Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ Dự thảo Nghị định quy định chính sách của Nhà nước đối với doanh nghiệp và Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp nhằm quy định chi tiết khoản 4 điều 32 (chính sách của Nhà nước đối với doanh nghiệp) và khoản 2 điều 35 (quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp) tại luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025. Theo đó, việc hợp tác với trường nghề để đào tạo, nghiên cứu được khuyến khích.
Theo đó, các doanh nghiệp được khuyến khích hợp tác với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề.
Các hoạt động cụ thể gồm: Đào tạo người lao động tuyển dụng vào làm việc tại doanh nghiệp hoặc lao động khác có nhu cầu được đào tạo; tham gia xây dựng danh mục ngành, nghề đào tạo; chương trình, giáo trình đào tạo nghề nghiệp phục vụ hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, tiếp nhận nhà giáo, học sinh, sinh viên của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến tham quan, thực hành, thực tập nâng cao kỹ năng nghề tại doanh nghiệp hoặc cập nhật, tiếp cận công nghệ mới.
Doanh nghiệp cũng được Nhà nước khuyến khích hỗ trợ ươm tạo các ý tưởng khởi nghiệp, hỗ trợ tư vấn/cố vấn, chia sẻ kinh nghiệm cho học sinh, sinh viên về các ý tưởng khởi nghiệp đồng thời chuyển giao bí quyết công nghệ, tiếp nhận, vận hành và làm chủ công nghệ…
Doanh nghiệp có đóng góp tiêu biểu cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề sẽ được xét tôn vinh, khen thưởng.
Trong đó, hằng năm có trích lập Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp và sử dụng tối thiểu hết 70% quỹ cho hoạt động giáo dục, đào tạo là một tiêu chí được Nhà nước xem xét tôn vinh, khen thưởng.
Nhà nước cũng sẽ hỗ trợ kinh phí đào tạo cho doanh nghiệp khi có người lao động đi học ngành, nghề trình độ sơ cấp cho người yếu thế và ngành, nghề ưu tiên hoặc khó xã hội hóa tại các trường nghề, với mức hỗ trợ là 70% học phí.
Doanh nghiệp hợp tác với trường nghề còn được hưởng chính sách ưu đãi như giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản chi phí hợp lý khi thực hiện hợp tác đào tạo, đào tạo lại, hoặc nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với cơ sở giáo dục nghề nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để tạo tài sản cố định hoặc sử dụng cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nghề…
Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp do doanh nghiệp lựa chọn, tự chủ, tự quyết định thành lập nhằm bảo đảm các hoạt động giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp được thường xuyên, liên tục, đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Quỹ này sẽ chi cho các hoạt động gồm: Đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động của doanh nghiệp, hỗ trợ người lao động của doanh nghiệp học tập, nâng cao trình độ chuyên môn với các chi phí như trả cho người dạy, tài liệu học tập, thiết bị dùng để hoạt động giáo dục nghề nghiệp, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học.
Cùng với đó là chi phí đào tạo của doanh nghiệp cho người lao động được tuyển dụng vào làm việc tại doanh nghiệp; chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ cho người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp; chi phí cho hoạt động đánh giá kỹ năng nghề, đánh giá năng lực theo chuẩn doanh nghiệp hoặc theo tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp quốc gia.
Ngoài ra, chi tài trợ cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp có hợp tác với doanh nghiệp gồm: tài trợ cho các trường mà khoản tài trợ này không phải là để góp vốn, mua cổ phần; tài trợ cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập và hoạt động; tài trợ cho các hoạt động thường xuyên của trường.
Tài trợ học bổng cho học sinh, sinh viên; tài trợ cho các cuộc thi về các môn học được giảng dạy trong trường; tài trợ để thành lập các quỹ khuyến học giáo dục; tài trợ xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp.
29 năm trước, đúng thời gian này, anh Nguyễn Mạnh Hà (SN 1982, Từ Liêm, Hà Nội) đang chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THCS. Thời đó, thi tốt nghiệp và thi vào lớp 10 là hai kỳ thi tách biệt, cách nhau hơn 1 tháng.
“Tôi không nhớ 3 năm trước con trai đã thi vào lớp 10 như thế nào, nhưng vẫn nhớ như in kỳ thi lớp 10 của chính mình, thậm chí còn nhớ cả bài hình trong đề toán”, anh Hà chia sẻ.
Anh Hà cho biết, học sinh sinh năm 1982 trở về trước thi tốt nghiệp 4 môn và thi vào cấp 3 với 2 môn toán, văn. Tỷ lệ trượt tốt nghiệp thấp còn tỷ lệ trượt cấp 3 rất cao. Lứa tuổi của anh Hà, cả làng chỉ có 5 người đỗ. Số còn lại học bổ túc hoặc bỏ học.
“3 năm liên tiếp trước lứa chúng tôi, làng tôi không có ai đỗ cấp 3. Chị gái tôi học khá cũng trượt. Vì thế bố tôi không cho tôi đăng ký trường Tây Tiền Hải, là trường tốt nhất huyện và gần nhà, mà bắt phải đăng ký một trường cách nhà hơn 10km, ở gần biển, điểm đầu vào rất thấp”, anh Hà hồi tưởng.
Mặc dù có lực học tốt và được giáo viên chủ nhiệm tin cậy, anh Hà vẫn phải đăng ký trường xa để chắc một suất công lập. Ngay sau khi thi tốt nghiệp xong, anh được bố cho đi học thêm ở thị trấn. Sau 1 tháng luyện thi, anh Hùng đỗ điểm cao, thừa nhiều điểm để vào Trường THPT Tây Tiền Hải trong sự tiếc nuối của gia đình.
Lớp ôn thi của anh khi ấy cũng chỉ có vài ba người trúng tuyển công lập.
Chị Nguyễn Bích Đào (SN 1982, Vĩnh Hưng, Hà Nội) cũng lưu giữ kí ức khó quên về kỳ thi lớp 10 cách đây 30 năm tại Ninh Bình (tỉnh Nam Định cũ).
Ngày ấy Nam Định chưa có trường tư, ngoài trường công chỉ có trường bổ túc. Tuy nhiên trong trường công lập có một hệ bán công để “vớt” những học sinh thi trượt vì thiếu một ít điểm. Hệ bán công thu học phí cao hơn 2-3 lần so với mức chung.
“Tôi nhớ bạn bè mình trượt rất nhiều. Ngay ông xã tôi cũng trượt hệ thường, chỉ đỗ hệ bán công dù những năm cấp 2 là học sinh giỏi, học lớp chọn, là “ngôi sao” của trường”, chị Đào kể.
Cả Đào và chồng học cùng khoá nhưng khác lớp. Theo lời chị, việc trượt công lập là bài học sâu sắc với chồng chị, khiến anh học hành tu tỉnh hơn, đạt kết quả cao khi thi đại học. Trong khi đó chị trượt đại học năm đầu, mất thêm một năm ôn thi mới chinh phục được mục tiêu.
Tại Hà Nội, 32 năm trước, kỳ thi vào lớp 10 cũng căng thẳng như bây giờ, theo lời chị Phạm Thanh Mai (SN 1979, phường Hoàn Kiếm).
Hà Nội ngày ấy thi lớp 10 với hai môn toán, văn. Quanh các trường phổ thông có rất nhiều “lò luyện thi". Chị Mai học thêm văn một thầy ở phố Lò Đúc, học thêm toán một giáo viên Trường THPT Lý Thường Kiệt. Tuy nhiên, các "lò luyện" thường chỉ hoạt động khoảng 1 tháng kể từ sau kỳ thi tốt nghiệp đến trước kỳ thi lớp 10.
“Nhiều bạn bè cấp 2 của tôi không đỗ trường nào, đi học bổ túc hoặc nghỉ học. Một người bạn của tôi chuyển khẩu về Bắc Ninh, ở nhờ nhà người họ hàng để thi cấp 3 tại Bắc Ninh. Ngày đó nếu trượt công lập là trượt hẳn, không có nhiều trường tư như bây giờ để “chống trượt””, chị Mai chia sẻ.
Chị Mai có hai con, đều đã trải qua kỳ thi lớp 10 công lập tại Hà Nội. Từ trải nghiệm của hai thế hệ, chị Mai cho rằng việc thi vào cấp 3 chưa bao giờ dễ dàng trong suốt hơn 3 thập kỷ qua. Song, áp lực của thế hệ hôm nay dường như lớn hơn thế hệ cha mẹ do định kiến xã hội, chị Mai nhận định.
Với thế hệ 7X, 8X đời đầu, việc thi trượt cấp 3 chưa bị nhìn nhận một cách nặng nề. Học sinh không đỗ lớp 10 sẽ chuyển hướng học nghề hoặc tham gia thị trường lao động. Nhưng hiện tại, theo quan sát của chị Mai, một đứa trẻ không đỗ lớp 10 sẽ bị xem là một thất bại lớn, nhất là trong những gia đình có sự đầu tư cho sự học hành của con cái.
Ở góc nhìn khác, anh Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng mưu cầu và kỳ vọng của bố mẹ thế hệ 8X vào con cái lớn hơn thế hệ ông bà. Với thế hệ ông bà, con cái chỉ cần đi học là đủ. Với thế hệ bố mẹ 8X, con cái còn phải học giỏi, đỗ trường chuyên hoặc trường “top”. Chính tâm lý này đẩy áp lực xã hội lên cao.
Hiệu trưởng một trường THPT nhận định, kỳ vọng của phụ huynh là chính đáng. Song, con đường học tập không chỉ có một lối đi duy nhất.
“Học lớp 10 công lập có thể là con đường thuận lợi, nhưng không phải con đường duy nhất và phù hợp nhất với tất cả học sinh”, vị hiệu trưởng nói.
Đầu tư cho con học trường quốc tế là một trong những quyết định đầu tư quan trọng nhất của mỗi gia đình. Bởi dưới góc nhìn kinh tế, đây là một danh mục đầu tư lâu dài với tỷ suất sinh lời và lãi kép cao.
Dù sản phẩm đầu ra khó có thể định lượng như: tri thức, kỹ năng, nhân cách, bản lĩnh, sức khỏe thể chất và tinh thần… nhưng đây là những yếu tố cốt lõi quyết định năng lực lao động, thu nhập cũng như con đường sự nghiệp của một đứa trẻ trong tương lai.
Tuy nhiên, phụ huynh cũng cần cân đối tài chính để đảm bảo lộ trình giáo dục của con được xuyên suốt và bền vững trong nhiều năm.
Thấu hiểu điều đó, Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS) triển khai nhiều chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ các gia đình lên kế hoạch học tập dài hạn một cách chủ động và hiệu quả.
Mặc dù các chương trình ưu đãi lớn nhất cho năm học 2026 - 2027 đã kết thúc, phụ huynh vẫn còn cơ hội tiết kiệm từ 25 đến trên 50 triệu đồng khi hoàn tất đăng ký trong tháng 7.2026, với 3 chương trình ưu đãi hiện vẫn còn hiệu lực gồm:
Việc đăng ký sớm không chỉ giúp phụ huynh tận dụng các chính sách ưu đãi còn lại mà còn chủ động lựa chọn lộ trình học phù hợp với năng lực, định hướng phát triển và mục tiêu tương lai của con ngay từ đầu năm học.
Để được tư vấn chi tiết về các lộ trình học cũng như chính sách ưu đãi đang áp dụng, phụ huynh vui lòng truy cập website VAS hoặc Fanpage Vietnam Australia International School - VAS để được hỗ trợ.
Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc "rợn người" nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: "Tôi-Người" và "Tôi-Vật". Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về "lỗi của đối tượng". Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một "mảnh đất tâm thức" đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét - hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người - dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành "giấy phép" để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm "học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn" tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ "theo đúng công thức" là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu "lấy học sinh làm trung tâm" được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một "đối tượng để xử lý" khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta - thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như "đối tượng làm việc"?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người - bất kể tuổi tác, hành vi - xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại - có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn "thích đáng".