Tết năm nay tôi được thưởng một số tiền kha khá, chẳng biết làm gì nên nghĩ đến việc mua vàng để dành.
Sau thời gian nghỉ Tết, ngày mùng 7 tôi ra tiệm vàng gần nhà hỏi mua vài chỉ vàng nhẫn trơn, được báo giá là hơn 17 triệu đồng một chỉ. Thời điểm đó gần ngày vía Thần Tài nên tiệm vàng chỉ bán một chỉ nên tôi quay về, quyết định không mua.
Tuần trước, tôi lại ra tiệm vàng mua, giá còn hơn 15 triệu đồng một chỉ, mua bao nhiêu cũng có. Tôi thấy may mắn vì nếu mua ở thời điểm sau Tết, tới giờ tôi đã lỗ hơn chục triệu đồng.
Lúc đó, tôi thấy tiệm vàng khá vắng. Có người đến mua thì họ cũng chỉ mua cái vòng, cái lắc tay cho em bé hoặc mua vàng trang sức cưới hỏi chứ không ai mua nhẫn trơn nữa.
Tôi nhận ra một nghịch lý là: Tại sao khi giá vàng tăng liên tục thì xuất hiện cảnh dòng người ùn ùn xếp hàng tại các tiệm vàng để tranh nhau mua, đến nỗi các tiệm phải cho bắt số, thế là nhiều người xếp hàng từ 3-4 h sáng. Các tiệm cũng giới hạn số lượng bán ra.
Vậy tại sao khi giá vàng giảm, các tiệm bán thoải mái nhưng vì sao vẫn ế, không thấy cảnh xếp hàng tranh nhau mua nữa?
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi vẫn nhớ ngày ba mẹ quyết định bán căn nhà nhỏ ở quê. Giá lúc đó 1,5 tỷ đồng. Với gia đình tôi, đó là tài sản lớn nhất tích góp cả đời ba mẹ. Ba mẹ nói: "Bán nhà cho hai anh em ăn học, sau này có nghề nghiệp ổn định là được". Ai cũng nói học đại học là con đường đổi đời, là cách chắc chắn nhất để có tương lai tốt hơn.
Hai anh em tôi lên thành phố, học những ngành được cho là "có triển vọng". Những năm đại học trôi qua với học phí, tiền trọ, sinh hoạt... tất cả đều từ số tiền bán nhà đó. Tôi chưa từng nghĩ sâu về chi phí, vì trong đầu luôn mặc định: học xong rồi sẽ kiếm lại được.
Nhưng cuộc sống sau khi ra trường không diễn ra như cách tôi từng hình dung. Tôi đi làm với mức lương khởi điểm 6 triệu, rồi tăng dần lên 8 triệu, 10 triệu một tháng. Sau vài năm, thu nhập có nhích lên, nhưng không đáng kể so với chi phí sống ở thành phố. Tiền thuê nhà, ăn uống, đi lại... mỗi tháng gần như tiêu hết phần lớn thu nhập của tôi. Tiết kiệm được một khoản nhỏ đã là cả một sự cố gắng.
Vừa rồi, tôi về quê cũ, đi ngang qua khu đất ngày xưa là nhà mình, mới biết căn nhà đó giờ đã được bán lại với giá gần 5 tỷ đồng. Nếu ngày đó ba mẹ không bán, tài sản gia đình giờ đã tăng gấp ba lần. Còn hiện tại, sau nhiều năm học đại học và đi làm, thu nhập của tôi vẫn chỉ ở mức đủ sống. Tôi bắt đầu tự hỏi: liệu "khoản đầu tư" năm xưa có thực sự hiệu quả?
Tôi không phủ nhận giá trị của việc học. Đại học cho tôi kiến thức, trải nghiệm, các mối quan hệ. Nhưng nếu nhìn thuần túy dưới góc độ tài chính, bài toán lại không đơn giản. Thu nhập của tôi, sau tất cả thời gian và chi phí bỏ ra, vẫn chưa tạo ra được một giá trị tương đương, chứ chưa nói đến việc "gỡ vốn".
>> 'Đầu tư 1,2 tỷ học đại học nhưng ra trường lương 8 triệu đồng'
Tôi thử làm một phép tính đơn giản. Với mức tiết kiệm lạc quan khoảng 3 triệu mỗi tháng, một năm tôi dành dụm được 36 triệu. Để tích lũy được 1,5 tỷ, tôi cần hơn 40 năm, chưa kể lạm phát hay biến động cuộc sống. Còn khoảng chênh lệch do giá nhà tăng thêm, gần như là một khoảng cách quá xa.
Cảm giác này trong tôi không phải là hối hận, mà là một sự chênh vênh. Chúng ta luôn được dạy rằng học đại học là con đường an toàn. Nhưng ít khi ai đặt câu hỏi: cái giá phải trả là gì, và lợi ích thu về có tương xứng hay không? Đặc biệt trong bối cảnh giá bất động sản tăng nhanh, còn thu nhập của người lao động trẻ lại tăng chậm.
Rất nhiều gia đình sẵn sàng bán tài sản lớn để đầu tư cho con cái học hành, với kỳ vọng "đổi đời". Nhưng thực tế thị trường lao động hiện nay không còn đảm bảo một tấm bằng sẽ mang lại thu nhập cao như trước. Nếu coi việc học là một khoản đầu tư, thì nó cũng cần được cân nhắc như bất kỳ khoản đầu tư nào khác: chi phí, lợi ích, rủi ro, và thời gian hoàn vốn.
Đến giờ, tôi vẫn đang đi làm, vẫn cố gắng tiết kiệm, vẫn tin rằng mình có thể xây dựng lại từ đầu. Nhưng mỗi lần nghĩ đến căn nhà năm xưa, tôi lại tự hỏi: nếu được lựa chọn lại, liệu gia đình tôi có quyết định khác đi không? Tôi không có câu trả lời chắc chắn. Nhưng tôi nghĩ, đó là câu hỏi mà nhiều người nên tự đặt ra trước khi đánh đổi một tài sản lớn cho một kỳ vọng chưa rõ ràng.
Tin Gốc: Vnexpress

Sau 21 năm làm việc trong môi trường sản xuất, đặc biệt tại các doanh nghiệp Nhật Bản, tôi nhận ra một nghịch lý khá phổ biến ở ta: rất nhiều kỹ sư ra trường phải được doanh nghiệp đào tạo lại từ đầu về quản lý chất lượng, trong khi đây lại là kỹ năng quyết định giá trị nghề nghiệp của họ trong nhà máy hiện đại. Nhiều người nghĩ chỉ cần giỏi chuyên môn kỹ thuật là đủ để một kỹ sư phát triển tốt trong doanh nghiệp sản xuất. Nhưng thực tế đi làm cho tôi thấy mọi thứ phức tạp hơn nhiều.
Trong các nhà máy tôi từng làm việc, hầu như không ai tuyển một người chỉ học "quản lý" để trực tiếp phụ trách hệ thống chất lượng. Thay vào đó, họ thường chọn những kỹ sư đã làm thực tế ở dây chuyền, hiểu máy móc, hiểu quy trình sản xuất, rồi mới đào tạo thêm về ISO, Kaizen, Lean, quản lý chất lượng hay cải tiến sản xuất.
Lý do là quản lý chất lượng trong nhà máy không phải công việc thiên về giấy tờ như nhiều người nghĩ. Người làm chất lượng phải hiểu lỗi phát sinh từ đâu, công đoạn nào gây lãng phí, tiêu chuẩn nào bất hợp lý, vì sao sản phẩm bị lỗi lặp lại và cách cải tiến quy trình để giảm sai sót. Nếu không hiểu thực tế vận hành, rất khó để xây dựng một hệ thống chất lượng hiệu quả.
Thế nhưng, điều tôi thấy đáng tiếc là nhiều chương trình đào tạo kỹ sư trong nước hiện nay vẫn nặng về lý thuyết kỹ thuật, trong khi phần quản lý chất lượng và quản trị sản xuất lại khá mờ nhạt. Nhiều sinh viên ra trường có thể tính toán rất tốt, nắm kiến thức chuyên ngành khá sâu, nhưng khi bước vào nhà máy lại lúng túng trước các quy trình ISO, kiểm soát chất lượng, quản trị tài liệu, phân tích nguyên nhân lỗi hay phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật với sản xuất.
>> Kỹ sư 'việc nhẹ lương cao' ngày gồng 8 tiếng vì không đam mê
Doanh nghiệp vì thế phải mất thêm nhiều năm để "đào tạo lại" kỹ sư thành những người có tư duy hệ thống. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nhiều kỹ sư thế hệ 7X, 8X, 9X dù có nền tảng chuyên môn tốt nhưng chưa phát huy hết giá trị của mình trong doanh nghiệp. Họ thường phải vừa làm vừa tự tích lũy kiến thức về quản trị sản xuất và quản lý chất lượng trong suốt nhiều năm.
Trong khi đó, xã hội lại đang có xu hướng đánh giá cao những ngành nghề "phi sản xuất" như tài chính, kinh tế hay quản trị. Nhiều bạn trẻ sinh sau năm 2000 dần ít chọn học kỹ thuật hơn vì cho rằng con đường này vất vả, chậm thành công và ít cơ hội bằng các ngành khác.
Theo tôi, đây không phải tín hiệu tích cực cho tương lai công nghiệp Việt Nam. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể thiếu đội ngũ kỹ sư giỏi, người làm sản xuất mạnh, người hiểu công nghệ và có khả năng cải tiến hệ thống thực tế.
Qua nhiều năm làm việc, tôi nhận ra một kỹ sư hiểu quản lý chất lượng luôn có giá trị cao hơn kỹ sư chỉ giỏi chuyên môn thuần túy. Bởi doanh nghiệp hiện đại không chỉ cần người làm ra sản phẩm, mà cần người giúp hệ thống vận hành ổn định, giảm lỗi, giảm lãng phí và tăng năng suất. Nếu được đào tạo bài bản về quản lý chất lượng ngay từ đại học, kỹ sư sẽ thích nghi nhanh hơn với doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian đào tạo lại và phát huy giá trị sớm hơn.
Tin Gốc: Vnexpress

Khi mới ra trường, tôi làm việc trong một công ty nhà nước. Tôi làm việc tích cực tới mức mới làm ba tháng nhưng đã được xét danh hiệu Lao động tiên tiến sáu tháng. Đã có lúc, tôi mong mình sẽ làm việc đến tuổi nghỉ hưu để đảm bảo cuộc sống về già.
Ngoài giờ làm ở công ty, tôi còn làm thêm công việc tay trái bên ngoài. Thành quả là tôi đã tự mua được nhà sau 10 năm đi làm mà không cần nhờ bất cứ sự giúp đỡ nào, không mang nợ. Đó cũng là thời điểm tôi quyết định rời khỏi công ty nhà nước, để ra làm thuê cho các công ty tư nhân với hy vọng cải thiện thu nhập.
7 năm sau, tôi mua được căn nhà thứ hai với giá trị gần 15 lần ngôi nhà đầu tiên và vẫn không phải vay mượn đồng nào. Khi tôi bước sang tuổi 40, cuộc sống vật chất đã dần ổn định. Tôi làm việc ở vị trí quản lý cấp trung, và bắt đầu đặt mục tiêu sẽ về hưu khi mỗi tháng hai vợ chồng có tổng thu nhập thụ động khoảng 20 triệu. Con số đó với chúng tôi và vừa đủ để duy trì cuộc sống tuổi già một cách thoải mái.
Khi tôi 60 tuổi, tính ra nếu nghỉ hưu, thu nhập mỗi tháng của tôi đã gấp nhiều lần mong muốn của mình trước đây. Nhưng tôi vẫn không thể nghỉ hoàn toàn vì người chủ muốn vẫn giữ tôi ở lại. Phải mãi tới khi gần chạm ngưỡng tuổi 70, tôi mới quyết định nghỉ hẳn, từ chối mọi lời mời. Tôi dự kiến làm thủ tục hoàn thuế thu nhập năm ngoái và chính thức chấm dứt sự nghiệp đi làm của mình tại đây.
>> Đắn đo bỏ việc lương 40 triệu để nghỉ hưu sớm ở tuổi 47
Nhưng rồi, một người quen lại tìm đến, ngỏ ý muốn tôi ngồi vào vị trí cố vấn cho công ty của họ. Với sự thuyết phục quá nhiệt tình, cuối cùng tôi lại nể nang và đặt bút ký vào hợp đồng làm việc bán thời gian, không ràng buộc về việc phải đến công ty, với mức thu nhập do tôi chủ động đề nghị (không dựa vào số giờ làm việc mà căn cứ vào số lần đến làm việc). Với hình thức này, tôi không quá bận rộn, không bị ràng buộc thời gian, mà vẫn có khoảng nghỉ ngơi đủ nhiều để đưa vợ đi du lịch theo kế hoạch. Tôi dự tính sẽ làm công việc này trong hai năm rồi nghỉ.
Thế nên, theo tôi, việc nghỉ hưu sớm hay làm quá tuổi về hưu không có lựa chọn nào là hoàn hảo tuyệt đối. Nó tùy thuộc vào sức khỏe, năng lực, điều kiện kinh tế và mong muốn của mỗi người. Với những người chọn nghỉ hưu sớm, nếu họ đã có sự chuẩn bị kinh tế vững chắc bằng cách sử dụng tài chính thông minh, có tích lũy tài sản để đảm bảo cuộc sống thì lựa chọn dừng lại cũng tốt, xem như tạo cơ hội cho lớp trẻ phấn đấu.
Nhưng nói vậy không có nghĩa là những người làm việc quá tuổi là sai lầm. Đôi khi, họ giống tôi, làm việc không phải vì mưu sinh mà là vì được yêu cầu, vì sự nể nang và vì họ vẫn rất có giá trị cho nhu cầu công việc. Họ không làm việc vì chưa ai có thể thay thế, nên đừng nghĩ họ chiếm mất cơ hội của lớp trẻ.
Giờ đây, khi xã hội phát triển, nhiều thành phần kinh tế mở ra, tùy vào khả năng của mình, mỗi người có thể tự quyết định cuộc sống của mình dễ dàng hơn. Tuy nhiên, để có được sự chủ động đó, không có con đường nào khác ngoài việc phải nỗ lực, tích lũy và chuẩn bị từ rất sớm.
Nguyen Thai HungVỡ mộng nghỉ hưu sớm dù tháng kiếm 40 triệu từ dãy trọ cho thuê
Tôi đã tìm ra cách nghỉ hưu sớm tuổi 40 cho mình
Hai năm đáng giá nhất cuộc đời khi tôi nghỉ hưu sớm ở tuổi 50
Tháng kiếm 60 triệu từ dãy trọ cho thuê nhưng tôi không nghỉ hưu sớm
Vợ hối tôi nghỉ hưu sớm ở tuổi 45 khi đủ tiền sống đến cuối đời
Bối rối nên nghỉ hưu sớm tuổi 40 hay bỏ phố về quê

