Tôi 45 tuổi, bị đau dạ dày nhiều năm và từng nhiễm vi khuẩn HP. Gần đây tôi thường buồn nôn, chán ăn và đi ngoài phân đen nên rất lo lắng không biết đây có phải dấu hiệu ung thư dạ dày hay không?
(Tuấn Minh – Thái Nguyên)
ThS.BS Nguyễn Thế Phương, Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai trả lời:
Những triệu chứng của bác cho thấy dạ dày đang có tổn thương kéo dài và có thể được xem là bệnh lý mạn tính.
Tuy nhiên, để khẳng định có nguy cơ ung thư dạ dày hay không thì cần thăm khám và làm các xét nghiệm chuyên sâu.
Trên thực tế, ung thư dạ dày ở giai đoạn sớm thường không có triệu chứng đặc hiệu. Các biểu hiện ban đầu nhiều khi chỉ giống viêm dạ dày mạn tính hoặc loét dạ dày thông thường như đau âm ỉ vùng thượng vị, đầy bụng, buồn nôn hay chán ăn.
Riêng tình trạng đi ngoài phân đen là dấu hiệu cần đặc biệt lưu ý vì có thể liên quan đến xuất huyết tiêu hóa.
Vì vậy, bác nên đi nội soi dạ dày càng sớm càng tốt, đặc biệt tại các cơ sở chuyên sâu có hệ thống máy móc hiện đại và bác sĩ có nhiều kinh nghiệm.
Thông qua nội soi, bác sĩ có thể đánh giá chính xác tổn thương, phát hiện sớm bất thường nếu có và giúp người bệnh yên tâm hơn khi kết quả nằm trong giới hạn bình thường.
Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở mức trung bình cao trong khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh yếu tố vi khuẩn Helicobacter pylori (HP), chế độ ăn uống và lối sống đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
HP được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây ung thư nhóm 1 đối với dạ dày. Vi khuẩn này gây viêm dạ dày mạn tính kéo dài. Theo thời gian, quá trình viêm có thể dẫn đến teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản và cuối cùng là ung thư biểu mô tuyến.
Tuy nhiên, không phải mọi người nhiễm HP đều tiến triển thành ung thư. Nguy cơ gia tăng khi có sự kết hợp của nhiều yếu tố khác, đặc biệt là thói quen ăn uống.
Chế độ ăn nhiều muối là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Thực phẩm ướp muối, lên men, xông khói, thịt cá muối, dưa muối, thực phẩm chứa nitrit và nitrosamine có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư dạ dày.
Trong văn hóa ẩm thực Việt Nam, ăn mặn và sử dụng các món muối chua là thói quen phổ biến. Nhiều gia đình thường xuyên dùng dưa muối, cà muối, cá khô, thịt ướp mặn, đồ hun khói hoặc đồ nướng cháy cạnh. Khi sử dụng kéo dài, các yếu tố này có thể gây tổn thương niêm mạc dạ dày và làm tăng nguy cơ hình thành tế bào ác tính.
Bên cạnh đó, chế độ ăn ít rau xanh và trái cây tươi cũng là vấn đề đáng lưu ý. Rau quả chứa nhiều chất chống oxy hóa, vitamin và chất xơ có vai trò bảo vệ niêm mạc tiêu hóa. Việc thiếu hụt những thành phần này làm giảm khả năng bảo vệ tự nhiên của cơ thể
Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ độc lập. Người đang hút thuốc có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng 30% đến 50% so với người không hút. Rượu bia sử dụng nhiều cũng góp phần làm tăng nguy cơ, đặc biệt khi đi kèm hút thuốc và nhiễm HP.
Ngoài ra, béo phì, hội chứng chuyển hóa và trào ngược dạ dày thực quản được ghi nhận liên quan nhiều hơn đến ung thư vùng tâm vị (vị trí nối giữa thực quản và dạ dày).
Quýt và cam thường bị nhầm lẫn do có nhiều điểm tương đồng về hình thức. Dù đều giàu dinh dưỡng và ít calo, đây là hai loại trái cây khác nhau, với sự khác biệt về nguồn gốc, hình dáng, hương vị và thành phần dinh dưỡng.
Dưới đây là bảng so sánh giá trị dinh dưỡng trên mỗi 100 g quýt và cam:
*DV: Lượng cơ thể cần hàng ngày (%)
Cả quýt và cam đều thuộc nhóm trái cây họ cam quýt, nổi bật với hàm lượng vitamin C, chất chống oxy hóa và nước dồi dào. Đây là những yếu tố giúp tăng cường miễn dịch, hỗ trợ làn da và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương.
Cả hai đều cung cấp chất xơ, kali cùng một số vitamin nhóm B, góp phần cải thiện tiêu hóa, hỗ trợ tim mạch, kiểm soát cân nặng. Với lượng calo thấp, quýt và cam đều phù hợp cho chế độ ăn duy trì cân nặng lành mạnh.
Cam giàu vitamin C và chất xơ
Xét về thành phần dinh dưỡng, cam có lợi thế rõ rệt ở hàm lượng vitamin C. Trung bình, cam cung cấp lượng vitamin C gần gấp đôi so với quýt, giúp tăng cường hệ miễn dịch, thúc đẩy sản sinh collagen và bảo vệ thành mạch.
Bên cạnh đó, cam cũng chứa nhiều chất xơ hơn, hỗ trợ tiêu hóa và giúp ổn định đường huyết. Vì thế, cam là lựa chọn phù hợp cho những người cần kiểm soát cân nặng hoặc cải thiện sức khỏe đường ruột.
Quýt giàu vitamin A, dễ ăn hơn
Trong khi đó, quýt lại nổi bật với hàm lượng vitamin A cao hơn, có lợi cho thị lực, làn da và hệ miễn dịch. Đây là điểm khác biệt đáng chú ý mà nhiều người thường bỏ qua.
Quýt có vị ngọt đậm, ít chua và vỏ mỏng, dễ bóc. Vì vậy, quýt trở thành món ăn nhẹ tiện lợi, đặc biệt phù hợp khi cần bổ sung năng lượng nhanh hoặc mang theo khi di chuyển.
Khác biệt về hương vị và cách sử dụng
Hương vị cũng là yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn của nhiều người. Quýt thường ngọt hơn, dễ ăn, trong khi cam có vị chua nhẹ, tạo cảm giác tươi mát.
Cam thường được sử dụng để ép nước cam hoặc chế biến món ăn, còn quýt thích hợp ăn trực tiếp nhờ đặc tính dễ bóc vỏ. Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến nghị nên ưu tiên ăn nguyên quả thay vì uống nước ép để tận dụng tối đa lượng chất xơ.
Lợi ích sức khỏe tổng thể
Việc bổ sung cả quýt và cam đều mang lại nhiều lợi ích. Vitamin C cùng các hợp chất thực vật giúp chống oxy hóa, giảm tổn thương tế bào, hỗ trợ tim mạch.
Chế độ ăn giàu trái cây họ cam quýt cũng góp phần giảm nguy cơ sỏi thận, cải thiện tiêu hóa và hỗ trợ kiểm soát cân nặng nhờ hàm lượng nước, chất xơ cao.
Dù vậy, quýt có lượng đường, carbohydrate nhiều hơn một chút so với cam, nên người cần kiểm soát đường huyết có thể ưu tiên cam hơn.
Không có loại nào tốt hơn tuyệt đối mà tùy thuộc vào nhu cầu của từng người. Nếu cần bổ sung vitamin C, tăng cường đề kháng hoặc hỗ trợ tiêu hóa, giảm cân, cam là lựa chọn phù hợp. Ngược lại, nếu ưu tiên vị ngọt, dễ ăn và bổ sung vitamin A, quýt là lựa chọn hợp lý.
Các chuyên gia khuyến nghị nên đa dạng hóa thực phẩm, kết hợp cả hai loại trong chế độ ăn để tận dụng lợi ích dinh dưỡng toàn diện.
Trả lời báo chí nhân Ngày tăng huyết áp thế giới 17/5, GS. Phạm Mạnh Hùng, Viện trưởng Viện Tim Mạch - Bệnh viện 198, nói tăng huyết áp là "kẻ giết người thầm lặng" bởi bệnh thường tiến triển âm thầm trong nhiều năm nhưng có thể gây ra các biến chứng nặng nề như đột quỵ não, nhồi máu cơ tim, suy tim, rung nhĩ, suy thận mạn, tổn thương mạch máu và tử vong sớm.
Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành khoảng 25-30%, tương đương hàng chục triệu người mắc bệnh. Đáng lo ngại, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa nhanh chóng do lối sống ít vận động, stress kéo dài, ăn mặn, béo phì và sử dụng nhiều rượu bia.
Kết quả Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm (STEPS) năm 2021 của Bộ Y tế cho thấy lượng muối trung bình người Việt tiêu thụ mỗi ngày khoảng 8,1 g, giảm so với mức 9,4 g năm 2015 nhưng vẫn cao gần gấp đôi khuyến nghị dưới 5 g/ngày của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Khoảng 8,7% dân số thường xuyên sử dụng thực phẩm chế biến sẵn chứa hàm lượng muối cao.
Các chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo ăn mặn là một trong những nguyên nhân dẫn tới tăng huyết áp và hàng loạt bệnh lý tim mạch nguy hiểm. ThS.BS. Ngô Thị Hà Phương, Viện Dinh dưỡng cho hay natri (thành phần của muối) là khoáng chất cần thiết giúp cơ thể duy trì cân bằng dịch, dẫn truyền thần kinh và hoạt động cơ bắp. Tuy nhiên, dư thừa natri so với nhu cầu khuyến nghị, gây tăng tính thấm, tăng trương lực thành mạch, gây ứ nước trong tế bào, tăng sức cản ngoại vi gây ra tăng huyết áp.
Bác sĩ Phương nhìn nhận điều đáng lo ngại là tăng huyết áp do ăn mặn thường diễn ra âm thầm qua nhiều năm. Tiêu thụ nhiều natri (muối, gia vị, các thực phẩm chứa muối...) trong thời gian dài làm tăng huyết áp ở hầu hết mọi người và tương tác với các con đường chuyển hóa liên quan đến béo phì, kháng insulin và tổn thương thận.
Nhiều người cho rằng thận có thể tự đào thải lượng muối dư thừa nên ăn mặn không đáng lo nếu cơ thể còn khỏe mạnh. Thực tế, khi lượng muối nạp vào quá lớn trong thời gian dài, thận phải làm việc liên tục để đào thải natri và nước. Quá tải kéo dài khiến chức năng thận suy giảm, đồng thời làm tăng nguy cơ tăng huyết áp.
Không chỉ vậy, chế độ ăn nhiều muối còn khiến các thuốc điều trị tăng huyết áp, đặc biệt là thuốc lợi tiểu, giảm hiệu quả. Huyết áp tăng kéo dài làm tổn thương thành mạch máu, thúc đẩy xơ vữa động mạch, tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và bệnh mạch vành.
Theo một nghiên cứu năm 2011, trong khẩu phần ăn của người Việt, khoảng 80% lượng natri đến từ gia vị được thêm vào khi nấu nướng và chấm trực tiếp như nước mắm, bột canh, hạt nêm, mắm tôm, xì dầu. Khoảng 20% đến từ thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, giò chả, đồ hộp, snack, mì ăn liền và các thực phẩm tự nhiên có chứa muối. Nhiều món ăn quen thuộc tại hàng quán cũng chứa lượng muối cao do khẩu vị chuộng đậm đà. Điều này khiến không ít người vô tình vượt ngưỡng muối khuyến nghị mỗi ngày mà không nhận ra.
Nghiên cứu chỉ ra nếu lượng muối tiêu thụ mỗi ngày được kiểm soát ở mức 5-6 g, huyết áp có thể giảm 2-8 mmHg. Nếu duy trì chế độ ăn nhạt lâu dài, nguy cơ bệnh tim mạch và đột quỵ cũng giảm đáng kể.
Các chuyên gia khuyến cáo để phòng tăng huyết áp và bệnh tim mạch, người dân cần thay đổi thói quen ăn uống từ sớm. Biện pháp quan trọng nhất là giảm dần lượng muối trong chế biến, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và giảm thói quen chấm thêm nước mắm, nước sốt trong bữa ăn. Khi mua thực phẩm đóng gói, cần chú ý đọc hàm lượng natri trên nhãn dinh dưỡng.
Từ ngày 11–17/5 diễn ra Tuần lễ Thế giới nâng cao nhận thức về muối. Chiến dịch năm nay kêu gọi giảm lượng muối trong thực phẩm chế biến và thực phẩm đóng gói.
Thời gian gần đây, trên mạng xã hội chia sẻ về "niệu liệu pháp", nghĩa là uống, bôi hoặc dùng nước tiểu tự thân để tắm, rửa mặt, thậm chí nhỏ mắt. Một số người còn cho rằng đây là phương pháp tự nhiên, giúp thanh lọc cơ thể, làm đẹp da, giảm đau nhức mà không cần dùng thuốc.
Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng - Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, những quan điểm này hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Nước tiểu là sản phẩm bài tiết của thận, chứa các chất mà cơ thể cần loại bỏ, không phải là nguồn dưỡng chất để tái sử dụng.
Trên mạng xã hội, nhiều tài khoản chia sẻ kinh nghiệm cá nhân sau nhiều năm "thực hành niệu liệu pháp" cho rằng da trở nên mịn màng hơn, cơ thể nhẹ nhõm, ít đau mỏi. Những lời khẳng định này thường đi kèm lập luận đề cao lối sống tự nhiên, đồng thời phủ nhận y học hiện đại.
Bác sĩ Hoàng phân tích về mặt sinh học, nước tiểu gồm khoảng 95% là nước, phần còn lại là urê, creatinin, muối, chất điện giải và nhiều sản phẩm chuyển hóa khác. Đây đều là những chất mà cơ thể phải đào thải để duy trì cân bằng nội môi.
Bác sĩ Hoàng cho rằng một số người viện dẫn việc urê có trong mỹ phẩm để cho rằng nước tiểu có thể thay thế sản phẩm chăm sóc da.
Tuy nhiên các chuyên gia cho biết urê trong mỹ phẩm là dạng tinh khiết, được kiểm soát chặt chẽ về nồng độ và độ an toàn. Trong khi đó nước tiểu còn chứa nhiều tạp chất, vi khuẩn và các chất thải khác.
Ngoài ra nồng độ urê trong nước tiểu khá thấp, không đủ để tạo hiệu quả tẩy da chết như các sản phẩm chuyên dụng. Ngược lại, sự hiện diện của amoniac, là chất sinh ra khi urê bị phân hủy, có thể gây kích ứng da, làm tổn thương lớp màng bảo vệ tự nhiên.
Việc dùng nước tiểu để rửa mặt, tắm hoặc mát xa có thể gây nhiều hệ lụy. Khi tiếp xúc với da, đặc biệt là vùng nhạy cảm hoặc có vết trầy xước, các chất trong nước tiểu có thể gây viêm, kích ứng hoặc nhiễm trùng.
"Nguy cơ càng cao khi nhiều người tin rằng nước tiểu vô trùng. Thực tế các nghiên cứu hiện đại cho thấy ngay cả người khỏe mạnh, nước tiểu vẫn có thể chứa vi khuẩn với mật độ thấp. Những vi khuẩn này hoàn toàn có khả năng gây bệnh nếu tiếp xúc với mắt, da tổn thương hoặc niêm mạc.
Đặc biệt nguy hiểm là việc dùng nước tiểu để rửa hoặc nhỏ mắt. Đây là cơ quan rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Việc đưa dung dịch không đảm bảo vô trùng vào mắt có thể gây viêm kết mạc, loét giác mạc, thậm chí ảnh hưởng thị lực", bác sĩ Hoàng cho hay.
Một số người còn uống nước tiểu với niềm tin giúp thanh lọc cơ thể. Theo bác sĩ Hoàng, hành động này đi ngược lại cơ chế sinh lý bình thường.
Khi uống lại nước tiểu, cơ thể phải xử lý lại các chất thải đã được đào thải trước đó, làm tăng gánh nặng cho thận. Điều này có thể dẫn đến rối loạn điện giải, ảnh hưởng chức năng tim mạch, đặc biệt nguy hiểm với người có bệnh nền.
Ngoài ra nếu người dùng đang điều trị bằng thuốc, nước tiểu có thể chứa các chất chuyển hóa của thuốc. Việc tái hấp thu những chất này có thể làm thay đổi hiệu quả điều trị, tăng nguy cơ tác dụng phụ.