Kẻ đánh bom tự sát tối 9/5 lái chiếc xe chở đầy thuốc nổ lao vào chốt kiểm soát bên ngoài đồn cảnh sát tại khu vực Fateh Khel thuộc thành phố Bannu rồi kích nổ, quan chức cảnh sát Muhammad Sajjad Khan ngày 10/5 cho biết.
Gần 100 tay súng xông vào đồn tấn công ngay sau khi chiếc xe bom phát nổ. “Chúng sử dụng cả thiết bị bay không người lái và vũ khí hạng nặng”, một quan chức hành chính cấp cao tại Bannu cho biết.
Một số cảnh sát thiệt mạng trong khi đấu súng dữ dội với phiến quân, số khác tử vong do bị tòa nhà sập xuống. Các lực lượng thực thi pháp luật gần đó được cử đến cứu viện, nhưng bị phiến quân phục kích và cũng hứng chịu thương vong, một quan chức cảnh sát giấu tên nói.
Ông Khan xác nhận tổng cộng 15 sĩ quan cảnh sát đã thiệt mạng. “Trong lúc rút lui, những kẻ tấn công còn bắt đi các sĩ quan cảnh sát và cướp vũ khí từ đồn”, ông nói thêm.
Xe cứu thương từ các đơn vị cứu hộ và bệnh viện đã được nhanh chóng điều đến hiện trường, trong khi giới chức ban bố tình trạng khẩn cấp tại các cơ sở y tế ở thành phố Bannu.
Hình ảnh sau vụ tấn công cho thấy đồn cảnh sát chỉ còn là đống đổ nát, với gạch đá, xác xe cháy đen và biến dạng nằm ngổn ngang khắp hiện trường.
Nhóm vũ trang Ittehad-ul-Mujahideen, chi nhánh của Taliban ở Pakistan, đã đứng ra nhận trách nhiệm.
Đây là vụ tấn công mới nhất tại tỉnh biên giới Khyber Pakhtunkhwa trong làn sóng bạo lực đang làm căng thẳng quan hệ giữa Pakistan và Afghanistan.
Những vụ tấn công của phiến quân có nguy cơ thổi bùng xung đột dọc biên giới Pakistan và Afghanistan. Cuộc đối đầu tồi tệ nhất trong nhiều năm đã nổ ra giữa hai nước hồi tháng hai sau khi Pakistan tiến hành các cuộc không kích bên trong lãnh thổ Afghanistan với lý do nhằm mục tiêu vào căn cứ của phiến quân.
Xung đột đã dịu bớt với vài vụ đụng độ lẻ tẻ dọc biên giới, nhưng chưa có thỏa thuận ngừng bắn nào được ký kết.
Islamabad cáo buộc Kabul chứa chấp các nhóm phiến quân sử dụng lãnh thổ Afghanistan để lên kế hoạch tấn công vào Pakistan. Taliban bác bỏ các cáo buộc và cho rằng tình trạng bạo lực tại Pakistan là vấn đề nội bộ của quốc gia này.
Tin Gốc: Vnexpress

Mỹ ngày 4/7/1776 tuyên bố độc lập, mở đầu cho quá trình hình thành một quốc gia mới ở Bắc Mỹ. Gần 11 năm sau, các nhà lập quốc Mỹ mới soạn thảo hiến pháp Mỹ và thông qua để văn kiện này có hiệu lực từ năm 1789, trở thành nền tảng cho hệ thống chính trị liên bang.
Sau hơn hai thế kỷ, hiến pháp Mỹ vẫn là một trong những văn kiện lập pháp lâu đời và có sức ảnh hưởng nhất thế giới. Nội dung hiến pháp Mỹ cũng đối mặt nhiều nỗ lực thay đổi trong thời gian này. Các nghị sĩ đã trình gần 12.000 đề xuất và chỉ 27 tu chính án được phê chuẩn, trở thành một phần hiến pháp. Trong số này, 10 tu chính án đầu tiên nằm trong Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ năm 1791.
Trong số những đề xuất bị bác bỏ có những ý tưởng khác thường mà nếu được thông qua, nước Mỹ có thể đã trở thành một phiên bản rất khác với hiện tại.
Đổi tên quốc gia
Năm 1866, hạ nghị sĩ George Washington Anderson đề xuất bỏ cụm từ United States (Hợp chúng quốc) khỏi tên chính thức của đất nước và đổi thành America (Mỹ). Anderson lập luận rằng tên gọi hiện tại chưa phản ánh đầy đủ sự thống nhất và vị thế mà nước Mỹ có thể đạt được trong tương lai, nhưng đề xuất này không được chấp nhận.
Năm 1893, hạ nghị sĩ Lucas Miller đưa ra một ý tưởng táo bạo hơn. Ông trình cùng lúc 46 dự luật, trong đó có một đề xuất đổi tên quốc gia thành United States of the Earth (Hợp chúng quốc Trái Đất).
Ông cho rằng nước Mỹ có thể tiếp tục mở rộng cho đến khi mọi quốc gia trên thế giới đều gia nhập liên bang. Đề xuất bị dư luận chế giễu và nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Xóa bỏ ghế Tổng thống
Năm 1860, ngay trước khi nội chiến Mỹ xảy ra, hạ nghị sĩ John William Noell đã đề xuất bãi bỏ chức vụ tổng thống và thay bằng một hội đồng hành pháp ba thành viên đến từ ba khu vực khác nhau của đất nước. Mỗi thành viên có quyền phủ quyết hai người còn lại.
Ý tưởng này tiếp tục xuất hiện sau nội chiến. Năm 1878, hạ nghị sĩ Milton Isaiah Southard đề xuất thành lập hội đồng hành pháp gồm ba tổng thống, đại diện cho khu vực miền Tây, miền Nam và khu vực miền Đông cùng miền Trung. Southard cho rằng người dân Mỹ phản đối việc quyền lực tập trung vào một cá nhân, vì điều đó khiến tổng thống mang dáng dấp của chế độ quân chủ.
Xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ
Sau khi Tu chính án thứ 22 được phê chuẩn vào năm 1951, quy định tổng thống chỉ được giữ chức tối đa hai nhiệm kỳ, các nghị sĩ Mỹ đã nhiều lần tìm cách bãi bỏ quy định này để tổng thống có thể phục vụ số nhiệm kỳ không giới hạn nếu tiếp tục được cử tri lựa chọn.
Những người phản đối cho rằng Tu chính án thứ 22 về bản chất là "phi dân chủ, vì ngăn cản cử tri bầu một ứng viên đủ năng lực mà họ ủng hộ". Ngược lại, phe ủng hộ giới hạn nhiệm kỳ cho rằng đây là "cơ chế kiểm soát thiết yếu nhằm ngăn chặn sự sùng bái cá nhân và quyền lực tổng thống trở nên quá lớn".
Bốc thăm bầu tổng thống
Nhiều đề xuất sửa đổi Hiến pháp từng tìm cách thay đổi phương thức bầu tổng thống, nhưng ít ý tưởng nào khác thường như đề xuất từ thượng nghị sĩ James Hillhouse vào năm 1808.
Hillhouse đề xuất rút ngắn nhiệm kỳ thượng nghị sĩ từ 6 năm xuống còn 3 năm và sắp xếp để mỗi năm có 1/3 số ghế được bầu lại. Các thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm sẽ bốc một quả bóng từ trong hộp. Người bốc trúng quả bóng màu duy nhất sẽ trở thành tổng thống trong thời hạn một năm.
Hillhouse không phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng bốc thăm để chọn tổng thống. Tại Hội nghị Lập hiến năm 1787, đại diện bang Pennsylvania James Wilson từng đề xuất chọn ngẫu nhiên một nhóm nhỏ nghị sĩ có quyền quyết định ai giữ chức tổng thống.
"Đây là ý tưởng sáng tạo, nhưng hầu như không ai cho rằng đó là một phương án khả thi", theo sử gia David O. Stewart, tác giả cuốn The Summer of 1787: The Men Who Invented the Constitution.
Thêm/xóa bỏ phó tổng thống
Năm 1897, sử gia Herman Ames, Đại học Pennsylvania, liệt kê các đề xuất sửa đổi hiến pháp kể từ khi Mỹ lập quốc và ghi nhận có 7 đề xuất bãi bỏ chức vụ phó tổng thống. Phe ủng hộ cho rằng đây là một vị trí "thừa thãi", và một trong những người đề xuất là Hillhouse. Những nỗ lực tương tự vẫn tiếp diễn trong thế kỷ 20.
Những người khác lại cho rằng nước Mỹ cần nhiều hơn một người giữ vai trò phó tổng thống.
Năm 1881, hạ nghị sĩ Nathaniel Job Hammond đề xuất thành lập ba chức danh gồm phó tổng thống thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Năm 1964, thượng nghị sĩ Kenneth Keating đề xuất chia chức vụ này thành hai vị trí riêng biệt, lần lượt phụ trách nhánh hành pháp và lập pháp.
Xóa bỏ Thượng viện
Năm 1911, hạ nghị sĩ Victor Berger cho rằng Thượng viện "là cơ quan cản trở và vô tác dụng, là mối đe dọa đối với các quyền tự do của người dân và là rào cản đối với sự phát triển của xã hội". Ông đề xuất xóa bỏ Thượng viện, tập trung quyền lập pháp vào Hạ viện.
Theo Berger, các quyết định của Hạ viện sẽ trở thành "luật tối cao", tổng thống sẽ không còn quyền phủ quyết, tòa án cũng không được quyền tuyên bố các quyết định đó là vi hiến.
Xóa bỏ cử tri đoàn
Việc bầu tổng thống Mỹ thông qua cử tri đoàn thay vì bằng phổ thông đầu phiếu đã gây tranh cãi ngay từ khi hiến pháp được ban hành. Sử gia Ames mô tả "không có phần nào của hiến pháp gây ra nhiều sự bất mãn và kéo theo nhiều đề xuất sửa đổi nhằm thay đổi như cơ chế này".
Một trong những nguyên nhân chính là kết quả phiếu đại cử tri không phải lúc nào cũng trùng với kết quả phổ thông đầu phiếu. Điều này khiến ứng viên giành nhiều phiếu bầu của cử tri toàn quốc hơn vẫn thất cử. Tình huống này đã xảy ra 5 lần, trong các cuộc bầu cử tổng thống năm 1824, 1876, 1888, 2000 và 2016.
Một đề xuất thay thế cử tri đoàn bằng hình thức bầu cử trực tiếp từng được Hạ viện thông qua năm 1969, nhưng không thể vượt qua Thượng viện.
Nỗ lực gần nhất được hạ nghị sĩ Steve Cohen đệ trình tháng 12/2024. Ông cho rằng cử tri đoàn là di sản còn sót lại từ thế kỷ 18, khi cử tri hầu như không biết các ứng viên là ai, trong khi bối cảnh hiện tại đã khác nhiều.
Lập tòa án vượt thẩm quyền Tòa án Tối cao
Ý tưởng xuất hiện khi có quan điểm cho rằng Tòa án Tối cao nhiều lần can thiệp và vô hiệu hóa các đạo luật cấp bang, dẫn đến nhu cầu cần có một cơ quan tư pháp cấp cao hơn nữa. Cơ quan này sẽ có quyền xem xét và hủy bỏ các phán quyết của Tòa án Tối cao.
Đề xuất sớm nhất được cho là từ thượng nghị sĩ Garrett Davis năm 1867, kêu gọi lập "hội đồng xét xử" với mỗi bang bổ nhiệm một thành viên. Những đề xuất sau đó phát triển ý tưởng này thành một tòa án gồm các chánh án hoặc thẩm phán cao nhất từng bang, gọi là Court of the Union (Tòa án của Liên bang).
It nhất 15 đề xuất sửa đổi hiến pháp để lập Tòa án của Liên bang đã được đệ trình trong giai đoạn 1963-1981 nhưng đều thất bại.
Giới hạn tài sản cá nhân
Năm 1933, thời điểm u ám nhất trong Đại Suy thoái, hạ nghị sĩ Wesley Lloyd đề xuất trao cho quốc hội quyền đặt ra mức trần đối với tài sản cá nhân của người Mỹ. Để giảm bớt tính cực đoan của đề xuất, Lloyd cho rằng mức trần không nên thấp hơn 1 triệu USD, tương đương hơn 25,7 triệu USD theo giá trị hiện nay.
"Lý do nhiều người quá nghèo là vì một số rất ít người lại quá giàu", ông Lloyd lập luận.
Cho người dân Mỹ quyền bỏ phiếu tuyên chiến
Quyền tuyên chiến, vốn được hiến pháp Mỹ trao cho quốc hội, từ lâu đã là chủ đề gây nhiều tranh cãi và cũng là mục tiêu của nhiều đề xuất sửa đổi.
Năm 1916, một năm trước khi Mỹ tham gia Thế chiến I, hạ nghị sĩ Denver Samuel Church đề xuất một tu chính án quy định mọi tuyên bố chiến tranh trước hết phải được đưa ra trưng cầu dân ý và chỉ có hiệu lực nếu được đa số cử tri chấp thuận. Ông vẫn đề xuất ngoại lệ đối với các trường hợp khẩn cấp, như khi Mỹ bị tấn công.
Trong những năm sau đó, đặc biệt là suốt thập niên 1930 khi nguy cơ chiến tranh ở châu Âu ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất tương tự tiếp tục được trình lên quốc hội Mỹ.
Theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Mỹ, tu chính án được phê chuẩn gần đây nhất là Tu chính án thứ 27, có hiệu lực năm 1992. Tu chính án quy định mọi luật tăng lương cho các thành viên quốc hội chỉ có hiệu lực sau cuộc bầu cử tiếp theo, ngăn quốc hội tự tăng lương trong nhiệm kỳ hiện tại.
Cho đến nay, hiến pháp Mỹ mới chỉ có một tu chính án từng bị bãi bỏ. Đó là khi Tu chính án thứ 21 được phê chuẩn năm 1933 để hủy bỏ Tu chính án thứ 18 về lệnh cấm rượu.
Tin Gốc: Vnexpress

Trong thông cáo ngày 30/3, hãng hàng không Air Canada cho biết CEO Michael Rousseau sẽ tiếp tục điều hành công ty và giữ vai trò trong hội đồng quản trị cho đến khi rời vị trí.
Quyết định được đưa ra sau khi ông Rousseau vấp phải làn sóng chỉ trích liên quan đến thông điệp chia buồn chỉ sử dụng tiếng Anh sau tai nạn khiến hai phi công của hãng thiệt mạng ở Mỹ hồi tuần trước. Trong video dài khoảng 4 phút, ông Rousseau chỉ nói hai từ tiếng Pháp là "bonjour" và "merci", còn lại sử dụng tiếng Anh. Video có phụ đề tiếng Pháp.
Máy bay Bombardier CRJ-900 của Air Canada, chở theo 72 hành khách và 4 thành viên tổ bay, hôm 22/3 va chạm với xe cứu hỏa trên đường băng sân bay LaGuardia ở New York, Mỹ. Nhờ nỗ lực của tổ bay, 74 người trên máy bay sống sót. Antoine Forest, một trong hai phi công thiệt mạng, là người Quebec nói tiếng Pháp.
Air Canada đặt trụ sở tại Montreal, bang Quebec, nơi tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức và được sử dụng rộng rãi. Theo Luật Ngôn ngữ Chính thức của Canada và quy định nội bộ của hãng, các thông điệp công khai phải được thể hiện bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp.
Thủ tướng Canada Mark Carney bày tỏ thất vọng về cách xử lý tình huống của ông Rousseau, cho rằng thông điệp "thiếu cảm thông với các nạn nhân".
CEO Air Canada sau đó công khai xin lỗi, cho rằng việc ông không thể sử dụng tiếng Pháp đã làm chệch hướng sự chú ý của xã hội khỏi nỗi đau của gia đình nạn nhân. Ông cho biết đã học tiếng Pháp trong nhiều năm, nhưng chưa thể diễn đạt đầy đủ bằng ngôn ngữ và cam kết sẽ tiếp tục cải thiện.
Ông Rousseau từng gây tranh cãi năm 2021 khi phát biểu hoàn toàn bằng tiếng Anh tại Quebec, dù đã sống ở Montreal suốt 14 năm. Khi đó, ông nói mình không cần học tiếng Pháp mà vẫn có thể đảm bảo hiệu quả công việc và viện dẫn lịch trình bận rộn. Trước video gây tranh cãi, ông được cho là đã dành khoảng 300 giờ học ngôn ngữ này.
Tính đến ngày 27/3, Văn phòng Ủy viên Ngôn ngữ Chính thức Canada nhận hơn 2.000 đơn khiếu nại liên quan sự việc. Tại Quebec, các nhà lập pháp đã thông qua nghị quyết kêu gọi ông Rousseau từ chức.
Thanh Danh (Theo Guardian, AFP)
Nguồn: https://vnexpress.net/ceo-air-canada-tu-chuc-sau-tranh-cai-ve-thong-diep-chia-buon-5056670.html

Cuộc đàm phán cấp cao tại Thụy Sĩ nhằm tìm kiếm một giải pháp lâu dài cho cuộc xung đột Mỹ - Iran đã kết thúc vào sáng qua với việc các bên nhất trí thành lập "cơ chế giảm xung đột", theo AP dẫn tuyên bố chung từ hai nước trung gian Pakistan và Qatar.
Hai phái đoàn - được dẫn đầu bởi Phó tổng thống Mỹ JD Vance và Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf - đã bước vào vòng đàm phán cấp cao theo một phần của khuôn khổ thương thuyết kéo dài 2 tháng dựa trên thỏa thuận sơ bộ đạt được hồi tuần rồi ở Islamabad (Pakistan).
AP dẫn thông tin từ Pakistan và Qatar cho hay hai bên đạt được nhất trí về lộ trình nhằm đạt được thỏa thuận cuối cùng trong vòng 60 ngày, với các cuộc họp kỹ thuật sẽ được tiếp tục suốt tuần tại khu nghỉ dưỡng Burgenstock (Thụy Sĩ).
Còn Đài NBC News dẫn tuyên bố chung của Bộ Ngoại giao Qatar và Pakistan nhận định phiên đàm phán Mỹ - Iran tại Thụy Sĩ diễn ra theo hướng "tích cực" và "mang tính xây dựng". Một trong các thành công quan trọng của vòng đàm phán cấp cao là thành lập "Ủy ban Cấp cao" có nhiệm vụ giám sát chính trị đối với hoạt động thương thuyết.
Tại cuộc họp, ủy ban thông qua một lộ trình nhằm đạt được thỏa thuận cuối cùng trong vòng 60 ngày, xây dựng nền tảng để lập tức triển khai ngay các cuộc đàm phán kỹ thuật tiếp theo về chương trình hạt nhân Iran, các lệnh cấm vận và cơ chế giải quyết tranh chấp. "Các bên đã đạt được tiến triển đáng khích lệ bao gồm xây dựng cơ chế cho các cuộc thảo luận kỹ thuật tiếp theo", AFP dẫn lời bên trung gian.
Mỹ - Iran cũng đồng ý thiết lập đường dây giảm xung đột giữa các bên liên quan và chính phủ Li Băng nhằm ngăn chặn xung đột tái bùng phát. Bên cạnh đó, kênh liên lạc được thiết lập giữa các bên nhằm tránh những sự cố và hiểu lầm tại eo biển Hormuz.
Truyền thông nhà nước Iran đưa tin phái đoàn đàm phán cấp cao của nước này đã rời Thụy Sĩ trở về Tehran sau 18 giờ thương lượng căng thẳng với phía Mỹ. Theo các hãng tin ISNA và Tasnim, nhóm chuyên gia kỹ thuật do Thứ trưởng Ngoại giao Kazem Gharibabadi dẫn đầu tiếp tục ở lại Thụy Sĩ và tiến hành đàm phán kỹ thuật.
Sau khi cuộc đàm phán cấp cao chấm dứt, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đã lên tiếng khen ngợi hai nước trung gian. "Những nỗ lực không mệt mỏi của Pakistan và Qatar đã mang đến tiến triển quan trọng hướng đến chấm dứt cuộc chiến ở Li Băng", Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi viết trên X.
Nhà ngoại giao liệt kê một loạt các kết quả đến từ thương thuyết, như dỡ bỏ hạn chế xuất khẩu dầu mỏ và sản phẩm hóa dầu, chấm dứt phong tỏa, giải ngân một số tài sản bị đóng băng của chính quyền Tehran và thống nhất được kế hoạch tái thiết, phát triển cho Iran. Tuy nhiên, ông Araghchi chỉ ra phép thử thực sự đầu tiên chính là cơ chế giảm xung đột cho Li Băng.
Đài Al Jazeera dẫn lời các nhà phân tích Iran cho rằng những gì vừa diễn ra ở Thụy Sĩ đã mở ra tình thế tiến thoái lưỡng nan về mặt chiến lược đối với Israel. Lý do là thỏa thuận mới có thể làm thay đổi mọi nguyên tắc và cách tiếp cận mà chính quyền Tel Aviv vốn quen thuộc trong thời gian qua.
Thỏa thuận ngừng bắn trước đây với Hezbollah do Mỹ và Israel điều phối, từ đó cho phép Tel Aviv tự do hành động, như duy trì sự hiện diện quân sự ở miền nam Li Băng, tiếp tục không kích các mục tiêu trên lãnh thổ láng giềng.
Thế nhưng, diễn biến mới tại cuộc đàm phán ở Thụy Sĩ mang đến cơ chế khác biệt, và có thể buộc Israel thích ứng với thực tế mới. Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Israel Katz của Israel vừa tuyên bố nước này không có ý định rút quân khỏi lâu đài Beaufort Castle, vị trí chiến lược ở phía bên kia sông Litani và sâu hơn đáng kể so với khoảng cách mà theo một số thông tin Mỹ muốn Israel rút quân.
Tin Gốc: Thanh Niên

