đó, bệnh liên cầu khuẩn lợn rất dễ lây sang người qua các vết thương hở, vết trầy xước hoặc qua các món ăn tái sống, tiết canh.
Nếu nhiễm liên cầu khuẩn lợn, người bệnh có thể phải đối diện với nguy cơ nhiễm độc tiêu hóa, nhiễm trùng máu, viêm màng não, viêm não, suy đa tạng, phải lọc máu, thở máy, hồi sức tích cực với chi phí điều trị cao và nguy cơ di chứng nặng nề.
Theo ông Nguyễn Duy Thịnh – chuyên gia về công nghệ thực phẩm, nguyên giảng viên Viện Công nghệ sinh học và thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội – người tiêu dùng có thể nhận biết thịt heo bị bệnh qua một số đặc điểm như thịt heo bệnh thường có màu sắc tái nhợt hoặc bầm tím, bị chảy nước, có mùi hôi tanh.
Trên bề mặt da có thể xuất hiện các nốt xuất huyết nhỏ, thớ thịt nhão và không đàn hồi. Khi luộc, nước thịt đục, không có lớp váng mỡ, mùi không thơm.
Ngược lại, thịt heo ngon và an toàn thường có màu đỏ hồng hoặc đỏ sẫm, phần mỡ trắng, chắc, không chảy nước và không có mùi lạ. Khi chạm tay vào thịt khô ráo, có độ đàn hồi tốt và không để lại dấu vết. Khi nấu chín nước thịt trong, có lớp váng mỡ nổi rõ trên bề mặt và mùi thơm đặc trưng.
Tuy nhiên ông Thịnh cũng cho hay một số trường hợp thịt heo bệnh khó nhận biết được bằng mắt thường mà cần được kiểm dịch chặt chẽ.
“Trong quá trình chế biến, cần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, rửa tay sạch sẽ, sử dụng dao và thớt riêng cho thực phẩm sống và chín để tránh lây nhiễm chéo. Đặc biệt không nên ăn các món từ thịt heo sống hoặc tái như tiết canh, nem chua, gỏi thịt”, ông Thịnh khuyến cáo.
8 trong số 13 người ngộ độc ngộ độc cấp khí H₂S tại Thanh Hóa đang được điều trị, theo dõi sức khỏe sát sao tại Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình.
Về mức độ nguy hiểm của loại khí này, tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai, cho biết, thuật ngữ y khoa gọi hiện tượng ngộ độc cấp H₂S liều cao trong không gian kín là "hội chứng búa tạ ở lò mổ".
Người đi vào khu vực có khí độc, hít phải khí này sẽ bất tỉnh, các cơ quan ngừng hoạt động, bị quật ngã gần như ngay lập tức, tỷ lệ tử vong tại hiện trường là cực kỳ lớn. Khí này hấp thu rất nhanh, gần như ngay lập tức vào cơ thể và gây kích ứng cực mạnh lên niêm mạc mắt, hệ hô hấp.
"Rất nhiều người dân và ngay cả một số nhân viên y tế tuyến dưới vẫn lầm tưởng các vụ ngạt hầm biogas, giếng khơi là do khí metan (CH₄). Nhưng thực tế, thủ phạm giết người hàng loạt trong tích tắc chính là khí sunphua hydro (H₂S)", bác sĩ Nguyên lưu ý.
Giám đốc Trung tâm Chống độc lo ngại, ở Việt Nam, các vụ tai nạn đau lòng này xảy ra hàng năm và tái diễn nhiều lần trong các hoàn cảnh như khơi giếng, chui xuống bể chứa, bể rác, bể phân, chất thải, cống, hầm chứa cá ở các tàu biển... dù trung tâm và các cơ quan báo chí đã liên tục cảnh báo, tuyên truyền.
Theo Trung tâm Chống độc, dấu hiệu nhận biết ngộ độc khí H₂S tại hiện trường: nạn nhân bị bất tỉnh rất nhanh ngay sau khi bước vào các không gian khép kín (bể chứa, hầm, giếng, hầm cá, khoang, hốc kín, cống...).
Kết mạc mắt của nạn nhân bị kích ứng, xung huyết.
Dấu hiệu đặc trưng: các vật dụng kim loại trên người nạn nhân (như đồ trang sức, cúc áo, khóa quần, thắt lưng...) bằng đồng, bạc, sắt bị xỉn màu, chuyển đen xám do phản ứng hóa học với khí H₂S.
Khuyến cáo cấp cứu khẩn cấp: tuyệt đối không tự ý lao xuống cứu trợ ngay theo quán tính nếu không có đồ bảo hộ (mặt nạ phòng độc với bình dưỡng khí).
Lập tức mở thông thoáng khí khu vực đó, dùng quạt thổi mạnh hoặc bơm khí để đẩy khí độc ra ngoài và đưa khí sạch vào.
Nếu bắt buộc phải xuống, người cứu hộ phải có trang thiết bị phòng độc lý tưởng (mặt nạ kết hợp bình dưỡng khí).
Hoặc phải buộc dây bảo hiểm chắc chắn vào cơ thể và luôn có đội ngũ ở trên sẵn sàng kéo ngay lên khi thấy có dấu hiệu bất thường.
Biện pháp phòng tránh lâu dài: tuyệt đối không tự ý đi vào các khu vực khép kín, thiếu lưu thông khí như bể chứa, hầm, hang hốc, giếng, cống rãnh sâu hoặc kín.
Nếu bắt buộc phải vào làm việc, bắt buộc phải đeo mặt nạ phòng độc có bình dưỡng khí chuyên dụng.
Hoặc phải thực hiện các biện pháp mở toang, thông thoáng gió toàn diện khu vực đó một thời gian đủ dài, hoặc bơm khí sạch vào đó trước, đo lường an toàn rồi mới được bước vào.
Thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng khác nhau tùy độ tuổi, tình trạng sức khỏe. Trẻ nhỏ dễ mệt mỏi, ngủ nhiều, cáu gắt do nhu cầu năng lượng cao. Thanh thiếu niên có thể chậm phát triển, rối loạn dậy thì, xương yếu và gặp vấn đề học tập, tâm lý.
Thiếu vitamin có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau, phụ thuộc vào loại vitamin bị thiếu và tình trạng sức khỏe. Trong đa số trường hợp, việc điều chỉnh chế độ ăn, bổ sung vitamin có thể giúp giảm nguy cơ tiềm ẩn với sức khỏe. Dưới đây là 7 dấu hiệu có thể cho thấy cơ thể bạn đang thiếu hụt vitamin.
Mệt mỏi và suy nhược
Vitamin D góp phần duy trì sức mạnh của xương, cơ, vì vậy khi thiếu hụt, bạn có thể cảm thấy yếu và thiếu năng lượng.
Vitamin C và hầu hết các vitamin nhóm B (trừ folate - B9) tham gia vào quá trình tạo năng lượng trong tế bào, nên sự thiếu hụt có thể khiến bạn kiệt sức, đồng thời ảnh hưởng đến chuyển hóa và sức khỏe tổng thể.
Thiếu sắt cùng với thiếu vitamin B cũng có thể gây thiếu máu, dẫn đến mệt mỏi và suy nhược do cơ thể không có đủ hồng cầu để vận chuyển oxy.
Da, tóc khô, rụng nhiều
Da, tóc khô là biểu hiện thường gặp khi thiếu vitamin A, nhóm B, C hoặc D. Rụng tóc theo mùa là bình thường nhưng nếu rụng nhiều hoặc kéo dài, có thể liên quan đến thiếu sắt, biotin (vitamin B7) hoặc vitamin D. Nang tóc cần được cung cấp đủ dinh dưỡng để duy trì chu kỳ phát triển bình thường.
Bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để biết nên bổ sung qua ăn uống, thực phẩm chức năng hay dùng ngoài da.
Trầm cảm
Thiếu vitamin có thể liên quan đến trầm cảm, đặc biệt là các vitamin B1, B3, B6, B9, B12, cùng vitamin C và D. Bổ sung có thể hỗ trợ cải thiện triệu chứng, nhưng không thể thay thế thuốc điều trị. Không nên tự ý ngừng thuốc hoặc bổ sung khi chưa tham khảo ý kiến bác sĩ.
Dễ bầm tím hoặc chảy máu
Tình trạng này có thể do rối loạn đông máu, khả năng lành vết thương kém hoặc thiếu collagen - thành phần giúp thành mạch máu bền vững. Thiếu vitamin C và K có thể góp phần gây ra hiện tượng này. Nếu dễ bầm tím hoặc chảy máu, người bệnh nên đi kiểm tra để biết chính xác nguyên nhân.
Chậm lành vết thương
Vết thương lâu lành có thể liên quan đến thiếu nhiều loại vitamin cần thiết cho quá trình hồi phục, như vitamin A, nhóm B, C (khi kết hợp với kẽm và axit amin arginine), vitamin D, K. Vitamin E cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình lành vết thương, do cản trở tổng hợp collagen, giảm hoạt động chống oxy hóa và làm tăng viêm.
Thiếu vitamin có thể gây thay đổi sắc tố da. Da sáng màu bất thường có thể liên quan đến thiếu vitamin D, da sẫm màu hơn có thể do thiếu vitamin B12 hoặc D. Trong khi, thiếu vitamin B6, B9, B12 có thể khiến da nhợt nhạt.
Loét miệng hoặc nứt môi tái diễn
Những vết loét miệng hay nứt ở khóe môi thường bị xem nhẹ, nhưng có thể là dấu hiệu thiếu vitamin nhóm B như B2, B6, B12. Bôi thuốc chỉ giải quyết tạm thời, trong khi nguyên nhân có thể đến từ bên trong cơ thể.
Kali tích tụ nhiều trong máu có thể gây rối loạn nhịp tim, yếu cơ và nhiều biến chứng nguy hiểm. Ngoài kali, người bệnh thận còn cần kiểm soát lượng phốt pho, natri và lượng nước nạp vào cơ thể tùy theo giai đoạn bệnh, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Trái cây vốn là thực phẩm tốt cho sức khỏe vì giàu vitamin, chất xơ và chất chống ô xy hóa. Tuy nhiên, không phải loại trái cây nào cũng phù hợp với người mắc bệnh thận. Một số loại chứa hàm lượng kali cao.
Kali là khoáng chất giúp cơ bắp, thần kinh và tim hoạt động bình thường. Ở người khỏe mạnh, thận sẽ đào thải lượng kali dư thừa qua nước tiểu. Nhưng khi chức năng thận suy giảm, kali có thể tích tụ trong máu và gây tăng kali máu. Vì vậy, nhiều người mắc bệnh thận cần kiểm soát lượng kali trong chế độ ăn hằng ngày.
Tuy nhiên, không phải ai mắc bệnh thận cũng phải kiêng kali nghiêm ngặt. Mức độ hạn chế còn phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, kết quả xét nghiệm máu, thuốc đang dùng và có đang lọc máu hay không.
Chuối, bơ, cam, ổi, dưa lưới và nước dừa là những thực phẩm có hàm lượng kali khá cao nên cần kiểm soát khẩu phần. Ví dụ, một quả chuối trung bình chứa khoảng 422 mg kali, trong khi một quả bơ lớn 200 gram có thể chứa tới gần 1.000 mg kali.
Ngoài ra, trái cây sấy như nho khô, mận khô hay chà là thường có kali cô đặc hơn trái cây tươi do đã bị loại bỏ nước trong quá trình chế biến. Nhóm thực phẩm này cũng chứa nhiều đường tự nhiên, không phù hợp với người mắc bệnh thận kèm tiểu đường.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa người bệnh phải kiêng hoàn toàn các loại trái cây trên. Trong nhiều trường hợp, họ vẫn có thể ăn lượng nhỏ nếu mức kali máu ổn định và có hướng dẫn từ bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng.
Bên cạnh những loại cần hạn chế, vẫn có nhiều loại trái cây phù hợp hơn với người mắc bệnh thận nhờ chứa ít kali hơn. Một số lựa chọn thường được khuyến khích gồm táo, nho, dâu tây, việt quất, cherry, lê, dứa và đào.
Những loại trái cây này vẫn cung cấp vitamin, chất chống ô xy hóa và chất xơ nhưng ít làm tăng kali máu hơn nếu ăn đúng khẩu phần. Dù vậy, người bệnh vẫn cần chú ý lượng ăn mỗi lần.
Ngay cả trái cây ít kali cũng có thể làm tổng lượng kali tăng cao nếu ăn quá nhiều. Cách tốt là lựa chọn loại trái cây phù hợp và ăn với khẩu phần theo hướng dẫn của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng, theo Medical News Today.