Với mặt tiền được trang trí bằng các cột, bệ đỡ và tượng khổng lồ theo phong cách La Mã, nhà ga xe lửa chính của Milan (Stazione di Milano Centrale), một trong những nhà ga lớn nhất châu Âu, thứ hai ở Italy, là một điểm tham quan du lịch. Điểm đến kết nối hơn 20 sân ga khác, được khánh thành vào năm 1931.
Nhà ga từng xuất hiện trong màn giới thiệu Thế vận hội Mùa đông Milano-Cortina 2026 đầu năm nay. Đến đây, du khách sẽ nhìn thấy các tấm áp phích treo khắp nơi với dòng chữ L’emozione di essere italiani – niềm tự hào khi được là người Italy.
Tuy nhiên, công trình cũng đại diện cho một khía cạnh khác, ít hào nhoáng hơn. Nhà ga là một trong những công trình nổi tiếng của đất nước được hoàn thành dưới thời phát xít, nhiều lần được chỉnh sửa để bổ sung các biểu tượng của chế độ độc tài Benito Mussolini.
Bên dưới khu vực phục vụ hành khách chính của trung tâm là một sân ga bí mật từng được sử dụng cho những mục đích khác nhau trong Thế chiến II (1939-1945).
Ẩn giấu suốt nhiều thế hệ, Binario 21, Sân ga số 21 là khu vực ngầm nơi quân Đức Quốc xã cùng đồng minh đã đưa người Do Thái và các đối thủ chính trị lên đường tới các trại tử thần thời Thế chiến II. Sự thật đen tối này phải đến năm 1994, các nhà nghiên cứu mới nhận ra. Ngay cả ngày nay, hơn 320.000 hành khách đi qua ga Stazione Centrale mỗi ngày hầu như không biết gì về lịch sử gây sốc này.
Hiện tại, không gian này đã được chuyển đổi thành Memoriale della Shoah di Milano – đài tưởng niệm Holocaust (Đài tưởng niệm thảm họa) của thành phố. Du khách có thể đi dọc theo những sân ga bí mật, bước vào các toa chở hàng mà phe phát xít từng cải tạo để vận chuyển con người, đồng thời lắng nghe những lời chứng ám ảnh của các nạn nhân sống sót sau Holocaust. Tất cả diễn ra trong khi phía trên đầu họ vẫn vang lên tiếng phanh rít và tiếng tàu lửa rung chuyển trên đường ray.
Khi Stazione Centrale mở cửa vào năm 1931, quyền lực của Mussolini đang ở đỉnh cao sau 9 năm lên nắm quyền, theo Vanda Wilcox, giáo sư lịch sử châu Âu hiện đại tại Đại học John Cabot.
Italy tham gia Thế chiến II cùng phe Đức Quốc xã vào ngày 10/6/1940. Ba năm sau, Mussolini bị lật đổ, nước này ký hiệp định đình chiến với phe Đồng minh vào tháng 9/1943.
Đáp trả động thái đó, Đức Quốc xã xâm lược đồng minh cũ, chiếm đóng miền bắc và miền trung Italy. Chính quyền Đức dựng lại Mussolini làm lãnh đạo một nhà nước bù nhìn mang tên Repubblica Sociale Italiana (RSI), đặt trụ sở tại hồ Garda và trên danh nghĩa cai trị phần lớn miền Bắc Italy.
Chủ nghĩa phát xít Italy từ lâu đã nhuốm màu bài Do Thái với Bộ luật Chủng tộc năm 1938 của Mussolini đã tước bỏ các quyền công dân của người Do Thái. Đức Quốc xã, với sự hỗ trợ của RSI, đã biến khu vực rộng gần 8.000 m2 này từ nơi xử lý thư tín và hàng hóa thành nơi “xử lý” con người.
Toàn bộ quá trình phần lớn được tiến hành bí mật, với các cuộc trục xuất diễn ra vào ban đêm. “Các xe tải sẽ chạy vào khu vực tiền sảnh”, Milena Santerini, chính trị gia kiêm Phó chủ tịch Quỹ Memoriale della Shoah di Milano, cho biết.
Không chỉ người Do Thái bị đưa tới cái chết. Các đối thủ chính trị và bất kỳ ai chống lại Đức Quốc xã đều bị đưa qua Milano Centrale. Nhiều người trong số đó là công nhân nhà máy từ chối sản xuất vũ khí cho quân chiếm đóng Đức. Họ bị trục xuất hàng loạt tới Mauthausen, trại lao động khổ sai ở Áo, nơi rất nhiều người bị bóc lột tới chết, theo Colacicco.
Rất ít hồ sơ còn sót lại từ giai đoạn đó, và chưa từng có ai tham gia vào các cuộc trục xuất đứng ra làm chứng về những gì đã xảy ra dưới lòng nhà ga, khiến việc xác định tổng số người bị đưa đi trở nên vô cùng khó khăn, Colacicco cho biết.
Hiện chỉ còn tồn tại hai danh sách hành khách, thuộc hai đoàn tàu đầu tiên rời Milan tới Auschwitz vào tháng 12/1943 và tháng 1/1944. Trong danh sách có 774 cái tên, nhưng chỉ 27 người sống sót. Tổng cộng, theo Colacicco, đã có hơn 20 đoàn tàu rời khỏi nhà ga và các nghiên cứu mới cho thấy hai danh sách đầu tiên đó thậm chí còn chưa đầy đủ.
Những người bị trục xuất bị nhồi nhét vào các toa tàu gỗ vốn trước đó dùng để chở hàng hóa, thậm chí cả gia súc. Mỗi toa bị ép chứa từ 60 đến 80 người, chật tới mức họ không thể ngồi xuống. Trong khi đó, nếu dùng để vận chuyển ngựa, mỗi toa chỉ được phép chở tối đa sáu con.
“Không có cửa sổ, không có nhà vệ sinh, không có thức ăn hay nước uống. Hành trình dài 1.250 km tới Auschwitz kéo dài suốt bảy ngày. Thật khó để tưởng tượng những gì họ đã phải trải qua”, Santerini nói.
Một số đoàn tàu thậm chí còn đi về phía đông nam tới Fossoli, trại tập trung dành cho người Do Thái ở vùng Emilia Romagna, trước khi quay ngược lên phía bắc tới Auschwitz. Đôi khi là để gom thêm người, đôi khi vì lý do kỹ thuật hoặc vì Auschwitz đã quá tải.
Việc quân Đồng minh tiến vào Milan và giải phóng Italy vào tháng 4/1945 đã chấm dứt các đoàn tàu tử thần. Những người tham gia vào hoạt động trục xuất đều giữ im lặng, còn phần lớn nạn nhân đã bị sát hại. Những người sống sót kể rằng họ bị ép bước vào một nơi giống như “hang động” rồi bị nhốt lên các toa tàu. Họ cũng nhớ tới một chuyển động kỳ lạ – cảm giác như bị nâng lên cao trước khi đoàn tàu lăn bánh.
Một trong những lời chứng quan trọng nhất đến từ Liliana Segre, người bị đưa tới Auschwitz cùng cha vào ngày 30/1/1944. Khi đó bà mới 13 tuổi và là người duy nhất trong gia đình sống sót. Nay ở tuổi 95, bà được bổ nhiệm làm “thượng nghị sĩ trọn đời” của Italy vào năm 2018.
Khu vực này được mở cửa cho công chúng vào năm 2013. Đây là địa điểm duy nhất liên quan tới các cuộc trục xuất của Đức Quốc xã còn được bảo tồn nguyên vẹn.
Ngày nay, du khách bước vào theo chính con đường mà các đoàn tàu tử thần từng đi qua. Hai sân ga ngầm nguyên bản vẫn được giữ nguyên. Trên một sân ga là những toa tàu cổ; sân ga còn lại để trống. Trên bức tường phía sau là tên của 774 người trong danh sách hành khách của hai đoàn tàu đầu tiên.
“Điều đó cho thấy đằng sau những con số là những con người có thật”, Santerini nói.
Colacicco cho rằng đây là một địa điểm đặc biệt quan trọng đối với người dân địa phương. Nó đại diện cho cơ hội để chúng ta nhìn lại quá khứ của chính mình, quá khứ của người dân Italy, bởi sau 80 năm, con người phần nào đã lãng quên những gì từng xảy ra.
Trên thế giới có không ít điểm đến nổi tiếng vì số lượng một loài động vật vượt xa dân số con người. Bang Montana của Mỹ có số bò nhiều gấp đôi số người dân. Trong khi đó ở New Zealand lại nổi tiếng với đàn cừu đông hơn dân số, còn đảo Aoshima ở Nhật Bản được biết đến là "đảo mèo" vì mèo nhiều hơn người.
Tuy nhiên, trên đảo Kauai thuộc tiểu bang Hawaii (Mỹ), loài động vật chiếm ưu thế lại là gà.
Theo ước tính, đảo Kauai hiện có khoảng 450.000 con gà sống hoang dã. Trong khi dân số con người chỉ khoảng 75.000 người. Điều đó đồng nghĩa với việc, ước tính trung bình cứ một cư dân trên đảo lại có tới khoảng 6 con gà.
Đối với nhiều du khách, những đàn gà hoang không phải là điều nằm trong danh sách trải nghiệm khi tới Kauai. Thế nhưng, chúng xuất hiện ở khắp nơi trên hòn đảo nhiệt đới nổi tiếng này.
Câu hỏi khiến nhiều người đặt ra đó là, vì sao nơi này nhiều gà hoang đến thế? Từ bãi biển, công viên, bãi đỗ xe cho tới các khu dân cư, du khách đều dễ dàng bắt gặp những đàn gà tự do đi lại khắp nơi. Tuy nhiên người dân địa phương không ai bắt chúng làm thực phẩm.
Bí ẩn phía sau sự bùng nổ số lượng gà
Theo các nhà nghiên cứu, câu chuyện bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước khi những người Polynesia đầu tiên mang gà tới Hawaii để làm thực phẩm và phục vụ đời sống văn hóa.
Tuy nhiên, bước ngoặt lớn xảy ra vào những năm của thế kỷ trước.
Hai cơn bão mạnh là Iwa xảy ra vào năm 1982 và cơn bão Iniki của năm 1992 đã tàn phá nhiều khu vực trên đảo Kauai. Những vụ thiên tai này phá hủy hàng loạt chuồng trại và đưa số lượng lớn gà nuôi được "phóng thích" ra môi trường tự nhiên.
Những con gà này sau đó lai với gà rừng đỏ (Red Junglefowl), một giống gà cổ có khả năng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên.
Một yếu tố khác góp phần tạo nên vương quốc gà tại Kauai là hòn đảo này không có cầy mangut (mongoose). Chúng vốn là loài săn mồi được đưa tới nhiều đảo khác ở Hawaii để kiểm soát quần thể chuột và chim hoang dã.
Không có thiên địch tự nhiên cùng khí hậu nhiệt đới thuận lợi quanh năm đã giúp quần thể gà phát triển nhanh chóng. Kết quả là hàng chục nghìn con gà bán hoang dã bắt đầu sinh sôi trên khắp hòn đảo.
Người dân không bắt gà làm thực phẩm
Đến đảo Kauai, du khách có thể bắt gặp đàn gà xuất hiện ở bất cứ nơi nào. Tại các bãi biển, chúng tản bộ thong dong dọc theo bờ cát trắng. Trên các tuyến đường trekking, không ít con gà tỏ ra dạn dĩ và sẵn sàng tiếp cận du khách để tìm thức ăn.
Các bãi đỗ xe của siêu thị hay trung tâm thương mại cũng là nơi chúng thường xuyên tụ tập. Ngay cả tại các khu nghỉ dưỡng hoặc nhà cho thuê du lịch, tiếng gà trống gáy vào sáng sớm cũng là điều rất quen thuộc đối với du khách.
Nhiều người xem đây là nét độc đáo riêng của Kauai, trong khi số khác coi đó là trải nghiệm khó quên theo cả nghĩa tích cực lẫn hài hước.
Mặc dù chiếm số lượng đông đảo nhưng gà hoang ở đảo Kauai không được người dân tận dụng làm nguồn thực phẩm. Thậm chí, trứng của chúng cũng không trở thành thực phẩm phổ biến của người bản địa.
Trên một số diễn đàn cư dân tại Reddit, nhiều người đã chia sẻ lý do. Trong đó, đa phần người dân cho rằng, đàn gà hoang đóng vai trò kiểm soát các loài côn trùng gây hại như gián và rết.
Ngoài ra, họ cho rằng thịt gà hoang sẽ dai nên không ngon, có nguy cơ mang ký sinh trùng.
Có một câu chuyện hài hước mô tả về thịt của loài gà trên đảo Kauai được người dân truyền tai nhau kể lại rằng, nếu muốn ăn, người đầu bếp phải cho con gà và một hòn đá vào nồi nước sôi. Khi nào dùng nĩa xiên được qua hòn đá, lúc đó thịt gà mới có thể chín mềm.
Trở thành biểu tượng của hòn đảo
Bất chấp những bất tiện như tiếng gáy vào sáng sớm đánh thức mọi người, nhiều cư dân ở đảo Kauai vẫn dành nhiều tình cảm với đàn gà hoang.
"Chúng giúp kiểm soát côn trùng và là loài chim rất thông minh. Chúng đã trở thành một phần của hòn đảo này", một cư dân có tên Suzie nói.
Hiện đàn gà không nằm trong diện được pháp luật bảo vệ đặc biệt. Tuy nhiên phần lớn cư dân để chúng sống tự nhiên và xem đó là bản sắc của hòn đảo.
Du khách được khuyến cáo không cho gà ăn nhằm tránh gia tăng số lượng quần thể và khiến chúng phụ thuộc vào nguồn thức ăn từ con người. Đối với nhiều du khách, tiếng gà gáy, những đàn gà chạy tung tăng và sự hiện diện của chúng ở khắp nơi chính là một phần trải nghiệm độc đáo mà không nơi nào khác ở Hawaii có được.
Dù gây ra không ít phiền toái, những "cư dân có cánh" này đã trở thành nét riêng không thể tách rời khỏi nhịp sống của Kauai.
Buổi tối ở Hà Giang, lựa chọn ăn uống không nhiều, đặc biệt là các món ăn vặt. Dù vậy, du khách vẫn có thể tìm thấy một số hàng bán thắng dền - món ăn đặc trưng của Hà Giang, thường chỉ bán vào mùa lạnh.
"Giữa cảnh núi rừng hút gió mùa đông, ăn bát thắng dền tráng miệng sau bữa tối với thịt gác bếp, xúc xích lợn là lựa chọn hợp lý", ông Minh Huỳnh, lái xe người địa phương nói khi đang nhâm nhi bát thắng dền màu sắc sặc sỡ, thoạt nhìn như những viên kẹo nhỏ.
Thắng dền có ngoại hình tương đồng bánh trôi tàu Hà Nội hay bánh cống phù Lạng Sơn, được chế biến từ bột gạo nếp với nhân chay hoặc đậu đỗ. Bà Đặng Thị Hà Nga, người có hơn 10 năm bán món này tại đường Trần Hưng Đạo, phường Hà Giang 1, cho biết viên thắng dền chỉ to hơn đầu ngón tay, nhỏ hơn nhiều so với bánh trôi tàu nên mỗi bát thường có hơn 10 viên.
Bên cạnh màu trắng truyền thống, các quán hiện nay phục vụ thêm thắng dền ngũ sắc để tăng tính thẩm mỹ. Màu sắc này được tạo hoàn toàn từ nguyên liệu tự nhiên như gấc, nghệ, thanh long và hoa đậu biếc.
Quy trình làm món ăn này gần giống bánh trôi: gạo nếp ngon xay thành bột, sau đó giã lại để vỏ bánh đạt độ dai, không bị bở. Nước dùng được nấu từ đường, nước cốt dừa và gừng đun nóng. Bà Nga chia sẻ bí quyết quan trọng là gừng phải nướng chín, rửa sạch rồi mới đập dập đem đun để nước dùng dậy mùi thơm và không bị tanh như gừng sống. Tại cửa hàng, người bán luôn chuẩn bị hai nồi riêng biệt để luộc bánh và nấu nước đường gừng.
Khi có khách, chủ quán thả những viên bột vào nồi nước sôi, đợi khoảng 5-7 phút cho đến khi bánh nổi lên mặt nước. Bánh chín được vớt ra bát, chan nước đường gừng nóng hổi, sau đó rắc thêm vừng hoặc lạc rang.
Thực khách thường ngậm viên bánh nhỏ trong miệng để cảm nhận trọn vẹn vị ngọt béo của nước dùng, chút cay nồng của gừng nướng và vị bùi của vừng lạc.
Nghề bán thắng dền mang tính thời vụ, chủ yếu nhộn nhịp vào mùa đông. Bà Nga cho biết gia đình thường chuẩn bị nguyên liệu và nặn bánh vào buổi sáng để kịp mở hàng từ 18h đến 23h. Trung bình mỗi ngày, quán tiêu thụ khoảng 3 kg gạo nếp, những ngày rét đậm tăng lên 5 kg.
Đến khoảng sau tháng 2 âm lịch, khi thời tiết bắt đầu ấm lên, các hàng thắng dền sẽ nghỉ bán và chuyển sang phục vụ các loại chè truyền thống như chè đậu xanh, đậu đen hay đậu đỏ để phù hợp nhu cầu giải nhiệt.
Theo lộ trình, toàn bộ chuyến bay và dịch vụ đang khai thác tại sân bay quốc tế Dubai, bao gồm cả hãng hàng không Emirates, sẽ được chuyển dịch sang sân bay mới Al Maktoum còn gọi là Dubai World Central (DWC), nằm cách trung tâm Dubai khoảng 32 km về phía tây nam.
Dự án mở rộng sân bay DWC có tổng vốn đầu tư khoảng 28 tỷ bảng Anh (khoảng 38 tỷ USD), nằm trong chiến lược củng cố vị thế trung tâm hàng không và logistics toàn cầu của các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).
Khi hoàn thành, DWC được kỳ vọng đạt công suất phục vụ 260 triệu lượt khách mỗi năm, trở thành sân bay lớn nhất thế giới với 5 đường băng song song và 400 cửa lên máy bay.
Dubai Aviation Engineering Projects (DAEP), đơn vị phụ trách phát triển hạ tầng hàng không của Dubai, cho biết sân bay mới sẽ mở ra "kỷ nguyên mới của các hệ thống sân bay thông minh", với cơ sở hạ tầng lấy hành khách làm trung tâm, hướng tới nâng cao trải nghiệm di chuyển và rút ngắn thời gian làm thủ tục.
Ông Paul Griffiths, Giám đốc điều hành Dubai Airports, cho biết việc duy trì đồng thời hai trung tâm hàng không quy mô lớn trong phạm vi chưa đến 70 km không phù hợp.
"Toàn bộ hoạt động sẽ được chuyển sang DWC. Đến thời điểm đó, phần lớn cơ sở hạ tầng tại DXB đã gần hết vòng đời khai thác. Việc tiếp tục vận hành sân bay sẽ đòi hỏi khoản đầu tư rất lớn và không còn hiệu quả về mặt kinh tế", ông nói.
Một trong những nguyên nhân khiến DXB không thể tiếp tục mở rộng là vị trí bị bao quanh bởi hai tuyến cao tốc lớn cùng các khu dân cư phát triển dày đặc. Giới chức Dubai cho rằng quỹ đất hạn chế khiến sân bay không còn dư địa để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dài hạn.
Ông Griffiths cho biết việc di dời sẽ bắt đầu khi DXB đạt ngưỡng công suất tối đa. "Trong vòng hai năm tới, chúng tôi sẽ vượt mốc 100 triệu lượt khách mỗi năm. Đến năm 2031, con số này dự kiến đạt 114 triệu lượt. Sau đó, năm 2032 sẽ đánh dấu thời khắc lịch sử khi diễn ra cuộc chuyển đổi lớn nhất thế giới từ sân bay lớn nhất thế giới sang một sân bay còn lớn hơn nữa", ông nói.
Quá trình chuyển đổi hoạt động từ DXB sang DWC dự kiến bắt đầu vào khoảng năm 2032, trong khi toàn bộ dự án có thể hoàn thành vào năm 2057. Sân bay mới cũng sẽ kết nối với tuyến đường sắt cao tốc Etihad Rail đang được xây dựng, giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa Dubai và Abu Dhabi xuống còn khoảng 30 phút.
Theo lãnh đạo Dubai Airports, những công nghệ đang được thử nghiệm tại DXB hiện nay sẽ được triển khai trên quy mô lớn tại DWC. Mục tiêu là duy trì trải nghiệm cá nhân hóa cho hành khách ngay cả khi sân bay mới phục vụ hàng trăm triệu lượt khách mỗi năm.
Sân bay quốc tế Dubai (DXB) vận hành năm 1960, nằm giữa vùng sa mạc của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).
Từ một sân bay nhỏ với đường băng bằng cát nén, DXB hiện là trung tâm trung chuyển quan trọng kết nối hàng trăm thành phố trên khắp các châu lục, đồng thời là "đại bản doanh" của hãng hàng không Emirates.
Mỗi năm, hàng chục triệu hành khách quá cảnh hoặc khởi hành từ đây, góp phần đưa Dubai trở thành một trong những điểm giao thương và du lịch sôi động nhất toàn cầu.