Theo đó, Bộ luật Hình sự 1985 có 44 tội danh áp dụng hình phạt tử hình, giảm còn 29 tội danh ở Bộ luật Hình sự 1999, 22 tội danh trong Bộ luật Hình sự 2009, 18 tội danh trong Bộ luật Hình sự 2015. Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ 1-7-2025, trong đó bỏ án tử hình với 8 tội danh, hiện còn 10 tội danh.
Bộ Công an nêu chế tài hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự đã thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
Tuy nhiên tội phạm áp dụng hình phạt tử hình vẫn còn rộng, chưa đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt Công ước Liên Hợp quốc về quyền chính trị và dân sự mà Việt Nam là thành viên.
Bên cạnh đó, liên quan đến hình phạt tử hình, Bộ luật Hình sự hiện hành chưa quy định về việc khi hết thời hiệu thi hành bản án tử hình thì người bị kết án được chuyển xuống tù chung thân, gây khó khăn trong một số trường hợp. Từ đó, Bộ Công an đề xuất tiếp tục thu hẹp phạm vi 10 tội danh còn áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự hiện hành.
Dự thảo chưa nêu rõ các tội danh sẽ bỏ hình phạt tử hình, nhưng nhấn mạnh quan điểm chỉ giữ lại hình phạt tử hình đối với các tội danh có tính chất “tội ác nghiêm trọng”, xâm phạm đến khách thể đặc biệt quan trọng, gây những hậu quả nặng nề về mặt kinh tế, xã hội và an ninh con người.
Bộ Công an nêu rõ việc tiếp tục thu hẹp hình phạt tử hình giúp Bộ luật Hình sự nhất quán hơn với định hướng cải cách tư pháp, tiếp tục nối dài xu hướng lập pháp đã được xác lập rất rõ trong lần sửa đổi 2025 là thu hẹp dần tử hình. Điều này cũng phù hợp với xu hướng của pháp luật quốc tế về quy định hình phạt tử hình, nâng cao khả năng bảo vệ quyền con người, đặc biệt quyền được sống, của pháp luật hình sự.
Song theo đánh giá tác động, việc này có thể làm giảm hiệu quả răn đe tội phạm nếu thiếu sự đồng bộ, thống nhất với các giải pháp về mặt pháp lý đi kèm như quy định về tù chung thân, tịch thu tài sản, bồi thường, cấm đảm nhiệm chức vụ…
Một nội dung khác, Bộ Công an đề xuất sửa đổi quy định tại khoản 1 điều 60 Bộ luật Hình sự theo hướng nếu hết thời hiệu thi hành án đối với người bị kết án tử hình thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. Nội dung nhằm giải quyết vướng mắc trong thực tiễn thi hành án tử hình, bảo đảm tính chặt chẽ, logic của Bộ luật Hình sự.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Đặng Văn Cường (giảng viên luật hình sự, khoa luật và lý luận chính trị, Trường đại học Thủy lợi) bày tỏ ủng hộ chủ trương giảm bớt hình phạt tử hình ở một số tội danh như Bộ Công an đề xuất trong hồ sơ dự thảo chính sách. Bởi đây là xu hướng nhân văn phù hợp với cải cách tư pháp, chính sách hình sự của Việt Nam. Đồng thời phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Ông nhắc lại tại nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã định hướng rõ việc hạn chế hình phạt tù. Theo đó, chính sách này bao gồm mở rộng áp dụng các hình phạt không tước tự do như hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số tội phạm.
Giảm hình phạt tù và hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Mục tiêu chính là khắc phục tình trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế và tăng cường áp dụng các biện pháp xử lý nhẹ hơn.
TS Đặng Văn Cường chỉ rõ việc nghiên cứu bỏ bớt các tội danh có hình phạt tử hình cũng cho thấy sự văn minh của xã hội và hiệu quả trong quản lý xã hội và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo ngày càng đầy đủ hơn quyền con người, quyền công dân trong khuôn khổ pháp luật. Ông nhấn mạnh việc thay tử hình bằng tù chung thân giúp tăng cơ hội thu hồi tài sản, cải tạo phạm nhân và thể hiện chính sách hình sự khoan hồng.
Theo ông, hiện nay đa số quốc gia trên thế giới đã bỏ hình phạt tử hình. Theo thống kê của Tổ chức Ân xá quốc tế, đến năm 2022, trên thế giới có 112 nước đã hoàn toàn bãi bỏ án tử hình, 55 nước vẫn áp dụng hình phạt này và 32 nước chưa bãi bỏ hoàn toàn án tử hình. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng khuyến khích các quốc gia bãi bỏ hoặc hạn chế dần và có lộ trình để tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình.
Do đó, với tư cách là thành viên của đa số công ước quốc tế về nhân quyền, Việt Nam đã có những biện pháp để thực hiện tích cực nghĩa vụ của quốc gia thành viên. Trong đó, thành tựu nổi bật là nội dung luật hóa các quy định của công ước quốc tế trong việc bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền sống.
“Thực tiễn cho thấy một số tội danh có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không cần thiết phải duy trì hình phạt tử hình. Việc tiếp tục nghiên cứu giảm hình phạt tử hình ở một số tội danh theo đề xuất của Bộ Công an sẽ phù hợp với luật pháp và cam kết quốc tế, tạo ra sự đồng bộ với luật pháp quốc tế, tạo môi trường đầu tư năng động, lành mạnh, gia tăng hợp tác và giao lưu quan hệ quốc tế.
Việc bỏ bớt các tội danh có hình phạt tử hình cũng cho thấy sự văn minh của xã hội và hiệu quả trong quản lý xã hội và phòng ngừa tội phạm, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn quyền con người, quyền công dân trong khuôn khổ pháp luật”, TS Cường nêu rõ.
Bộ Công an đang đề xuất nhiều thay đổi trong Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2026.
Nội dung đang được công khai lấy ý kiến và sẽ kết thúc vào ngày 9-7.
Tại dự thảo, Bộ Công an đề xuất bổ sung 4 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt gồm:
Tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, người đứng đầu tổ chức chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Niêm phong trụ sở, địa điểm, cơ sở hoặc bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được áp dụng để cưỡng chế thi hành hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tạm đình chỉ hoạt động có thời hạn và thi hành biện pháp khắc phục hậu quả.
Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được áp dụng để cưỡng chế thi hành hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tạm đình chỉ hoạt động có thời hạn và thi hành biện pháp khắc phục hậu quả.
Tạm dừng đăng kiểm phương tiện; tạm dừng đăng ký phương tiện; tạm dừng cấp giấy phép điều khiển phương tiện được áp dụng để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ, giao thông đường sắt, giao thông đường thủy nội địa, giao thông hàng hải, hoạt động hàng không dân dụng.
Tại tờ trình, Bộ Công an đánh giá hiện nay nhiều cá nhân, tổ chức sau khi bị xử phạt không tự nguyện chấp hành, cố tình chây ỳ, kéo dài thời gian hoặc tìm cách né tránh nghĩa vụ thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Một số trường hợp không thể thi hành quyết định cưỡng chế do doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, không có tiền trong tài khoản, không có tài sản, doanh nghiệp giải thể, không có tài sản, cá nhân bị cưỡng chế không có tiền để nộp, không có tài sản để thi hành quyết định cưỡng chế...
Trong khi đó, hệ thống biện pháp cưỡng chế hiện hành còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các tình huống phát sinh. Đặc biệt đối với các trường hợp có điều kiện kinh tế, hoạt động sản xuất, kinh doanh phức tạp hoặc có yếu tố liên ngành, liên lĩnh vực.
Việc thiếu vắng các biện pháp bảo đảm cưỡng chế thi hành trên thực tế dẫn đến tình trạng quyết định xử phạt chỉ dừng lại ở hình thức, khó triển khai hoặc triển khai không triệt để, nhất là đối với các cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, né tránh nghĩa vụ chấp hành.
Theo quy định hiện hành, mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính được quy định từ 50.000 đồng đến tối đa 1 tỉ đồng với cá nhân và gấp đôi với tổ chức (100.000 đồng đến 3 tỉ đồng).
Trong dự thảo mới nhất, Bộ Công an đề xuất mức tối đa tăng lên 1,5 tỉ đồng với cá nhân và 3 tỉ đồng với tổ chức.
Cơ quan soạn thảo cho hay mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực và mức phạt tiền cụ thể đối với các hành vi vi phạm đã được quy định trong các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trên từng lĩnh vực.
Nhưng thực tế áp dụng thời gian qua cho thấy trong một số lĩnh vực thì mức phạt tiền đối với từng hành vi còn chưa tương xứng tính chất, mức độ hậu quả vi phạm như: lĩnh vực an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, khoáng sản, phòng cháy, chữa cháy...
Ngoài ra sau hơn 13 năm thi hành, mức phạt tối đa đã bộc lộ nhiều bất cập và không còn phù hợp với thực tiễn.
Trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội nước ta đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, mức chi tiêu cùng với quy mô kinh tế ngày càng mở rộng đã khiến mức tiền phạt tối đa trong các lĩnh vực hiện tại trở nên quá thấp, thiếu sức răn đe đối với các chủ thể vi phạm.
Bộ Công an lấy dẫn chứng mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính và mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước được giữ nguyên từ năm 2012 đến nay. Trong khi đó, mức lương cơ sở năm 2012 là 1,05 triệu đồng/tháng, đến năm 2025 là 2,34 triệu đồng/tháng (gấp 2,2 lần so với năm 2012).
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2012 khoảng 2 triệu đồng/người/tháng, đến năm 2024 khoảng 7,7 triệu đồng/người/tháng (gấp 3,85 lần so với năm 2012).
Tại nhiều lĩnh vực như môi trường, an toàn thực phẩm, khoáng sản, an ninh mạng, an toàn thông tin mạng, phòng cháy, chữa cháy... mức lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm thường cao gấp nhiều lần so với số tiền phạt tối đa mà cơ quan chức năng có thể áp dụng.
Điều này dẫn đến việc chế tài tiền phạt không bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm.
Ngày 20-7, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho biết đã khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu ông N.T.T. - nguyên Hiệu trưởng Trường phổ thông Dân tộc nội trú THCS Lắk (xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk) - trả lại gần 500m² đất thuộc khuôn viên nhà trường mà ông bị cho là đã chiếm dụng nhiều năm.
Theo hồ sơ, năm 1996, Trường phổ thông Dân tộc nội trú THCS Lắk được giao quản lý, sử dụng gần 8.000m² đất. Trong thời gian giữ chức hiệu trưởng, ông T. đã sử dụng khoảng 487,8m² đất trong khuôn viên trường để xây dựng nhà ở.
Đến khi nghỉ hưu, ông T. không bàn giao lại diện tích đất này mà tiếp tục sử dụng làm nơi ở cho gia đình.
Sau khi trực tiếp kiểm tra hiện trạng, đo đạc, xác định ranh giới và thu thập tài liệu, chứng cứ, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã khởi kiện, đề nghị tòa án buộc ông T. tháo dỡ công trình xây dựng trên đất, trả lại nguyên trạng khu đất cho nhà trường.
Theo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, việc chiếm dụng kéo dài ảnh hưởng đến quy hoạch, cảnh quan nhà trường, môi trường giáo dục và quyền lợi học tập của học sinh, trong đó phần lớn là con em đồng bào dân tộc thiểu số.
Lãnh đạo UBND xã Liên Sơn Lắk cho biết địa phương đã nhiều lần yêu cầu ông T. chấm dứt việc sử dụng diện tích đất này nhưng không có kết quả.
Theo lãnh đạo xã, từ năm 2011, chính quyền đã nhiều lần làm việc, vận động và yêu cầu ông T. trả lại phần đất thuộc quyền quản lý của nhà trường.
Trước đó ông T. từng có tờ trình gửi Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk xin dựng một căn nhà với lý do phục vụ việc đón, quản lý học sinh nội trú. Tuy nhiên sau đó công trình được sử dụng làm nơi ở của gia đình ông.
"Ông T. không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng hợp pháp đối với phần đất đang sử dụng. Địa phương từng không giải quyết đề nghị cấp phép xây dựng do ông T. không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất", lãnh đạo UBND xã Liên Sơn Lắk cho biết.
Sau khi Nghị quyết 205/2025/QH15 của Quốc hội có hiệu lực và Đắk Lắk là một trong những địa phương được thí điểm, UBND xã đã chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân xem xét khởi kiện theo thẩm quyền.
Ngày 16-7, Bộ Công an thông tin Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh vừa phối hợp các đơn vị nghiệp vụ Công an tỉnh và Công an xã Hợp Thịnh triệt phá thành công ổ nhóm thuê nhà thực hiện hành vi chiếm đoạt tài khoản Facebook để bán thu lợi số tiền lớn.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ hình sự Nguyễn Văn Tài (24 tuổi), Triệu Hồng Sơn (25 tuổi), Bùi Công Minh (24 tuổi), Nguyễn Đức Mạnh (24 tuổi), Tạ Anh Quân (29 tuổi), Trần Trung Kiên (23 tuổi), Nguyễn Đức Toàn (28 tuổi, đều trú xã Hợp Thịnh, tỉnh Bắc Ninh), Nguyễn Nam Khánh (23 tuổi) và Nguyễn Ngọc Anh (24 tuổi, đều trú xã Phú Khê, tỉnh Phú Thọ).
9 nghi phạm bị tạm giữ về hành vi xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.
Trước đó, ngày 10-7, Phòng Cảnh sát hình sự đã chủ trì phối hợp Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội và Công an xã Hợp Thịnh kiểm tra hành chính nhà ông T.V.L. (55 tuổi).
Tại đây, công an phát hiện 9 nghi phạm đang thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính hoạt động có liên quan đến tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Công an thu giữ 41 màn hình máy tính, 41 CPU máy tính, 4 xe máy, 10 điện thoại di động các loại.
Công an xác định khoảng tháng 8-2025, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Ngọc Anh quen biết nhau khi chạy quảng cáo thuê trên mạng máy tính tại Hà Nội.
Nắm bắt nhu cầu nhiều người muốn mua tài khoản Facebook để chạy quảng cáo, khoảng đầu tháng 2-2026, Toàn nảy sinh việc tìm địa điểm, thuê người, đầu tư thiết bị máy tính, mạng Internet để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài khoản Facebook của người khác rồi bán lấy tiền.
Toàn bàn và rủ Ngọc Anh tham gia cùng và được Ngọc Anh đồng ý.
Khoảng tháng 2-2026, Toàn và Ngọc Anh thuê nhà của ông L. làm địa điểm đặt máy tính, thiết bị mạng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài khoản Facebook của nhiều người nhằm bán kiếm lời.
Toàn bỏ chi phí đầu tư máy tính, thiết bị mạng, tuyển nhân viên làm việc, chi trả tiền thuê nhà, tiền điện nước. Đồng thời bán tài khoản chiếm đoạt được trên các trang mạng xã hội như Zalo, Telegram.
Ngọc Anh chịu trách nhiệm làm hợp đồng thuê địa điểm, tuyển nhân viên, hướng dẫn, đào tạo các nhân viên thực hiện các bước, thao tác để chiếm đoạt tài khoản Facebook.
Mục tiêu các nghi phạm nhắm đến là chiếm quyền truy cập và sử dụng tài khoản Facebook của công dân các nước châu Âu và sử dụng các nhóm chat trên Telegram để trao đổi công việc.
Bước đầu, công an xác định từ ngày 4-7 đến ngày 10-7, nhóm này đã thực hiện chiếm quyền truy cập, sử dụng của 64 tài khoản Facebook.
Sau khi chiếm đoạt được nhiều tài khoản Facebook, Toàn thực hiện việc giao bán thông qua các tài khoản Zalo, Telegram cho các nghi phạm thu mua, thu lợi số tiền lớn.
Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đang củng cố, thu thập tài liệu, tiếp tục điều tra mở rộng làm rõ hành vi của các nghi phạm có liên quan để xử lý theo quy định.