Nếu có một điều mà các lãnh đạo Mỹ và châu Âu cùng đồng thuận trong giai đoạn quan hệ xuyên Đại Tây Dương đang rạn nứt thì đó là việc châu Âu đã chi quá ít cho năng lực quốc phòng của chính mình trong thời gian quá dài.
Chiến sự Iran và hệ lụy mà nó gây ra ở Trung Đông đã làm bật lên vấn đề này. Trước khi chiến sự nổ ra, châu Âu đã góp phần tham gia nỗ lực hạ nhiệt căng thẳng giữa Mỹ với Iran, thúc đẩy các cuộc đàm phán ở Geneva, Thụy Sĩ. Nhưng họ cuối cùng đã không thể ngăn được Mỹ, Israel phóng tên lửa xuống Tehran chỉ một ngày sau vòng đàm phán thứ ba ở Geneva.
Cuộc chiến đã làm trầm trọng thêm hệ quả của lựa chọn đánh đổi vốn đã vô cùng khó khăn đối với châu Âu giữa việc tăng chi tiêu cho người dân hay ngân sách cho quân đội, thường được biết đến với cái tên kinh điển “bài toán súng và bơ”. Giới chuyên gia nhận định đây sẽ tiếp tục là thách thức chính trị và tài khóa then chốt đối với châu Âu trong những năm tới.
Hầu hết quốc gia châu Âu đã nhận ra rằng họ cần chi nhiều tiền hơn cho “súng” để giảm bớt lệ thuộc quân sự vào Mỹ. Song điều này có thể đồng nghĩa với việc chi ít đi cho “bơ”, cách gọi ẩn dụ cho những lợi ích xã hội như trợ cấp phúc lợi và lương hưu, vì nhiều chính phủ châu Âu đã không còn khả năng vay giá rẻ để chi tiêu thêm.
Việc thay đổi cán cân đó có thể gây đau đớn về cả tài chính lẫn chính trị. Tái vũ trang cấp tốc rất tốn kém. Trong bối cảnh dân số châu Âu đang già hóa, các nước cần chi nhiều hơn cho chăm sóc xã hội chứ không phải cắt giảm. Ngoài ra, các đảng đối lập đang tìm cách thu hút cử tri bằng những lời hứa dân túy, như duy trì chi tiêu lớn cho phúc lợi, làm gia tăng rủi ro chính trị đối với những lãnh đạo làm ngược lại.
Cuộc chiến tại Trung Đông đe dọa chồng chất thêm chi phí lên những chính phủ châu Âu vốn đang rơi vào bế tắc khi họ phải chịu áp lực không nhỏ từ cử tri nhằm giảm bớt nỗi đau do giá dầu tăng vọt, trong khi nền kinh tế đối mặt mức tăng trưởng thấp và nợ cao.
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Thụy Điển Pal Jonson đã cảnh báo rằng nhiều quốc gia châu Âu đang rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.
“Hành trình này lẽ ra phải bắt đầu sớm hơn nhiều”, ông Jonson nói, bất chấp việc Thụy Điển vốn đã bắt đầu sớm hơn hầu hết các nước khác tại khu vực khi tăng mức chi tiêu quân sự tính trên quy mô nền kinh tế lên gần gấp ba lần kể từ năm 2017.
Thế khó của châu Âu
Tình trạng khó khăn hiện nay được gieo mầm từ khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu. Mỹ khi đó đã chi mạnh tay cho quốc phòng của châu Âu, bố trí binh sĩ và vũ khí khắp châu lục.
Nhờ chiếc ô an ninh của Mỹ, các nước châu Âu đã liên tục cắt giảm ngân sách cho “súng”, dành tiền đầu tư vào “bơ” với các dịch vụ phúc lợi trọn đời về y tế, hưu trí cho người dân.
Các đời tổng thống Mỹ như Barack Obama và Joe Biden từng thúc giục các lãnh đạo châu Âu bắt đầu mua thêm “súng”. Nhưng chính ông Trump mới là người khiến thông điệp này trở nên cấp bách hơn. Ông từng bày tỏ ý định rút Mỹ khỏi NATO và không ngừng trách móc các đồng minh châu Âu vì chi tiêu quá ít cho quân đội.
Khi ông Trump quay trở lại Nhà Trắng trong nhiệm kỳ hai, giới chức châu Âu đã phải vội vã đẩy mạnh chi tiêu quân sự. Xét về mặt tài chính, thời điểm diễn ra cuộc chạy đua này hoàn toàn không lý tưởng đối với châu Âu.
Hệ thống lương hưu đáng tự hào của châu Âu vốn được thiết kế cho những xã hội trẻ hơn nhiều, nơi lực lượng lao động đông đảo có thể chi trả cho những người đã nghỉ hưu và sau đó chính họ sẽ được các thế hệ sau phụng dưỡng.
Ngày nay, châu Âu đang già hóa nhanh và hệ thống này không còn khả năng theo kịp.
Tuổi thọ cao hơn đã làm tăng khoảng thời gian người già nhận lương hưu, trong khi tỷ lệ sinh giảm đồng nghĩa với việc có ít lao động trẻ hơn. Hệ quả là chi phí lương hưu tăng lên, trong khi các nền kinh tế châu Âu không tăng trưởng đủ nhanh để tăng nguồn thu thuế nhằm chi trả cho các khoản đó.
Để bù đắp khoảng cách này và hỗ trợ những khoản chi tiêu quân sự mới, các chính phủ phải tăng thuế, cắt giảm phúc lợi xã hội, chào đón lao động nhập cư để đóng thuế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc vay tiền. 3 lựa chọn đầu tiên thường không được cử tri ủng hộ. Việc vay nợ thêm ngày càng trở nên đắt đỏ và đôi khi không thực sự là một lựa chọn khả thi. Chỉ Mỹ, quốc gia duy trì mức vay nợ tương đối thấp, hiện mới có thể mở một đợt vay lớn để tái xây dựng quân đội.
“Ngân sách của Italy, Tây Ban Nha và Pháp hiện khó đáp ứng gần như bất kỳ chương trình chi tiêu lớn mới nào”, Christoph Trebesch, nhà kinh tế tại Đại học Kiel ở Đức, nhận xét.
Theo giới quan sát, đối với hầu hết các quốc gia châu Âu, những con số tính toán về ngân sách hiện tại thực sự gây nản lòng. Pháp là một ví dụ điển hình.
Các nhà nghiên cứu của chính phủ Pháp ước tính họ sẽ cần chi 3,5% sản lượng kinh tế để cải thiện đáng kể năng lực quốc phòng. Để chi trả cho khoản phí trên, Pháp sẽ cần tăng gần 10% tổng thu từ thuế VAT quốc gia trong 5 năm tới hoặc tăng gần 10% thuế tài sản đánh vào nhóm siêu giàu.
Việc huy động vốn thông qua cắt giảm chi tiêu thậm chí còn khó khăn hơn. Chi tiêu phúc lợi chiếm khoảng 1/3 sản lượng kinh tế hàng năm của Pháp. Công chúng hiếm khi đồng thuận với việc cắt giảm khoản này, đặc biệt là nếu nó đồng nghĩa với việc cải tổ hệ thống lương hưu, vốn chiếm gần 50% chi phí.
Các đảng cực hữu trên khắp châu Âu, trong đó có đảng Tập hợp Quốc gia (RN) ở Pháp và đảng Lựa chọn khác cho nước Đức (AfD), đã lôi kéo những cử tri thuộc tầng lớp lao động một phần bằng cách phản đối cắt giảm lương hưu. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức Friedrich Merz đều từng đối mặt làn sóng phản kháng mạnh mẽ trước nỗ lực thay đổi chương trình phúc lợi xã hội.
Các chương trình chi tiêu khác cũng đang bắt đầu eo hẹp dần, kể cả những chương trình hỗ trợ và phát triển mà các quốc gia châu Âu thường dùng để giúp đỡ những nước nghèo.
“Ngân sách công của chúng ta đang bị thu hẹp”, Bộ trưởng Phát triển Đức Reem Alabali Radovan cho hay, thêm rằng các nhà hoạch định chính sách sẽ phải tìm ra những cách sáng tạo để cải thiện viện trợ bởi “nó sẽ còn thu hẹp hơn nữa”.
Cuộc chiến tại Iran mang đến những thách thức mới và có nguy cơ lan rộng. Xung đột đã làm tắc nghẽn lưu thông tàu dầu qua eo biển Hormuz, khiến giá dầu thế giới tăng vọt. Khắp châu Âu, người dân đang quyết liệt kêu gọi các nhà lập pháp hỗ trợ giá xăng dầu.
Nếu cú sốc dầu mỏ kéo dài và gây ra tổn thương kinh tế sâu sắc như một số chuyên gia dự báo, chính phủ các nước châu Âu sẽ chịu áp lực phải chi tiêu nhiều hơn hoặc cắt giảm thuế để cố gắng khôi phục tăng trưởng.
Chiến lược đó chỉ hiệu quả nếu có thể tăng nợ vay mà không gặp phải khủng hoảng tài chính. Song nhiều chuyên gia lo ngại châu Âu nhiều khả năng sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng như vậy.
“Tình trạng này có thể kéo dài bao lâu trước khi thị trường có phản ứng”, Beata Javorcik, nhà kinh tế trưởng tại Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu, đặt câu hỏi. “Khủng hoảng thường ập đến muộn hơn bạn nghĩ, nhưng một khi đã nổ ra, nó diễn biến nhanh hơn nhiều so với hình dung”.
Phía sau kết quả tưởng như bế tắc đó là một tiến trình ngoại giao kéo dài hơn 20 giờ, với những khoảnh khắc tiến rất gần đến thỏa thuận trước khi sụp đổ. Những gì diễn ra trong "vùng đàm phán khép kín" tại thủ đô Pakistan cho thấy rõ mức độ phức tạp, thiếu tin tưởng và những ranh giới đỏ khó dung hòa giữa hai đối thủ lâu năm.
Ngày 11-4, thủ đô Islamabad của Pakistan bước vào tình trạng an ninh nghiêm ngặt trước thềm đàm phán. Hơn 10.000 nhân viên an ninh được triển khai, các tuyến đường bị phong tỏa, trong khi khách sạn Serena - nơi diễn ra cuộc gặp - được dọn trống hoàn toàn và biến thành một khu vực kiểm soát chặt chẽ.
Theo Hãng tin Reuters, hai phái đoàn đến nơi theo cách thức kín đáo: phía Iran hạ cánh vào đêm muộn, còn phía Mỹ đến vào ngày hôm sau.
Bên trong khách sạn Serena, không gian được chia thành ba khu riêng biệt: khu của Mỹ, khu của Iran và khu trung gian dành cho các cuộc gặp có sự tham gia của phía Pakistan. Điện thoại bị cấm trong phòng họp chính, buộc các quan chức phải ra ngoài để liên lạc về nước.
Ngay từ đầu, cuộc đàm phán đã mang tính đối đầu giữa hai cách tiếp cận: phía Mỹ theo đuổi "hòa bình thông qua sức mạnh", trong khi Iran nhấn mạnh bằng mọi giá sẽ "kháng cự trong danh dự".
Tehran đặt ra các điều kiện rõ ràng: triển vọng hòa bình chỉ có thể xảy ra nếu vấn đề ngừng bắn tại Lebanon được giải quyết và các tài sản bị đóng băng của Iran ở nước ngoài được giải phóng.
Trong khi đó, Washington tập trung vào các mục tiêu cốt lõi như chấm dứt chương trình hạt nhân của Iran và mở lại eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng toàn cầu.
Dù tồn tại khác biệt sâu sắc, chỉ vài giờ sau khi hai bên đến nơi, các cuộc tiếp xúc trực tiếp vẫn được khởi động. Đây được xem là bước "tan băng" quan trọng sau nhiều năm đối thoại gián tiếp của hai nước.
Các cuộc đàm phán kéo dài 21 giờ đồng hồ, được mô tả là "liên tục nhưng không đồng đều". Phiên đầu tiên diễn ra nhanh chóng, sau đó là những khoảng nghỉ ngắn, nhưng trao đổi vẫn tiếp tục không chính thức.
Nhiều vòng đàm phán nối tiếp, các bản dự thảo được trao đổi, lập trường được nhắc lại trong khi các đoàn liên tục liên lạc về nước để xin chỉ đạo.
Theo các nguồn tin, tiến triển đạt được theo từng phần nhỏ. Bốn nguồn tin cho biết có thời điểm các cuộc đối thoại tiến gần đến một thỏa thuận khung, nhưng cuối cùng đổ vỡ do bất đồng về chương trình hạt nhân, eo biển Hormuz và lượng tài sản mà Iran muốn tiếp cận.
Hai nguồn tin cấp cao từ Iran mô tả bầu không khí "nặng nề và thiếu thiện chí", cho biết dù Pakistan cố gắng làm dịu tình hình, cả hai bên đều không thể hiện ý muốn giảm căng thẳng. Có thời điểm các bên rời phòng, tranh cãi lớn tiếng, trước khi quay lại tiếp tục đàm phán.
Theo các nguồn tin, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đã lớn tiếng khi các bên thảo luận về những cam kết đảm bảo hậu chiến: "Làm sao chúng tôi có thể tin các ông khi trong cuộc gặp ở Geneva trước đó, các ông nói Mỹ sẽ không tấn công trong khi ngoại giao vẫn đang diễn ra?".
Thực tế, Mỹ và Israel đã tổ chức tấn công vào Iran chỉ hai ngày sau khi diễn ra vòng đàm phán tại Geneva hôm 26-2.
Đến sáng sớm ngày 12-4 theo giờ địa phương, bầu không khí có phần cải thiện và đã có đề xuất kéo dài đàm phán sang ngày thứ hai, và phía Iran sẵn sàng ở lại. Tuy nhiên, phía Mỹ quyết định kết thúc cuộc gặp, khiến tiến trình dừng lại đột ngột.
Khi công bố kết quả, Phó tổng thống Mỹ JD Vance thừa nhận hai bên "đã có những trao đổi thực chất" nhưng chưa đạt được thỏa thuận. Mỹ cho biết đã đưa ra "đề xuất cuối cùng và tốt nhất", trong khi Iran cho rằng lập trường của Washington là quá mức và thiếu thiện chí.
Dù vậy, cả hai phía đều không xem đây là kết thúc. Tiến trình đối thoại vẫn được tiếp tục, trong khi Iran nhấn mạnh đây là "một quá trình" và đã đặt nền móng cho các cuộc trao đổi trong tương lai.
Do đó, dù cánh cửa đàm phán đã đóng lại, nhưng nó vẫn chưa hề bị khóa.
Sáng 1-6, sau lễ đón chính thức và hội đàm tại Phủ Tổng thống (Điện Malacanang) ở Manila, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã cùng gặp gỡ báo chí, chứng kiến việc trao một số văn kiện hợp tác giữa hai bên.
Trước đông đảo báo chí hai nước, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. nhấn mạnh chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm "có ý nghĩa lịch sử" và sự hiện diện của nhà lãnh đạo Việt Nam là minh chứng mạnh mẽ cho tình hữu nghị giữa hai quốc gia.
"Chuyến thăm lần này càng có ý nghĩa lớn lao hơn nữa khi chúng ta chính thức nâng tầm quan hệ song phương lên Đối tác chiến lược tăng cường, đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và đánh dấu một thập kỷ hợp tác hiệu quả trong khuôn khổ Đối tác chiến lược hiệu quả.
Việc nâng cấp này khẳng định vị thế đặc biệt và lâu dài của Việt Nam - Đối tác chiến lược duy nhất của Philippines tại Đông Nam Á", Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. khẳng định.
Nhấn mạnh Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ 11 của Philippines, Tổng thống Philippines khẳng định hai bên đặt mục tiêu kim ngạch thương mại sớm vượt mốc 10 tỉ USD. Hai nước cam kết tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư hai chiều, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến chế tạo, công nghệ xanh và kinh tế số.
Nông nghiệp tiếp tục là nền tảng quan trọng của Đối tác chiến lược tăng cường. Hai bên sẽ mở ra các kênh hợp tác mới trong thương mại nông sản, chế biến hải sản và nghiên cứu khoa học chung nhằm xây dựng nền nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực cho nhân dân hai nước.
"Cuộc trao đổi hôm nay đã làm rõ một chân lý quan trọng: Đối tác chiến lược tăng cường không chỉ phản ánh lợi ích song phương mà còn xác định rõ vị trí Philippines và Việt Nam là những điểm tựa vững chắc cho hòa bình, đổi mới sáng tạo, năng động và tăng trưởng bền vững trong ASEAN cũng như khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương", Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. nhấn mạnh.
Phát biểu tại cuộc gặp báo chí, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định việc nâng tầm quan hệ song phương dựa trên cơ sở quan hệ hữu nghị tốt đẹp, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân hai nước.
Với khuôn khổ quan hệ mới, hai bên sẽ tập trung đẩy mạnh hợp tác trên một số lĩnh vực trọng điểm.
Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị, củng cố nền tảng chiến lược vững chắc cho quan hệ hai nước; duy trì tiếp xúc cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh, cũng như duy trì tham vấn về các vấn đề khu vực và quốc tế chiến lược. Bên cạnh đó, tăng tính bổ trợ lẫn nhau về định hướng phát triển; phát huy tối đa và duy trì triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương.
Thứ hai, củng cố và mở rộng hợp tác an ninh - quốc phòng, hợp tác trên biển và đại dương; thiết lập và triển khai mạnh mẽ các cơ chế hợp tác; duy trì trao đổi đoàn cấp cao quốc phòng - an ninh.
Tăng cường chia sẻ thông tin và đẩy mạnh hợp tác giữa các lực lượng thực thi pháp luật để phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có lừa đảo qua mạng, di cư bất hợp pháp, buôn bán người, đánh bạc, lừa đảo tài chính, lao động và cư trú bất hợp pháp.
Thêm vào đó, xử lý các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, không để bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng lãnh thổ của nước này để hoạt động chống phá nước kia.
Thứ ba, tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, mang lại lợi ích thực chất cho nhân dân và sự phát triển của mỗi nước. Trong đó, tăng cường kết nối doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp hai nước đầu tư sang nhau trong các lĩnh vực ưu tiên như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng lượng, đầu tư chiều sâu vào sản xuất và các sáng kiến kinh tế xanh.
Thứ tư, thúc đẩy hợp tác thực chất trong một số lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng lực chế biến thực phẩm, tăng cường chuỗi cung ứng để nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững trong bối cảnh thách thức toàn cầu.
Thêm vào đó, thúc đẩy hợp tác kết nối hạ tầng cứng và chuyển đổi số, mở rộng hợp tác văn hóa, giao lưu nhân dân, giáo dục, du lịch và lao động.
Thứ năm, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, củng cố đoàn kết nội khối ASEAN, duy trì vai trò trung tâm của ASEAN, đặc biệt trong năm Philippines đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2026.
Hai bên cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN và các nguyên tắc bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.
Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng, cam kết duy trì môi trường hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không tại Biển Đông; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.
"Tôi tin tưởng rằng với quyết tâm và tầm nhìn chung, Việt Nam và Philippines sẽ đưa quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đồng thời góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác, thịnh vượng và phát triển của khu vực và trên thế giới", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ.