Nếu có một điều mà các lãnh đạo Mỹ và châu Âu cùng đồng thuận trong giai đoạn quan hệ xuyên Đại Tây Dương đang rạn nứt thì đó là việc châu Âu đã chi quá ít cho năng lực quốc phòng của chính mình trong thời gian quá dài.
Chiến sự Iran và hệ lụy mà nó gây ra ở Trung Đông đã làm bật lên vấn đề này. Trước khi chiến sự nổ ra, châu Âu đã góp phần tham gia nỗ lực hạ nhiệt căng thẳng giữa Mỹ với Iran, thúc đẩy các cuộc đàm phán ở Geneva, Thụy Sĩ. Nhưng họ cuối cùng đã không thể ngăn được Mỹ, Israel phóng tên lửa xuống Tehran chỉ một ngày sau vòng đàm phán thứ ba ở Geneva.
Cuộc chiến đã làm trầm trọng thêm hệ quả của lựa chọn đánh đổi vốn đã vô cùng khó khăn đối với châu Âu giữa việc tăng chi tiêu cho người dân hay ngân sách cho quân đội, thường được biết đến với cái tên kinh điển “bài toán súng và bơ”. Giới chuyên gia nhận định đây sẽ tiếp tục là thách thức chính trị và tài khóa then chốt đối với châu Âu trong những năm tới.
Hầu hết quốc gia châu Âu đã nhận ra rằng họ cần chi nhiều tiền hơn cho “súng” để giảm bớt lệ thuộc quân sự vào Mỹ. Song điều này có thể đồng nghĩa với việc chi ít đi cho “bơ”, cách gọi ẩn dụ cho những lợi ích xã hội như trợ cấp phúc lợi và lương hưu, vì nhiều chính phủ châu Âu đã không còn khả năng vay giá rẻ để chi tiêu thêm.
Việc thay đổi cán cân đó có thể gây đau đớn về cả tài chính lẫn chính trị. Tái vũ trang cấp tốc rất tốn kém. Trong bối cảnh dân số châu Âu đang già hóa, các nước cần chi nhiều hơn cho chăm sóc xã hội chứ không phải cắt giảm. Ngoài ra, các đảng đối lập đang tìm cách thu hút cử tri bằng những lời hứa dân túy, như duy trì chi tiêu lớn cho phúc lợi, làm gia tăng rủi ro chính trị đối với những lãnh đạo làm ngược lại.
Cuộc chiến tại Trung Đông đe dọa chồng chất thêm chi phí lên những chính phủ châu Âu vốn đang rơi vào bế tắc khi họ phải chịu áp lực không nhỏ từ cử tri nhằm giảm bớt nỗi đau do giá dầu tăng vọt, trong khi nền kinh tế đối mặt mức tăng trưởng thấp và nợ cao.
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Thụy Điển Pal Jonson đã cảnh báo rằng nhiều quốc gia châu Âu đang rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.
“Hành trình này lẽ ra phải bắt đầu sớm hơn nhiều”, ông Jonson nói, bất chấp việc Thụy Điển vốn đã bắt đầu sớm hơn hầu hết các nước khác tại khu vực khi tăng mức chi tiêu quân sự tính trên quy mô nền kinh tế lên gần gấp ba lần kể từ năm 2017.
Thế khó của châu Âu
Tình trạng khó khăn hiện nay được gieo mầm từ khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu. Mỹ khi đó đã chi mạnh tay cho quốc phòng của châu Âu, bố trí binh sĩ và vũ khí khắp châu lục.
Nhờ chiếc ô an ninh của Mỹ, các nước châu Âu đã liên tục cắt giảm ngân sách cho “súng”, dành tiền đầu tư vào “bơ” với các dịch vụ phúc lợi trọn đời về y tế, hưu trí cho người dân.
Các đời tổng thống Mỹ như Barack Obama và Joe Biden từng thúc giục các lãnh đạo châu Âu bắt đầu mua thêm “súng”. Nhưng chính ông Trump mới là người khiến thông điệp này trở nên cấp bách hơn. Ông từng bày tỏ ý định rút Mỹ khỏi NATO và không ngừng trách móc các đồng minh châu Âu vì chi tiêu quá ít cho quân đội.
Khi ông Trump quay trở lại Nhà Trắng trong nhiệm kỳ hai, giới chức châu Âu đã phải vội vã đẩy mạnh chi tiêu quân sự. Xét về mặt tài chính, thời điểm diễn ra cuộc chạy đua này hoàn toàn không lý tưởng đối với châu Âu.
Hệ thống lương hưu đáng tự hào của châu Âu vốn được thiết kế cho những xã hội trẻ hơn nhiều, nơi lực lượng lao động đông đảo có thể chi trả cho những người đã nghỉ hưu và sau đó chính họ sẽ được các thế hệ sau phụng dưỡng.
Ngày nay, châu Âu đang già hóa nhanh và hệ thống này không còn khả năng theo kịp.
Tuổi thọ cao hơn đã làm tăng khoảng thời gian người già nhận lương hưu, trong khi tỷ lệ sinh giảm đồng nghĩa với việc có ít lao động trẻ hơn. Hệ quả là chi phí lương hưu tăng lên, trong khi các nền kinh tế châu Âu không tăng trưởng đủ nhanh để tăng nguồn thu thuế nhằm chi trả cho các khoản đó.
Để bù đắp khoảng cách này và hỗ trợ những khoản chi tiêu quân sự mới, các chính phủ phải tăng thuế, cắt giảm phúc lợi xã hội, chào đón lao động nhập cư để đóng thuế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc vay tiền. 3 lựa chọn đầu tiên thường không được cử tri ủng hộ. Việc vay nợ thêm ngày càng trở nên đắt đỏ và đôi khi không thực sự là một lựa chọn khả thi. Chỉ Mỹ, quốc gia duy trì mức vay nợ tương đối thấp, hiện mới có thể mở một đợt vay lớn để tái xây dựng quân đội.
“Ngân sách của Italy, Tây Ban Nha và Pháp hiện khó đáp ứng gần như bất kỳ chương trình chi tiêu lớn mới nào”, Christoph Trebesch, nhà kinh tế tại Đại học Kiel ở Đức, nhận xét.
Theo giới quan sát, đối với hầu hết các quốc gia châu Âu, những con số tính toán về ngân sách hiện tại thực sự gây nản lòng. Pháp là một ví dụ điển hình.
Các nhà nghiên cứu của chính phủ Pháp ước tính họ sẽ cần chi 3,5% sản lượng kinh tế để cải thiện đáng kể năng lực quốc phòng. Để chi trả cho khoản phí trên, Pháp sẽ cần tăng gần 10% tổng thu từ thuế VAT quốc gia trong 5 năm tới hoặc tăng gần 10% thuế tài sản đánh vào nhóm siêu giàu.
Việc huy động vốn thông qua cắt giảm chi tiêu thậm chí còn khó khăn hơn. Chi tiêu phúc lợi chiếm khoảng 1/3 sản lượng kinh tế hàng năm của Pháp. Công chúng hiếm khi đồng thuận với việc cắt giảm khoản này, đặc biệt là nếu nó đồng nghĩa với việc cải tổ hệ thống lương hưu, vốn chiếm gần 50% chi phí.
Các đảng cực hữu trên khắp châu Âu, trong đó có đảng Tập hợp Quốc gia (RN) ở Pháp và đảng Lựa chọn khác cho nước Đức (AfD), đã lôi kéo những cử tri thuộc tầng lớp lao động một phần bằng cách phản đối cắt giảm lương hưu. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức Friedrich Merz đều từng đối mặt làn sóng phản kháng mạnh mẽ trước nỗ lực thay đổi chương trình phúc lợi xã hội.
Các chương trình chi tiêu khác cũng đang bắt đầu eo hẹp dần, kể cả những chương trình hỗ trợ và phát triển mà các quốc gia châu Âu thường dùng để giúp đỡ những nước nghèo.
“Ngân sách công của chúng ta đang bị thu hẹp”, Bộ trưởng Phát triển Đức Reem Alabali Radovan cho hay, thêm rằng các nhà hoạch định chính sách sẽ phải tìm ra những cách sáng tạo để cải thiện viện trợ bởi “nó sẽ còn thu hẹp hơn nữa”.
Cuộc chiến tại Iran mang đến những thách thức mới và có nguy cơ lan rộng. Xung đột đã làm tắc nghẽn lưu thông tàu dầu qua eo biển Hormuz, khiến giá dầu thế giới tăng vọt. Khắp châu Âu, người dân đang quyết liệt kêu gọi các nhà lập pháp hỗ trợ giá xăng dầu.
Nếu cú sốc dầu mỏ kéo dài và gây ra tổn thương kinh tế sâu sắc như một số chuyên gia dự báo, chính phủ các nước châu Âu sẽ chịu áp lực phải chi tiêu nhiều hơn hoặc cắt giảm thuế để cố gắng khôi phục tăng trưởng.
Chiến lược đó chỉ hiệu quả nếu có thể tăng nợ vay mà không gặp phải khủng hoảng tài chính. Song nhiều chuyên gia lo ngại châu Âu nhiều khả năng sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng như vậy.
“Tình trạng này có thể kéo dài bao lâu trước khi thị trường có phản ứng”, Beata Javorcik, nhà kinh tế trưởng tại Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu, đặt câu hỏi. “Khủng hoảng thường ập đến muộn hơn bạn nghĩ, nhưng một khi đã nổ ra, nó diễn biến nhanh hơn nhiều so với hình dung”.
Ngày 28-4, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) bất ngờ thông báo sẽ rời khỏi Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và liên minh mở rộng OPEC+ từ ngày 1-5, chấm dứt gần 60 năm là thành viên của OPEC.
Động thái này được cho là sẽ tạo cú sốc cho thị trường dầu mỏ toàn cầu, trong bối cảnh thị trường này đang bị rung chuyển mạnh bởi cuộc chiến Mỹ - Israel với Iran ở Trung Đông, theo Đài CNN.
OPEC là một tổ chức liên chính phủ được thành lập vào năm 1960 và có trụ sở tại Vienna (Áo), hoạt động với mục tiêu điều phối và thống nhất chính sách dầu mỏ giữa các nước thành viên.
Vào thời điểm thành lập, thị trường dầu mỏ toàn cầu bị chi phối bởi một nhóm các công ty dầu khí phương Tây quyền lực (được gọi là Seven Sisters).
Mục tiêu chính của các nước sáng lập OPEC là khẳng định chủ quyền với tài nguyên thiên nhiên của mình, đảm bảo giá dầu công bằng và ổn định cho các nước sản xuất, đồng thời duy trì nguồn cung đều đặn cho các nước tiêu thụ, theo Đài Al Jazeera.
Hiện nay ngoài UAE, OPEC có 12 thành viên, bao gồm Algeria, Cộng hòa Congo, Equatorial Guinea, Gabon, Iran, Iraq, Kuwait, Libya, Nigeria, Saudi Arabia và Venezuela.
Kể từ năm 2016, OPEC cũng hợp tác với các nước như Nga, Azerbaijan, Kazakhstan, Bahrain, Brunei, Malaysia, Mexico, Oman, Nam Sudan và Sudan thông qua khuôn khổ OPEC+, nâng tổng sản lượng lên khoảng 41% nguồn cung toàn cầu.
Theo Hãng thông tấn nhà nước WAM của UAE, quyết định này được đưa ra sau khi UAE xem xét năng lực sản xuất hiện tại và tương lai, đồng thời dựa trên lợi ích quốc gia.
UAE là 1 trong 3 nhà sản xuất dầu mỏ hàng đầu trong OPEC. Việc rời đi sẽ cho phép UAE thoát khỏi hạn ngạch sản lượng do tổ chức này áp đặt.
Theo ông Jorge Leon - lãnh đạo bộ phận phân tích địa chính trị tại Công ty tư vấn Rystad, đây là bước ngoặt quan trọng.
UAE cùng với Saudi Arabia là một trong số ít nước thành viên có năng lực sản xuất dự phòng đáng kể. Đây là cơ chế then chốt giúp OPEC điều tiết thị trường và ứng phó với cú sốc nguồn cung.
Theo ông Robin Mills - giám đốc điều hành của Công ty tư vấn QamarEnergy, hiện hạn ngạch của OPEC giới hạn UAE ở mức khoảng 3,2 triệu thùng dầu/ngày, trong khi nước này có khả năng sản xuất tới 5 triệu thùng/ngày. Mức chênh lệch này tương đương khoảng 1 - 2% nhu cầu dầu mỏ trên toàn cầu.
Bộ trưởng Năng lượng UAE, Suhail Al Mazrouei, giải thích quyết định nhằm giúp nước này trở thành nhà sản xuất hàng đầu trong bối cảnh nguồn cung thắt chặt và giá dầu leo thang. Ông cũng khẳng định động thái này cũng có lợi cho các nước nhập khẩu dầu.
Giá dầu không biến động mạnh sau thông tin UAE rút khỏi OPEC. Dầu Brent tăng 2,6% lên 111 USD/thùng, trong khi dầu WTI tăng 3,3% lên 99,5 USD/thùng.
Các chuyên gia nhận định tác động ngắn hạn từ quyết định của UAE có thể hạn chế, do gián đoạn tại eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển 1/5 nguồn cung dầu và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu - trong bối cảnh xung đột ở Iran.
Giá dầu có thể giảm xuống khi tuyến hàng hải này mở lại và nguồn cung dầu trên thế giới tăng đáng kể, thậm chí cao hơn mức dự kiến.
"UAE có vị thế tốt để tăng nguồn cung và chấp nhận giá dầu thấp hơn nhờ nền kinh tế tương đối đa dạng và ít phụ thuộc vào doanh thu từ dầu mỏ", ông David Oxley - nhà kinh tế trưởng về khí hậu và hàng hóa tại Công ty tư vấn Capital Economics - nhận định.
Song về dài hạn, quyết định của UAE có thể kéo theo sự rạn nứt trong OPEC hoặc khiến các nước như Saudi Arabia và Nga tăng mạnh sản lượng dầu.
Điều này tuy có thể giúp giảm giá dầu nhưng lại khiến thị trường rơi vào biến động.
Trước UAE, Qatar và Angola đã lần lượt rời khỏi OPEC vào năm 2019 và 2024. Việc UAE rời đi dự kiến làm giảm khả năng kiểm soát nguồn cung dầu toàn cầu của OPEC từ khoảng 30% xuống còn 26%, làm suy yếu phần nào quyền lực của OPEC trên thị trường.
Ông Robert Mogielnicki, người đứng đầu Công ty tư vấn Polisphere, cho rằng quyết định của UAE cũng phản ánh xu hướng chú trọng lợi ích quốc gia của các nước vùng Vịnh trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc ngày 14-17/4. Đây là hoạt động đối ngoại song phương quan trọng nhất giữa hai Đảng, hai nước trong năm 2026, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình hôm nay cho hay trong cuộc phỏng vấn với TTXVN.
Đây cũng là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sau khi Việt Nam kiện toàn các chức danh lãnh đạo Nhà nước tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI và là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đến Trung Quốc sau Đại hội XIV.
"Chuyến thăm được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực, mở ra những cơ hội hợp tác mới, đưa quan hệ hai Đảng, hai nước tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững", Đại sứ Phạm Thanh Bình nói.
Đại sứ cho biết trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có cuộc hội đàm quan trọng với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và hội kiến với các lãnh đạo cấp cao khác của Trung Quốc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ phát biểu chính sách tại Đại học Thanh Hoa, gặp gỡ một số thân nhân các nhân sĩ hữu nghị hai nước, tham dự hoặc tuyên bố khởi động một số chương trình giao lưu nhân dân, hợp tác văn hóa nghệ thuật, du lịch.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước dự kiến có các hoạt động khảo sát, tìm hiểu mô hình thí điểm khu đô thị mới, hệ thống hạ tầng và công nghiệp đường sắt, cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo ở cả Bắc Kinh, Hà Bắc và Quảng Tây.
Các chuyến khảo sát thực tế sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác cụ thể giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước, từng bước cụ thể hóa các nhận thức chung cấp cao, các thỏa thuận đã ký kết thành các dự án và chương trình hợp tác cụ thể, Đại sứ Phạm Thanh Bình cho biết.
Trung Quốc là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 18/1/1950. Hai nước nâng tầm quan hệ Đối tác hợp tác Chiến lược Toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược vào năm 2023.
Đại sứ Bình cho hay hợp tác thực chất giữa hai nước thời gian qua tiếp tục là điểm sáng nổi bật, với thương mại, đầu tư, du lịch giữa hai nước duy trì đà tăng trưởng hai chữ số.
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ tư của Trung Quốc trên thế giới với kim ngạch song phương đạt hơn 256 tỷ USD, tăng 24,8% và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong hai tháng đầu năm 2026, đạt gần 43 tỷ USD, tăng 36,9%.
Về đầu tư, năm 2025, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn thứ hai tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 5,96 tỷ USD, tăng 33,4%, dẫn đầu về số lượng dự án mới và trong hai tháng đầu năm 2026 duy trì ở mức khá cao, đạt 807,5 triệu USD.
Về du lịch, Trung Quốc là thị trường gửi khách du lịch lớn nhất của Việt Nam năm 2025 với 5,28 triệu lượt khách, tăng 41% và trong hai tháng đầu năm 2026 đạt hơn 920.000 lượt.
Hai bên đang phối hợp để sớm hoàn thành báo cáo khả thi của tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, hướng tới khởi công toàn diện trong năm 2026, đồng thời tích cực triển khai công tác lập quy hoạch các tuyến Lạng Sơn - Hà Nội và Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng. Ngoài ra, hai bên cũng đẩy mạnh kết nối hạ tầng số, hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghiệp và logistics.
Hai nước cũng triển khai các dự án về ứng dụng AI giữa các địa phương, khai trương Trung tâm đổi mới sáng tạo chung tại Việt Nam, cũng như nhiều dự án năng lượng sạch, hạ tầng số, công nghệ thông tin.
Hôm qua, truyền thông quốc tế dẫn lời Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles thông báo nước này sẽ điều một máy bay quân sự công nghệ cao để tham gia sứ mệnh quốc tế nhằm mở lại eo biển Hormuz. Vài ngày trước, Anh và Pháp cũng thông báo triển khai tàu chiến tham gia sứ mệnh này.
Các nỗ lực trên nhằm tìm cách giải tỏa sự đình trệ của eo biển Hormuz vốn đang gây nghẽn nguồn cung dầu thô, khí tự nhiên và cả các loại phân bón cùng nhiều mặt hàng khác. Trong đó, giá dầu thô liên tục ở mức cao và biến động khó lường. Đến hôm qua, giá dầu Brent lẫn WTI đều ở mức trên 100 USD/thùng.
Không những vậy, theo dự báo được các nhà phân tích của Tập đoàn tài chính J.P.Morgan đưa ra vào ngày 11.5, giá dầu có khả năng "duy trì ở mức không dưới 100 USD/thùng" cho đến hết năm nay do xung đột ở Iran, và giá trung bình cả năm 2026 có thể ở mức 97 USD/thùng.
Thậm chí, trong phân tích gửi đến Thanh Niên, S&P Global, nhà xếp hạng tín nhiệm tín dụng hàng đầu thế giới, cho rằng cần tính đến kịch bản xấu nhất là sự gián đoạn đối với năng lượng và vận chuyển của tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz kéo dài hơn. Khi đó, giá dầu Brent có thể lên đến 200 USD/thùng. Thực tế, ngay cả khi Mỹ và Iran tuyên bố ngừng bắn, thì những bất ổn vẫn khiến cho giá dầu hồi đầu tháng 5 tăng cao hơn cả mức cao điểm trong tháng đầu tiên của cuộc chiến.
Thực tế, tuy tình hình chiến sự không còn nóng như giai đoạn đầu, nhưng việc eo biển Hormuz vẫn tiếp tục đình trệ và chưa có một giải pháp khả thi, thì việc nguồn dự trữ năng lượng của thế giới ngày càng giảm xuống càng tạo ra sức ép lớn hơn cho thị trường.
Giá dầu thô cao đã kéo theo giá nhiên liệu máy bay tăng cao. Cụ thể, nếu như trước xung đột Iran thì giá nhiên liệu máy bay trung bình ở mức 100 USD/thùng đã có lúc vượt mức 200 USD/thùng, gần đây hạ nhiệt thì vẫn neo ở mức gần 170 USD/thùng.
Mức giá trên khiến cho chi phí vận hành máy bay tăng cao. Ví dụ tại Mỹ, theo tính toán của trang Business Insider, so mức giá nhiên liệu bay từ mức 2,5 USD/gallon hồi cuối tháng 2 với mức 4,03 USD/gallon của ngày 11.5 vừa qua khiến cho chi phí đổ đầy bình nhiên liệu của máy bay Airbus A320neo tăng từ 17.500 USD (khoảng 460 triệu đồng) lên 28.200 USD (740 triệu đồng), máy bay Airbus A350 tăng từ 110.000 USD (2,9 tỉ đồng) lên 177.300 USD (4,6 tỉ đồng), Boeing 747-8 tăng từ 157.600 USD (4,1 tỉ đồng) lên 254.000 USD (6,6 tỉ đồng), Boeing 787 từ 83.500 USD (2,2 tỉ đồng) lên 134.600 USD (3,5 tỉ đồng).
Vì thế, 3 hãng hàng không hàng đầu của Mỹ là Delta, American và United đều báo cáo chi phí nhiên liệu đã tốn kém thêm từ 330 - 340 triệu USD trong quý 1/2026. Tình hình khiến cho nhiều hãng hàng không trên thế giới phải cắt giảm số lượng chuyến bay để hạn chế mức lỗ. Giữa tháng 4, KLM (Hà Lan) thông báo vừa cắt giảm 80 chuyến bay. Cuối tháng 4, Hãng hàng không Lufthansa (Đức) thông báo dự kiến tính đến tháng 10 sẽ cắt giảm tổng cộng khoảng 20.000 tuyến bay chặng ngắn. Edelweiss Air (Thụy Sĩ) thì ngừng nhiều tuyến bay đến Mỹ do lượng khách thấp mà giá nhiên liệu tăng cao. Hay Scandinavian Airlines cắt giảm 1.000 chuyến bay chỉ riêng trong tháng 4. Nhiều hãng bay cũng đã tăng phụ phí nhiên liệu để bù đắp chi phí tăng cao.
Không những giá cao, mà nguồn cung nhiên liệu cũng trở thành thách thức cho nhiều hãng hàng không. Tại châu Âu, nhu cầu nhiên liệu máy bay khoảng 1,6 triệu thùng/ngày, khả năng tự chủ của châu lục này khoảng 1,1 triệu thùng/ngày, nên phải nhập khẩu khoảng 500.000 thùng/ngày, trong đó nhập khẩu từ 350.000 - 380.000 thùng/ngày từ Trung Đông. Do các cơ sở chế biến xăng máy bay bị đánh phá và eo biển Hormuz đình trệ, nên châu Âu đang bị mất gần như toàn bộ nguồn cung từ Trung Đông. Sau khi eo biển Hormuz bị đình trệ, Mỹ tăng sản lượng xuất khẩu từ 172.000 thùng/ngày lên trung bình 372.000 thùng/ngày. Trong tổng số này, châu Âu mua khoảng 200.000 thùng/ngày nhưng vẫn chưa đủ bù đắp vào phần thiếu hụt từ nguồn cung Trung Đông. Vì thế, ước tính riêng châu Âu vẫn đang thiếu khoảng 170.000 - 180.000 thùng/ngày.
Ngày 17.4, AP dẫn lời Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) Fatih Birol cảnh báo sau 6 tuần thì châu Âu có thể cạn nguồn dự trữ nhiên liệu bay. Tuy nhiên, các hãng hàng không đã từ chối bình luận về thông tin này.