Sáng 11.5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) khóa XVI họp phiên họp thứ hai. Phát biểu khai mạc phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, phiên họp tiến hành với tinh thần khẩn trương, ngắn gọn. Diễn ra trong buổi sáng, UBTVQH sẽ xem xét 3 nội dung.
Thứ nhất, xem xét, thông qua Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật. Đây là nhiệm vụ quan trọng, nhằm kịp thời điều chỉnh các quy định cho phù hợp với thực tiễn, thể chế hóa Kết luận của Trung ương về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, xem xét Báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 3 và tháng 4 năm 2026. Đây là giai đoạn chuyển giao nhiệm kỳ, cử tri đặt nhiều kỳ vọng và cũng gửi gắm không ít tâm tư, nguyện vọng. Vì vậy, Chủ tịch Quốc hội đề nghị, cần đánh giá thực chất việc giải quyết kiến nghị của cử tri và nhân dân, nhất là những vấn đề bức thiết phát sinh trong thời gian qua.
Thứ ba, tổng kết kỳ họp thứ nhất và cho ý kiến bước đầu về việc chuẩn bị kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa XVI. Chủ tịch Quốc hội đề nghị đánh giá thẳng vào những việc làm được, chưa làm được, xác định rõ những nội dung cần điều chỉnh ngay từ kỳ họp thứ hai, không để lặp lại tình trạng gửi chậm hồ sơ, sơ xuất trong kỳ họp vừa qua.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị thực hiện nghiêm quy định của luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cùng đó, vấn đề gửi tài liệu cho UBTVQH, đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội cần đảm bảo thời gian, chất lượng.
“Như Thủ tướng Lê Minh Hưng có nói các luật trình Quốc hội phải kèm theo nghị định. Luật, nghị định có chất lượng thì TVQH, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban sẽ thẩm tra trình Quốc hội thông qua.
Phải đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, trong đó, phân rõ vai của Quốc hội, Chính phủ, các bộ để xây dựng pháp luật ngày càng chất lượng cao”, Chủ tịch Quốc hội đề nghị.
Theo Chủ tịch Quốc hội, đến nay vẫn còn một số nội dung phải điều chỉnh tiến độ, lùi sang các phiên họp sau; trong đó có cả các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết đã được thông qua từ các kỳ họp thứ IX, thứ X thuộc thẩm quyền ban hành của UBTVQH đã rất chậm so với yêu cầu.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị, các cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo nghiêm túc rút kinh nghiệm, làm rõ trách nhiệm. Thường trực Hội đồng Dân tộc, các ủy ban, Văn phòng Quốc hội phối hợp, đôn đốc, theo dõi sát sao tiến độ, kịp thời báo cáo UBTVQH.
Đối với những luật, nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ khẩn trương chỉ đạo quyết liệt xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết.
Các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, hoàn thiện hồ sơ trình UBTVQH ban hành văn bản thuộc thẩm quyền quy định.
“Quan điểm xuyên suốt là không để phát sinh nợ đọng văn bản hướng dẫn thi hành, không để khoảng trống pháp luật. Luật, nghị quyết có hiệu lực thực hiện được ngay trong thực tế, vì hiện nay người dân, doanh nghiệp đang mong đợi hướng dẫn ở nghị định, thông tư để thực hiện đồng bộ”, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Nhân Ngày Môi trường thế giới (5.6) và Ngày Đại dương thế giới (8.6), chúng ta cùng nhau suy ngẫm sâu sắc hơn về một vấn đề hệ trọng của thời đại, đó là quan hệ giữa con người với thiên nhiên đang đứng trước những chuyển biến lớn, đòi hỏi cách tiếp cận mới về phát triển, trách nhiệm và hành động. Môi trường an toàn và đại dương hòa bình, bền vững là vấn đề trung tâm của phát triển, an ninh, hòa bình, công bằng, đạo đức và sự trường tồn của các quốc gia dân tộc.
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc chưa từng có về môi trường sinh thái. Trái đất nóng lên liên tục, thời tiết cực đoan, băng tan, nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường biển và đại dương đang tác động trực tiếp đến mọi châu lục. Sự mất cân bằng ấy cho thấy giới hạn của tự nhiên đang bị đẩy đến mức nguy hiểm.
Những thách thức đó đặt ra một câu hỏi lớn cho nhân loại: sự phát triển có bền vững không nếu nền tảng sinh thái nuôi dưỡng sự sống bị bào mòn? Trong nhiều thế kỷ, con người đã tạo nên những thành tựu vĩ đại về công nghiệp, khoa học, công nghệ, thương mại và đô thị hóa. Nhưng mô hình phát triển dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, tiêu thụ năng lượng hóa thạch, sản xuất tuyến tính và văn hóa tiêu dùng lãng phí cũng để lại những hệ quả nặng nề về môi trường sinh thái.
Từ nhận thức đó, bảo vệ môi trường phải được nhìn nhận như một nội dung cốt lõi của an ninh quốc gia và an ninh con người. Một quốc gia có thể có tăng trưởng cao, nhưng nếu người dân phải sống trong ô nhiễm và suy thoái môi trường thì chưa thể coi là phát triển bền vững. Một xã hội hiện đại và thịnh vượng phải là xã hội biết làm giàu trong giới hạn sinh thái, sử dụng tài nguyên với trách nhiệm, xem thiên nhiên là điều kiện tồn tại, là tài sản quốc gia và là di sản của các thế hệ mai sau.
Đại dương càng cho thấy rõ hơn tính liên thông tác động lẫn nhau của nhân loại. Biến động khí hậu hay bất ổn ở một vùng đại dương có thể ảnh hưởng đến an ninh lương thực, thương mại, năng lượng và sinh kế của nhiều quốc gia. Vì vậy, bảo vệ đại dương không chỉ là nghĩa vụ môi trường mà còn là yêu cầu của hòa bình, hợp tác, luật pháp quốc tế, công bằng phát triển và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế.
Đối với Việt Nam, những vấn đề đó có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Việt Nam là quốc gia biển, chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Hơn 3.260 km bờ biển, hai đồng bằng lớn, hệ thống sông ngòi dày đặc, nhiều đô thị ven biển, nơi hàng triệu ngư dân và cộng đồng sinh sống, nên đất nước ta dễ bị tổn thương trước tình trạng nước biển dâng, bão lũ, xâm nhập mặn, sạt lở, ô nhiễm, suy giảm nguồn lợi và biến động sinh thái, cũng như sự khai thác quá mức thiên nhiên.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã thể hiện trách nhiệm mạnh mẽ trước cộng đồng quốc tế thông qua cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng, giảm rác thải nhựa đại dương, phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo tồn đa dạng sinh học và thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. Những cam kết ấy không phải là nghĩa vụ bên ngoài đưa lại, mà là nhu cầu tự thân của đất nước. Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững, trở thành quốc gia có thu nhập cao phải thực hiện đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ, chuyển đổi số và bảo đảm an toàn môi trường sinh thái.
Truyền thống văn hóa các vùng, miền và làng quê Việt Nam từ lâu đã chứa đựng tinh thần hòa hợp với thiên nhiên. Trong thời đại mới, truyền thống ấy cần được nâng lên thành hệ giá trị phát triển hiện đại: tôn trọng tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên, tiêu dùng có trách nhiệm, sản xuất sạch hơn, công nghệ xanh hơn, quản trị minh bạch hơn và công bằng hơn giữa các thế hệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn xa rộng, từ rất sớm đã đặt con người, thiên nhiên và tương lai dân tộc trong một chỉnh thể thống nhất. Người căn dặn: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Trong tư tưởng ấy, "trồng cây" là hành động thiết thực để gây dựng môi trường sống; "trồng người" là sự nghiệp căn bản để xây dựng chủ thể phát triển có tri thức, đạo đức và trách nhiệm. Người cũng viết: "Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân". Đó là lời kêu gọi giản dị mà vượt thời gian, mỗi cây xanh được trồng xuống là một niềm hy vọng vào tương lai, mỗi hành động bảo vệ thiên nhiên là một cách làm cho đất nước thêm bền vững, tươi đẹp và nhân văn.
Đối với biển, đảo, Người từng căn dặn đồng bào Cát Bà, Cát Hải: "…rừng là vàng, biển là bạc. Rừng biển là của ta, do nhân dân ta làm chủ, phải ra sức khai thác, bảo vệ …". Câu nói ấy chứa đựng một quan điểm phát triển sâu sắc, quyền làm chủ tài nguyên luôn đi liền với trách nhiệm gìn giữ, khai thác phải gắn với bảo vệ, phát triển hôm nay phải nghĩ đến ngày mai. Biển không chỉ là nguồn lợi kinh tế mà còn là không gian sinh tồn, không gian chủ quyền, không gian văn hóa, không gian kết nối và không gian chiến lược của dân tộc Việt Nam.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu của thời đại, chúng ta cần xác lập một quan điểm chỉ đạo xuyên suốt rằng phát triển xanh, bảo vệ môi trường, bảo vệ đại dương và ứng phó biến đổi khí hậu phải trở thành một trụ cột của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây không phải là việc riêng của ngành tài nguyên và môi trường mà là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, từng địa phương, từng gia đình và mỗi người dân.
Muốn vậy, trong thời gian tới, cần tập trung vào sáu nhóm nhiệm vụ lớn.
Thứ nhất, hoàn thiện tư duy phát triển và thể chế quản trị môi trường theo hướng coi thiên nhiên là nền tảng của phát triển bền vững. Mọi chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển phải được đặt trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái, khả năng thích ứng khí hậu và yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân. Cần thay đổi tư duy từ xử lý ô nhiễm sau phát triển sang phòng ngừa ô nhiễm ngay từ thiết kế phát triển. Đổi mới phương thức quản trị môi trường và tài nguyên theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Mở rộng thước đo phát triển, không dừng ở sản lượng hay tốc độ tăng trưởng mà bao gồm chất lượng sống, hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức phát thải, năng lực chống chịu khí hậu và công bằng xã hội. Thể chế phải bảo đảm nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí, người bảo vệ thiên nhiên phải được hưởng lợi, địa phương phát triển xanh phải được khuyến khích, doanh nghiệp đổi mới xanh phải được hỗ trợ, còn hành vi hủy hoại môi trường phải bị xử lý nghiêm minh.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng, cơ cấu năng lượng, sản xuất, tiêu dùng và đô thị hóa. Chuyển đổi xanh phải trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với an ninh hệ thống, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy công nghiệp ít phát thải, nông nghiệp sinh thái, giao thông công cộng, công trình xanh, vật liệu xanh và kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi, bởi chính doanh nghiệp là nơi đổi mới công nghệ, tổ chức lại chuỗi cung ứng, tạo việc làm xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế. Nhà nước cần có chính sách tài chính xanh, tín dụng xanh, mua sắm công xanh, tiêu chuẩn phát thải, cơ chế định giá các-bon và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ, vốn và thị trường.
Thứ ba, phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ chủ quyền, sinh kế nhân dân và hòa bình trên biển. Việt Nam coi gìn giữ môi trường biển, bảo vệ các hệ sinh thái biển, phát triển kinh tế biển bền vững phải đi liền với giữ vững hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982; kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, và cùng xây dựng Biển Đông thành vùng biển của hợp tác, trách nhiệm và phát triển bền vững. Việt Nam sẽ xác lập mô hình phát triển kinh tế biển hiện đại hơn dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu biển, bảo tồn hệ sinh thái; phát triển hệ thống cảng biển xanh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp sinh học biển, du lịch sinh thái biển đảo, dịch vụ hàng hải, v.v... Cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác hải sản bất hợp pháp, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nâng cao đời sống ngư dân.
Thứ tư, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên và xây dựng năng lực thích ứng khí hậu như một hạ tầng chiến lược của quốc gia. Đầu tư cho thiên nhiên là đầu tư cho tương lai. Tích cực phòng chống thiên tai, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng và ổn định sinh kế. Cần ưu tiên phục hồi rừng đầu nguồn, rừng ven biển, rừng ngập mặn. Bảo vệ nghiêm các hệ sinh thái nhạy cảm; kiểm soát khai thác cát, nước ngầm, tài nguyên ven bờ. Xây dựng các đô thị thích ứng với khí hậu, tái thiết không gian sông, hồ, kênh rạch; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và quản trị rủi ro thiên tai. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung ven biển, miền núi phía bắc và các đô thị lớn, thích ứng khí hậu phải trở thành nội dung cốt lõi của quy hoạch phát triển, đầu tư công và bảo đảm an sinh.
Thứ năm, xây dựng nền quản trị môi trường dựa trên khoa học, dữ liệu, công nghệ số và sự tham gia của xã hội. Cần xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về phát thải, chất lượng nước, không khí, rác thải, đa dạng sinh học, tài nguyên biển, sạt lở, xâm nhập mặn, rủi ro khí hậu và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường của doanh nghiệp. Công nghệ vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, cảm biến môi trường, bản đồ số, cơ sở dữ liệu biển đảo, mô hình dự báo thiên tai và nền tảng phản ánh của người dân cần được ứng dụng rộng rãi. Người dân có quyền được biết về chất lượng môi trường nơi mình sống, doanh nghiệp có nghĩa vụ minh bạch tác động môi trường, cơ quan nhà nước phải ra quyết định dựa trên bằng chứng và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Cùng với đó, cần thúc đẩy giáo dục môi trường trong trường học, cộng đồng và xã hội; truyền thông khoa học, lối sống xanh, phân loại rác tại nguồn, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần và xây dựng văn hóa công dân sinh thái trong toàn xã hội.
Thứ sáu, bảo đảm công bằng trong chuyển đổi xanh và tăng cường hợp tác quốc tế vì khí hậu, môi trường và đại dương. Chuyển đổi xanh chỉ có thể thành công khi đó là quá trình công bằng, bao trùm và nhân văn. Những người nghèo, lao động trong các ngành phát thải cao, cộng đồng ven biển, phụ nữ, trẻ em và các nhóm dễ tổn thương cần được hỗ trợ về sinh kế, đào tạo nghề, tài chính, bảo hiểm rủi ro, hạ tầng thích ứng và tiếp cận dịch vụ xã hội. Cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh; tạo sinh kế bền vững cho người dân bảo vệ môi trường sinh thái.
Việt Nam kêu gọi cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển, thực hiện đầy đủ và thực chất hơn các cam kết về tài chính khí hậu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hỗ trợ thích ứng, bồi đắp năng lực quản trị và mở rộng thị trường cho các sản phẩm xanh của các nước đang phát triển. Các nước công nghiệp phát triển đã đi trước trong quá trình công nghiệp hóa, đã tích lũy của cải trong một thời gian dài dựa trên mức phát thải lớn hơn và có năng lực tài chính, công nghệ vượt trội hơn. Vì vậy, trách nhiệm của họ trong ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đại dương và phục hồi hệ sinh thái toàn cầu phải tương xứng với năng lực hiện tại và trách nhiệm lịch sử. Một trật tự xanh công bằng phải giúp các nước đang phát triển không bị bỏ lại phía sau, không biến các tiêu chuẩn môi trường thành rào cản thương mại mới.
Các nước đang phát triển cần quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện các cam kết xanh. Nhưng lộ trình chuyển đổi phải phù hợp với trình độ phát triển, năng lực công nghệ, điều kiện ngân sách, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và sinh kế của người dân.
Việt Nam sẵn sàng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong các nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm ô nhiễm nhựa, bảo vệ đại dương, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng và xây dựng nền kinh tế xanh. Chúng ta mong muốn cùng các đối tác phát triển một khuôn khổ hợp tác thực chất hơn, trong đó tài chính xanh đến được với những nơi cần nhất, công nghệ sạch được chia sẻ rộng rãi hơn, tri thức quản trị được lan tỏa nhanh hơn, và lợi ích của chuyển đổi xanh được phân bổ công bằng hơn giữa các quốc gia, các cộng đồng và các thế hệ.
Sáu nhóm nhiệm vụ trên đây phải được triển khai bằng tinh thần hành động thực chất với sự chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội. Mỗi địa phương phải có chương trình hành động phù hợp với đặc điểm sinh thái và mô hình phát triển của mình. Mỗi bộ, ngành phải tích hợp mục tiêu xanh vào chính sách chuyên ngành. Mỗi doanh nghiệp phải coi tuân thủ môi trường là tiêu chuẩn tồn tại và đổi mới xanh là điều kiện cạnh tranh. Mỗi người dân phải biến tình yêu thiên nhiên, yêu biển đảo, yêu quê hương thành hành động cụ thể hằng ngày.
Ngày Môi trường thế giới và Ngày Đại dương thế giới nhắc chúng ta ngưỡng chịu đựng của trái đất có giới hạn, đại dương đang bị tổn thương và hành động trách nhiệm của nhân loại. Chúng ta đứng trước sứ mệnh kiến tạo một Việt Nam xanh, trách nhiệm và bền vững trong thế kỷ XXI; một mô hình phát triển thịnh vượng, nhân văn, hiện đại và hài hòa với thiên nhiên; xây dựng đất nước giàu mạnh mà môi trường vẫn trong lành, biển đảo vẫn bình yên, dòng sông vẫn xanh, cánh rừng vẫn đại ngàn và mỗi người dân được sống an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc.
Mỗi người Việt Nam hãy bắt đầu từ một việc cụ thể: trồng và chăm một cây xanh, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần, tiết kiệm năng lượng, phân loại rác, bảo vệ nguồn nước, giữ sạch bãi biển, lan tỏa một thói quen sống xanh, hãy hành động vì tương lai của Việt Nam luôn mãi xanh tươi và bền vững.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong bài viết, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN Bùi Thị Minh Hoài khẳng định, Đại hội XIV của Đảng không chỉ xác lập mục tiêu, tầm nhìn chiến lược cho chặng đường phát triển tiếp theo, mà còn đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa lịch sử của đất nước khi bước vào kỷ nguyên mới. Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước VN hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, MTTQ VN tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Theo Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN, thời gian qua, cùng với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống Mặt trận, MTTQ VN các cấp tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong việc phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động lớn như phong trào "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025" được MTTQ VN các cấp và tổ chức thành viên triển khai ngày càng thiết thực, sáng tạo, có chiều sâu, gắn với nhu cầu, lợi ích của nhân dân và yêu cầu phát triển của đất nước được nhân dân hưởng ứng rộng rãi. Công tác tổ chức vận động hỗ trợ đồng bào bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh cũng được tổ chức triển khai kịp thời với cách làm công khai, minh bạch, tạo môi trường, điều kiện để đông đảo người dân và tổ chức, cá nhân chung tay giúp đỡ cộng đồng…
Quán triệt sâu sắc tinh thần Đại hội XIV của Đảng và hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, MTTQ VN phát huy mạnh mẽ vai trò nòng cốt chính trị trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; được cụ thể hóa bằng định hướng mang tính chiến lược, đồng bộ và khả thi; trọng tâm là nâng cao năng lực tham gia quản trị xã hội, góp phần hoàn thiện và vận hành hiệu quả cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Để thực hiện yêu cầu này, bà Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh, MTTQ VN cần tập trung triển khai thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm.
Theo đó, MTTQ VN tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hành động nhằm vận động sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. "Thực hiện nhất quán phương châm "Khi dân cần Mặt trận có, khi dân khó Mặt trận sẵn sàng tham gia", đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân", Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN nêu rõ và yêu cầu tập trung triển khai Đề án "Chuyển đổi số MTTQ VN giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn 2035" trong hệ thống MTTQ, các tổ chức thành viên nhằm chủ động, kịp thời hơn trong việc nắm bắt và phản ánh nguyện vọng của nhân dân.
Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội theo hướng đi vào vấn đề lớn, gắn với lợi ích thiết thực của nhân dân theo tinh thần "rõ việc - rõ trách nhiệm - rõ hiệu quả". Đẩy mạnh thể chế hóa vai trò của MTTQ VN tham gia từ sớm, ngay từ khâu xây dựng chính sách. Tăng cường thể chế hóa và thực hiện hiệu quả phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" theo hướng cụ thể, có thể đo lường, nhất là trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân.
Thứ ba, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN nhấn mạnh, cần đổi mới phương thức phát động các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động với sự tham gia và thực hiện của toàn dân, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ VN, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo mô hình tổ chức mới, ở T.Ư, cấp tỉnh, cấp xã, hướng mạnh về cơ sở. Cán bộ MTTQ VN và các đoàn thể phải giữ vai trò nòng cốt, bảo đảm vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân của MTTQ VN, giữ "3 gần": gần dân - gần cơ sở - gần không gian số; "5 phải": phải lắng nghe - phải đối thoại - phải làm mẫu - phải chịu trách nhiệm - phải báo cáo kết quả; "4 không": không hình thức - không né tránh - không đùn đẩy - không làm sai chức năng.
"Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, với vị trí, vai trò và sứ mệnh của mình, MTTQ VN, các tổ chức thành viên sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, niềm tin, khát vọng cống hiến; quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn lực lượng vũ trang thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; vì một nước VN hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH", Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN Bùi Thị Minh Hoài nêu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong ngày làm việc đầu tiên, đại hội tiến hành phiên trù bị, thảo luận, hiệp thương cử Đoàn Chủ tịch và Đoàn Thư ký đại hội. Cùng đó, các đại biểu sẽ thông qua chương trình và quy chế làm việc của đại hội; nghe báo cáo tình hình đại biểu tham dự đại hội; báo cáo kiểm điểm hoạt động của Ủy ban T.Ư, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ VN giai đoạn 2024 - 2026. Đồng thời, nghe trình sửa đổi, bổ sung Điều lệ MTTQ VN, thảo luận về các chương trình hành động nhiệm kỳ mới.
Đại hội là dấu mốc lịch sử, mở đầu cho nhiệm kỳ vận hành bộ máy khi các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ về trực thuộc MTTQ VN. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh: "Việc thực hiện sắp xếp, tinh gọn các tổ chức chính trị - xã hội về dưới "mái nhà chung" Mặt trận không đơn thuần là một giải pháp cơ học nhằm giảm bớt đầu mối hành chính hay tinh giản biên chế, mà đây là quyết tâm chính trị cao nhất, là bước đi chiến lược nhằm hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư về một hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp thiết để đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới".
Sự hội tụ này tạo nên một không gian đoàn kết rộng lớn, quy tụ những lực lượng nòng cốt, tiêu biểu của toàn xã hội, góp phần thực hiện tốt hơn vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ VN trong giai đoạn mới. Các phong trào, cuộc vận động như xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững hay chăm lo an sinh xã hội đều có sự tham gia đồng bộ, trách nhiệm của các tổ chức thành viên, tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Khi cùng chung mục tiêu phục vụ nhân dân, các tổ chức không còn hoạt động riêng lẻ mà trở thành những "cánh tay nối dài" của Mặt trận, cùng hướng tới nhiệm vụ cốt lõi là tập hợp, đoàn kết, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Bà Nông Thị Mai Huyền, Trưởng ban Tổ chức - Kiểm tra Cơ quan Ủy ban T.Ư MTTQ VN, cho biết thực hiện nhất quán việc sắp xếp, thống nhất tinh gọn các cơ quan tham mưu giúp việc của Ủy ban T.Ư MTTQ VN và các tổ chức chính trị - xã hội, Ủy ban đã thực hiện sắp xếp cơ quan tham mưu giúp việc chung từ T.Ư đến cấp cơ sở. Bước đầu cho thấy cơ quan giúp việc chung đi vào hoạt động ổn định, nâng cao chất lượng công tác phối hợp, thống nhất hành động trong việc thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; hoạt động giám sát, phản biện xã hội và các chương trình hành động mà MTTQ VN đã đề ra.
Chánh văn phòng Cơ quan Ủy ban T.Ư MTTQ VN Nguyễn Bình Minh thông tin Dự thảo Báo cáo chính trị nhiệm kỳ mới đã xây dựng hệ thống giải pháp, nhiệm vụ vừa mang tính bao quát toàn diện các yêu cầu của Đảng và nhân dân, vừa cụ thể hóa để MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên dễ dàng triển khai.
Cùng đó, các chỉ tiêu được đề ra cụ thể cho nhiệm kỳ mới, được rà soát kỹ lưỡng, đảm bảo tính khả thi cao hơn và có thể đo lường được hiệu quả thực hiện. Báo cáo chính trị lần này đặt ra trong bối cảnh rất đặc biệt, kế thừa những điểm ưu việt và có 3 nội dung trọng tâm, gồm: cụ thể hóa tinh thần các nghị quyết của Đảng vào báo cáo chính trị; thể hiện vai trò, vị thế lớn hơn của Mặt trận trong việc xây dựng tương tác, đối tác với các tổ chức chính trị - xã hội và các hội đoàn; bám sát các mục tiêu cụ thể. Dự thảo lần này xây dựng các nhóm giải pháp vừa mang tính bao quát hết các yêu cầu đối với công tác Mặt trận, vừa mang tính cụ thể để các tổ chức thành viên dễ thực hiện.
Dự thảo Báo cáo chính trị đã đề ra 3 đột phá chiến lược gồm: hoàn thiện cơ chế, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ VN các cấp, tập trung hướng về cơ sở và địa bàn dân cư; nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo hướng chủ động, từ sớm, từ xa, ngay từ khâu xây dựng chính sách; Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Một điểm mới nổi bật khác so với nhiệm kỳ trước là việc bổ sung chương trình hành động số 7 về tham gia phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống MTTQ VN. Phó chánh Văn phòng Cơ quan Ủy ban T.Ư MTTQ VN Nguyễn Bá Cát cho biết cùng với cả hệ thống chính trị, thời gian vừa qua, công tác phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gắn với thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được MTTQ VN các cấp quan tâm tập trung triển khai thực hiện và đạt được một số kết quả nổi bật như: Hệ thống văn bản chỉ đạo cốt lõi được hoàn thiện, làm nền tảng để triển khai trong toàn hệ thống: Đề án Chuyển đổi số MTTQ VN giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035; Kiến trúc số MTTQ VN; Quy trình nghiệp vụ lõi MTTQ VN trên môi trường số; Chiến lược dữ liệu, Kiến trúc dữ liệu MTTQ VN…
Các nền tảng số dùng chung, thống nhất phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của MTTQ VN các cấp được đưa vào vận hành trong toàn hệ thống: Hệ thống Điều hành tác nghiệp MTTQ VN; Cổng Mặt trận số... Cùng đó, phong trào "Bình dân học vụ số" được triển khai tích cực trong toàn hệ thống Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo được sự lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Chuyển đổi số sẽ tạo ra cơ hội để Mặt trận đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường tương tác với nhân dân, nâng cao chất lượng nắm bắt, tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, qua đó phát huy tốt hơn vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thời gian tới.
"Chương trình hành động tập trung vào 3 trọng tâm chính "nhận thức số - nền tảng số - dữ liệu số" thông qua triển khai các giải pháp căn cơ: phong trào "Bình dân học vụ số", phát triển hệ sinh thái các nền tảng số thống nhất, dùng chung, liên thông và xây dựng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ ra quyết định của lãnh đạo Mặt trận các cấp. Từ nền tảng này, hoạt động của MTTQ VN nhiệm kỳ mới sẽ được đổi mới về phương thức, đúng với phương châm "gần dân, sát dân, gần không gian số" như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo", ông Nguyễn Bá Cát cho biết.
Tháng 9.2025, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ MTTQ, các đoàn thể T.Ư lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: "Điều tôi mong muốn nhất ở nhiệm kỳ này là thấy rõ sự đổi thay ở cấp cơ sở: họp ít hơn; làm việc, hành động nhiều hơn; ít khẩu hiệu hơn, nhưng kết quả nhiều hơn; ít thủ tục hơn, nhiều nụ cười của nhân dân hơn". Vậy trong nhiệm kỳ mới, MTTQ VN sẽ cụ thể hóa chỉ đạo này như thế nào là câu hỏi được đặt ra tại cuộc họp báo trước thềm Đại hội XI.
Chánh văn phòng Cơ quan Ủy ban T.Ư MTTQ VN Nguyễn Bình Minh cho biết để hiện thực hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Dự thảo Báo cáo chính trị đã xây dựng kế hoạch hành động gắn kết chặt chẽ với cơ sở. Trong 15 chỉ tiêu nhiệm kỳ có tới 12 chỉ tiêu gắn trực tiếp với cơ sở. Điều này đảm bảo các hoạt động của Mặt trận thực sự đi vào đời sống người dân. Cùng đó là sự phân công nhiệm vụ chi tiết, quy định rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, cấp chỉ đạo và tiến độ thực hiện cụ thể cho từng giai đoạn, với phương châm "3 dễ, 3 rõ, 3 đo". Đồng thời, đổi mới công tác lắng nghe ý kiến nhân dân thông qua việc triển khai nền tảng "Mặt trận số" để tiếp nhận phản hồi của người dân 24/7 và tổ chức các diễn đàn "Nghe dân nói" ở tất cả các cấp.
Cạnh đó, công tác đảm bảo an sinh xã hội cũng là một trong những trọng tâm của nhiệm kỳ mới. Theo Trưởng ban Công tác xã hội Cơ quan Ủy ban T.Ư MTTQ VN Cao Xuân Thạo, các hoạt động an sinh sẽ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Chính phủ, trong đó Mặt trận đóng vai trò nòng cốt kêu gọi sự vào cuộc của nhân dân và sự ủng hộ của cộng đồng. Đồng thời, tận dụng tối đa ứng dụng công nghệ số, xây dựng "Bản đồ tương tác dân sinh" để khảo sát và mô phỏng toàn bộ nhu cầu, nguy cơ rủi ro của đồng bào tại các vùng khó khăn, vùng thiên tai, từ đó tăng cường khả năng ứng phó nhanh và tổ chức vận động cộng đồng hiệu quả hơn khi có tình huống khẩn cấp xảy ra.
"MTTQ VN sẽ tăng cường phân công, phối hợp đối với các tổ chức thành viên như Hội Chữ thập đỏ VN để tạo ra hiệu ứng lan tỏa và hiệu quả tốt nhất trong công tác an sinh xã hội", ông Cao Xuân Thạo cho hay.
Một trong những nội dung và nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận là công tác giám sát, phản biện xã hội. Bà Phạm Thị Hồng, Phó trưởng ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội Cơ quan Ủy ban T.Ư MTTQ VN, cho biết Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ VN luôn quan tâm và xác định hoạt động giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm.
Để tiếp tục cụ thể hóa quan điểm, chỉ đạo của Đảng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ VN đã chỉ đạo tiếp tục thực hiện và nghiên cứu, ban hành hướng dẫn "Tháng nghe dân nói", đồng thời ban hành hướng dẫn để thực hiện hiệu quả các quy định về dân chủ ở cơ sở nhằm hiện thực hóa phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Mục tiêu cuối cùng để thực hiện hiệu quả quyền và trách nhiệm của MTTQ VN theo quy định và đáp ứng yêu cầu của Đảng cũng như kỳ vọng của nhân dân trong thời kỳ mới, đảm bảo tinh thần "trọng dân, gần dân, sát dân và phục vụ nhân dân tốt hơn nữa".
Tin Gốc: Thanh Niên

