Từ 1/5, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) mất đi một trong những thành viên lớn nhất là Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE). Đây là nhà sản xuất dầu thô lớn thứ ba của khối, sau Arab Saudi và Iraq, chiếm khoảng 4% thị phần toàn cầu.
Giới chuyên gia đánh giá tác động từ việc UAE rời OPEC chưa xuất hiện, do eo biển Hormuz vẫn đóng, làm nguồn cung toàn cầu gián đoạn khoảng 10-12 triệu thùng dầu thô mỗi ngày. Tuy nhiên, khi xung đột Trung Đông chấm dứt, không loại trừ cuộc chiến giá dầu sẽ bùng nổ ở vùng Vịnh.
“Một cuộc chiến mới có thể nổ ra trên thị trường dầu mỏ quốc tế, dẫn đến biến động lớn hơn trong những năm tới”, tờ The Guardian bình luận.
Theo ông Michael Tamvakis, Giáo sư về hàng hóa tại Trường Kinh doanh Bayes ở London (Anh), khi dầu được vận chuyển trở lại qua eo biển Hormuz, thị trường sẽ xuất hiện cuộc đua nhằm tối đa hóa sản lượng xuất khẩu để duy trì doanh thu.
OPEC từng giới hạn sản lượng dầu của UAE ở mức 3,2 triệu thùng, trong khi thực tế Abu Dhabi có khả năng sản xuất gần 5 triệu thùng mỗi ngày. Do đó, việc rời khỏi liên minh cho phép họ tăng sản lượng dễ dàng.
Theo ông Michael, Arab Saudi có thể “phản ứng mạnh mẽ” do động thái này đe dọa quyền lợi của họ với tư cách nhà dẫn dắt OPEC. Riyadh được dự báo đẩy mạnh chào bán dầu cho khách châu Á với mức chiết khấu hấp dẫn hơn, đồng thời cạnh tranh trực tiếp để giành lại thị phần sản phẩm lọc dầu tại châu Âu từ UAE.
Arab Saudi và UAE đều có chi phí sản xuất dầu thấp nhất thế giới và nhu cầu thu ngân sách cấp thiết, nhằm chuẩn bị cho nền kinh tế ít carbon hơn trong tương lai. Arab Saudi xuất khẩu dầu nhiều nhất thế giới, nhưng UAE cũng là đối thủ đáng gờm.
Đòn bẩy của UAE là công suất dự phòng còn lớn và khả năng chấp nhận giá dầu thấp nhờ cơ cấu kinh tế đa dạng. Nhà sản xuất này từng giữ sản lượng dưới 3 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2024 theo yêu cầu của OPEC, nhưng có thể tăng lên mức 4,5 đến 6 triệu thùng mỗi ngày khi eo Hormuz mở lại.
Ông David Oxley, chuyên gia kinh tế trưởng về khí hậu và hàng hóa tại Capital Economics, nói UAE đang “rất muốn bơm thêm dầu”, sau khi đầu tư mạnh vào việc mở rộng cơ sở hạ tầng sản xuất những năm gần đây.
Dieter Helm, Giáo sư chính sách kinh tế tại Đại học Oxford, so sánh cuộc chiến giá sắp tới với các cú sụp đổ thị trường dầu mỏ vào những năm 1980 và 2014. Ông nhận định giá dầu có khả năng sẽ “giảm nhanh và sâu hơn khi chiến tranh kết thúc”.
Nhưng cuộc chiến giá thời hậu chiến không phải là câu chuyện tay đôi giữa hai cường quốc dầu mỏ Trung Đông. Trong lúc xung đột khiến nguồn cung của các quốc gia vùng Vịnh thắt chặt, nhà cung ứng khác đang tận dụng thời cơ.
Theo giới phân tích, thời gian đạt thỏa thuận hòa bình càng kéo dài, cơ hội cho Mỹ, Brazil và Guyana tăng thị phần dầu toàn cầu càng lớn. Đồng thời, cú sốc nguồn cung khiến các nền kinh tế tăng tốc giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, góp phần thúc đẩy thị trường dầu bước vào giai đoạn suy giảm sớm hơn.
Do đó, viễn cảnh xuất hiện nhiều nguồn cung mới trong một thế giới ngày càng tiêu thụ ít dầu buộc các nhà sản xuất Trung Đông phải hành động. Họ có khả năng sẽ bơm càng nhiều dầu càng tốt để có ngân sách phục hồi hậu chiến và giành lại vị thế thị trường, khiến giá thấp hơn trong dài hạn.
Kịch bản này đi ngược hoàn toàn với mục tiêu của OPEC, tổ chức được thành lập năm 1960 bởi 5 nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới vào thời điểm đó, gồm Arab Saudi, Iran, Iraq, Kuwait và Venezuela.
OPEC từng nhiều lần dùng chiến lược tăng, giảm sản lượng để bình ổn giá, điển hình là việc cắt giảm nguồn cung chống lại cú sốc dầu đá phiến năm 2014 hay khủng hoảng Covid-19 năm 2020.
Để củng cố thêm quyền lực, tổ chức này phát triển cơ chế hợp tác OPEC và các đồng minh, gọi là OPEC+ vào 2016, với thành viên chủ chốt gồm Nga. Nhờ đó, tổng sản lượng dầu thô của nhóm liên minh này chiếm gần 42% toàn cầu.
Nhưng nội bộ OPEC và OPEC+ không phải lúc nào cũng đạt được thống nhất. Năm 2020, khi Covid bùng phát, Nga từ chối giảm sản lượng khiến giá dầu rơi xuống mức thấp nhất 20 năm. Arab Saudi phát động một cuộc chiến giá ngắn hạn để đáp trả, dẫn đến thỏa thuận cắt giảm 10% nguồn cung toàn cầu.
Bản thân OPEC cũng từng có 16 quốc gia thành viên vào thời kỳ đỉnh cao, nhưng chỉ còn 11, sau khi Ecuador, Indonesia, Qatar, Angola và gần nhất là UAE rời đi. Trong tương lai, các chuyên gia cho rằng nếu UAE rời OPEC dẫn đến các thành viên khác cũng bỏ nhóm, khả năng cạnh tranh về giá còn tăng và sức ảnh hưởng của liên minh này thêm lung lay.
“Mất đi một thành viên cốt lõi ở vùng Vịnh làm suy yếu uy tín của OPEC. Nếu các nước còn lại không thể bù đắp sản lượng của UAE bằng kỷ luật tập thể, việc kiểm soát giá có thể trở nên khó khăn hơn”, Kim Fustier, nhà phân tích cấp cao tại HSBC Investment, nhận định.
"Chúng tôi sẽ không gia hạn giấy phép với dầu Nga", Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết trong một cuộc họp báo tại Washington ngày 15/4. Ông khẳng định không có kế hoạch gia hạn chính sách miễn trừ tạm thời nhằm cho phép các nước mua dầu Nga trên biển.
Thông báo này được đưa ra một ngày sau khi Bộ Tài chính Mỹ cho biết không gia hạn chính sách tương tự với dầu Iran.
Ngày 12/3, trong một bài đăng trên X, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết họ "tạm thời cho phép các nước mua dầu Nga mắc kẹt trên biển" trong 30 ngày. Ông khẳng định biện pháp "ngắn hạn, quy mô hẹp" này chỉ áp dụng với số dầu đang trong quá trình vận chuyển và "không mang lại lợi ích tài chính lớn cho chính phủ Nga".
Một tuần sau, họ tiếp tục tạm dỡ lệnh trừng phạt với những thùng dầu Iran đã được chất lên tàu trước ngày 20/3, có hiệu lực đến 19/4. Cả hai chính sách này đều nhằm xoa dịu cú sốc nguồn cung do chiến sự tại Trung Đông gây ra.
Việc Mỹ và Israel tập kích Iran cuối tháng 2 khiến Tehran đáp trả bằng cách gần như phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến đường thủy chuyên chở khoảng 20% dầu thô và khí hóa lỏng toàn cầu. Nguồn cung đột ngột bị thắt chặt đã đẩy giá lên cao, khiến dầu thô có thời điểm tiến sát 120 USD một thùng - cao nhất 4 năm. Hiện tại, giá về quanh 90 USD, khi nhà đầu tư kỳ vọng vào cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran.
Hôm 7/4, Điện Kremlin cho biết có rất nhiều đối tác ngỏ ý muốn mua dầu Nga. Dựa trên các số liệu thống kê chính thức và nguồn tin trong ngành, Reuters tính toán doanh thu dầu khí tháng 4 của Nga tăng gấp đôi so với tháng 3, từ 327 tỷ ruble lên 700 tỷ ruble (9 tỷ USD).
Dầu Nga bị phương Tây trừng phạt từ năm 2022, sau khi chiến sự tại Ukraine nổ ra. Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và các nước G7 đã cấm nhập khẩu dầu thô và nhiều sản phẩm dầu từ Moskva, đồng thời áp dụng trần giá nhằm hạn chế nguồn thu của nước này từ xuất khẩu năng lượng. Theo đó, các hãng bảo hiểm, vận tải phương Tây chỉ được cung cấp dịch vụ cho dầu Nga nếu giá bán dưới 48 USD. Các tàu chở dầu bị nghi giúp Moskva lách lệnh trừng phạt cũng bị đưa vào danh sách đen.
Ngày 8-5, Dining Brands Group, công ty mẹ của chuỗi gà rán Hàn Quốc BHC, cho biết họ đang tiến hành bước đầu tiên để gia nhập thị trường Việt Nam, thông qua thỏa thuận nhượng quyền tổng với Hao Open Foods (trụ sở tại Singapore).
BHC Chicken là một trong những chuỗi nhà hàng gà rán hàng đầu và phổ biến nhất tại Hàn Quốc. Trên website, chuỗi này cho biết họ đang có hơn 2.300 cửa hàng trên toàn cầu.
Dining Brands Group đánh giá Việt Nam là một trong những thị trường tiêu dùng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á và cũng rất có nhu cầu đối với ẩm thực Hàn Quốc. Chuỗi gà rán BHC theo đó đặt mục tiêu mở cửa hàng tại các thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng, hướng tới mở 50 cửa hàng trong vòng 10 năm tới.
“Thông qua việc tận dụng mạng lưới phân phối và năng lực vận hành của đối tác địa phương, chúng tôi có kế hoạch mở rộng hệ thống cửa hàng một cách ổn định và xây dựng thương hiệu tại thị trường này”, báo Korea Herald dẫn lời CEO Dining Brands Group là ông Song Ho Seop.
Trong bối cảnh các thương hiệu tiêu dùng Hàn Quốc ngày càng được giới trẻ Việt Nam ưa chuộng, BHC cho biết sẽ điều chỉnh thực đơn phù hợp với khẩu vị địa phương nhưng vẫn giữ các món chủ lực như gà Bburinkle (gà rán phủ bột phô mai) và Matcho King (gà rán ướp nước tương) làm điểm nhấn.
Món Matcho King được BHC ra mắt vào năm 2015 và cho đến năm 2025 ghi nhận hơn 40 triệu lần tiêu thụ, mang lại doanh thu gần 800 tỉ won (577 triệu USD) cho chuỗi này.
Thông tin trên được Thủ tướng đưa ra tại phiên thảo luận tổ về sửa đổi các luật thuế ngày 21-4.
Thủ tướng cũng nhấn mạnh việc kịp thời sửa đổi các luật về thuế (gồm Luật Thuế VAT, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân) nhằm giúp hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua những khó khăn, vướng mắc phát sinh trước tác động của biến động giá xăng dầu thời gian qua.
Vì vậy, dù các luật về thuế trên mới được Quốc hội ban hành cuối năm 2025 nhưng yêu cầu sửa đổi là đòi hỏi cấp bách, cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ và Quốc hội. Theo đó, hướng sửa đổi là nâng ngưỡng chịu thuế, như báo cáo của Bộ Tài chính là sẽ nâng mức này với hộ kinh doanh là 1 tỉ đồng/năm, tức là dưới mức thu nhập này sẽ không chịu thuế.
Theo Thủ tướng, việc nâng ngưỡng chịu thuế vừa để giải quyết khó khăn cho hộ kinh doanh nhưng cũng vừa phải tạo thuận lợi, công bằng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc này cũng khuyến khích hộ cá nhân chuyển đổi lên doanh nghiệp vừa và nhỏ nên cũng sẽ điều chỉnh ngưỡng chịu thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
"Chính phủ cũng yêu cầu trình dự thảo nghị định đi kèm với dự thảo luật song do thời gian gấp quá, hiện Bộ Tài chính đang chuẩn bị gấp rút để đảm bảo khi Quốc hội thông qua sẽ có ngay dự thảo nghị định và thông tư hướng dẫn" - Thủ tướng nói thêm.
Phát biểu tại tổ, nhiều đại biểu đồng tình về việc nâng ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó, đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa (Tổng Kiểm toán nhà nước) cho rằng việc hỗ trợ này là động lực, nguồn lực để nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số ngay trong năm 2026 và những năm tới.
Tuy nhiên, hiện trong tờ trình của Chính phủ đề xuất sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân kinh doanh tại luật và giao Chính phủ quy định nhưng lại chưa có con số cụ thể. Vì vậy ông đề nghị Chính phủ bổ sung rõ nội dung này để đánh giá tác động cụ thể khi thực hiện thay đổi ngưỡng chịu thuế.
Cùng đó, đại biểu Nguyễn Đại Thắng - Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội - cho rằng việc nâng ngưỡng chịu thuế lên trên mức 500 triệu đồng/năm sẽ góp phần giảm gánh nặng thuế, nhất là trong bối cảnh chi phí sinh hoạt, đầu vào gia tăng, tạo điều kiện khuyến khích chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp. Từ đó nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của nền kinh tế.
Tuy nhiên, ông Thắng đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về mức trần với doanh thu miễn thuế doanh nghiệp với doanh nghiệp quy mô nhỏ và làm rõ cơ sở xác định ngưỡng doanh thu, cơ chế điều chỉnh trong trường hợp biến động kinh tế lớn. Đồng thời cần xây dựng giải pháp chặt chẽ để hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách để chia nhỏ doanh thu, trốn tránh nghĩa vụ thuế, đảm bảo công bằng.
Đồng tình với việc giao cho Chính phủ quyết ngưỡng doanh thu, song đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) cho rằng Chính phủ cần quy định rõ tiêu chí xác định doanh thu chịu thuế.
Trong đó có yếu tố thời điểm, cơ chế kiểm soát ngay trong dự thảo luật để tránh nguy cơ cố tình chia nhỏ doanh thu, chia tách hoạt động kinh doanh, giữ quy mô "hộ nhỏ" để tránh nghĩa vụ thuế. Việc này cũng để người dân biết được ranh giới ai phải nộp thuế, ai không phải nộp thuế.
Ông Sơn chỉ ra thực tiễn cho thấy khu vực hộ kinh doanh rất lớn, khoảng 6,036 triệu hộ tính đến hết tháng 7-2025. Trong đó hơn 1,9 triệu hộ có đăng ký, riêng bảy tháng đầu năm 2025 có gần 536.200 hộ thành lập mới. Ngành thuế đang đặt trọng tâm năm 2026 là thu hẹp khoảng trống tuân thủ pháp luật thuế đối với hộ kinh doanh cá thể và thương mại điện tử.
hư vậy, nếu thiết kế không chặt thì một mặt nói hỗ trợ tăng trưởng nhưng mặt khác lại có thể khuyến khích phi chính thức hóa nền kinh tế, đi ngược yêu cầu minh bạch và mở rộng cơ sở thuế.
Cùng đó, ông Sơn đồng tình việc mở diện không chịu thuế giá trị gia tăng cho hộ, cá nhân kinh doanh dưới ngưỡng doanh thu là phù hợp. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý việc này có thể làm sai lệch tính cạnh tranh, không khuyến khích các hộ phát triển lên doanh nghiệp, tạo nguồn thu tốt hơn.
Bởi khi đã là doanh nghiệp thì phải kê khai, khấu trừ, hóa đơn, sổ sách chặt chẽ hơn, còn nếu duy trì là hộ dưới ngưỡng thì vừa không chịu thuế giá trị gia tăng vừa giảm áp lực tuân thủ.
"Chính sách này hỗ trợ hộ nhỏ hay đang vô tình tạo vùng an toàn để người kinh doanh không muốn chuyển sang mô hình doanh nghiệp.
Nếu tiếp tục nới bằng luật thuế mà thiếu hàng rào kỹ thuật thì rất dễ tạo ra lợi thế bất cân xứng giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, trong khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 96% số doanh nghiệp và đóng góp trên 50% GDP, tức là chính khu vực được kỳ vọng dẫn dắt tăng trưởng lại có thể bị cạnh tranh bất lợi" - ông Sơn nói.
Cùng với đó, đại biểu Trần Anh Tuấn (TP.HCM) bày tỏ ủng hộ phân cấp cho Chính phủ trong sửa đổi luật thuế nhưng đề nghị cần phải đánh giá tác động rõ ràng.
Trong đó, Chính phủ cần xác định ngưỡng và minh bạch, theo nguyên tắc thực hiện chính sách tài khóa mở rộng. Tức là xác định ngưỡng và mỗi năm điều chỉnh theo mức độ tăng thêm hằng năm, căn cứ tình hình thực tiễn và mức độ lạm phát, tương ứng với mức thu nhập và độ mở, thay vì quy định cứng ngưỡng này.