Ngày 14-5, tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đã trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy cho bác sĩ CKII Phạm Thanh Việt.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết thời gian qua, Bệnh viện Chợ Rẫy đã triển khai tốt các nhiệm vụ chuyên môn, đặc biệt chăm sóc sức khỏe cho người dân khu vực phía Nam. Đồng thời làm tốt công tác đào tạo, chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học và thực hiện các nhiệm vụ do Bộ Y tế giao.
Có thể khẳng định rằng nguồn lực quý giá nhất của bệnh viện chính là đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn và khẳng định vị thế của bệnh viện hôm nay. Rất nhiều kỹ thuật và dấu mốc quan trọng của ngành y học Việt Nam đã được triển khai từ bệnh viện.
Theo đó, gần 8 tháng đảm nhiệm vị trí Phó giám đốc quản lý và điều hành (từ tháng 8-2025), bác sĩ Phạm Thanh Việt đã thể hiện được năng lực, bản lĩnh cũng như khả năng lãnh đạo, điều hành tập thể bệnh viện.
Bác sĩ CKII Phạm Thanh Việt – tân Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy – chia sẻ đây là một dấu mốc đặc biệt đối với cá nhân ông cũng như đối với chặng đường phát triển của bệnh viện. Được nhận nhiệm vụ trong thời điểm này chính là niềm vinh dự, tự hào rất lớn, nhưng cũng là trăn trở, ý thức trách nhiệm của mình.
“Tôi là một học sinh lớn lên từ một hải đảo xa xôi, nhiều khó khăn và cách trở. Ngày đó, tôi chưa từng nghĩ rằng mình sẽ trở thành bác sĩ. Nhưng rồi, bằng sự nỗ lực của bản thân và sự dìu dắt của ngành y tế, tôi đã có cơ hội được học tập, trưởng thành và cống hiến.
Đối với quê hương tôi khi ấy, việc có người trở thành bác sĩ là một niềm tự hào rất lớn. Đó không chỉ là niềm tin dành cho cá nhân tôi mà còn là niềm hy vọng của gia đình và quê hương”, bác sĩ Việt nói.
Suốt gần 30 năm công tác tại bệnh viện, bác sĩ Việt may mắn được làm việc cùng những người thầy tận tụy, những đồng nghiệp đầy nhiệt huyết, trách nhiệm và luôn khát khao đổi mới. Chính tinh thần dấn thân, học hỏi không ngừng và sự đoàn kết ấy đã tạo nên sức mạnh của bệnh viện ngày hôm nay.
Bác sĩ Việt cho hay trong thời gian tới, bệnh viện sẽ tập trung vào các định hướng trọng tâm như phấn đấu trở thành bệnh viện số kiểu mẫu, có hệ thống phần mềm quản trị hiện đại để triển khai hiệu quả trong toàn bệnh viện và chia sẻ kinh nghiệm cho các đơn vị trong cả nước.
Dưới đây là phân tích của các chuyên gia về kết quả nghiên cứu và cách tăng cường vận động hằng ngày để cải thiện sức khỏe tim mạch, theo Prevention (Mỹ).
Nghiên cứu quan sát được công bố trên tạp chí British Journal of Sports Medicine (Anh), phân tích dữ liệu sức khỏe và mức độ hoạt động thể chất của hơn 17.000 người trưởng thành, với độ tuổi trung bình khoảng 57. Kết quả cho thấy mức độ hoạt động thể chất hằng tuần càng cao thì sức khỏe tim mạch càng tốt.
Một điểm đáng lưu ý là nghiên cứu đã chỉ ra:
Con số 560 - 610 phút mỗi tuần (khoảng 10 giờ) có thể khiến nhiều người cảm thấy khó thực hiện. Bà Marwa Ahmed, huấn luyện viên cá nhân và huấn luyện viên chạy bộ tại Toronto (Canada), khuyên thay vì chỉ tính các buổi tập chính thức, hãy tăng cường vận động xen kẽ trong sinh hoạt hằng ngày. Bất kỳ hoạt động nào làm nhịp tim tăng hoặc khiến bạn thở nhanh hơn, dù chỉ vài phút, đều mang lại lợi ích, chẳng hạn:
Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh đây là một nghiên cứu quan sát nên không thể đưa ra kết luận chắc chắn về nguyên nhân và kết quả. Tiến sĩ Sirisha Vadali, bác sĩ tim mạch tại HonorHealth (Mỹ), cho biết nên nhìn nhận thông điệp quan trọng nhất từ nghiên cứu là: Lợi ích đối với tim mạch sẽ tiếp tục tăng lên khi mức độ hoạt động thể chất tăng lên, chứ không nhất thiết ai cũng phải đạt tới mức 560 - 610 phút tập luyện mỗi tuần.
Theo bà Ahmed, một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên lợi ích tim mạch khi tập luyện là VO₂ max - chỉ số phản ánh lượng oxy tối đa cơ thể có thể sử dụng khi vận động cường độ cao. Chỉ số này thường giảm dần theo tuổi tác. Người có VO₂ max càng cao thường có sức khỏe tim mạch và thể lực tốt hơn.
Khi thường xuyên tập luyện, hệ tim mạch sẽ dần thích nghi với áp lực của việc vận động. Điều này giúp cải thiện VO₂ max vì các ty thể - “nhà máy năng lượng” của tế bào - tăng cả về số lượng lẫn hiệu quả sử dụng oxy. Nhờ đó:
Theo tiến sĩ Vadali, về lâu dài, những thay đổi trên còn giúp hạ huyết áp, cải thiện độ nhạy insulin, giảm viêm, cải thiện mức cholesterol trong máu.
Bệnh thận mạn tính là vấn đề sức khỏe ngày càng phổ biến, đặc biệt khi bệnh tiến triển nặng có thể dẫn đến phải chạy thận lâu dài. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu mới công bố trên tạp chí y khoa JAMA Network Open cho thấy một chế độ ăn đạm vừa phải có thể giúp làm chậm tiến triển suy thận ở bệnh nhân giai đoạn 3 - 4 và giảm nguy cơ phải chạy thận nhân tạo.
Các nhà nghiên cứu, dẫn đầu là bác sĩ Ilia Beberashvili từ Bệnh viện Yitzhak Shamir Medical Center (Israel), đã thực hiện nghiên cứu trên 1.441 bệnh nhân thận mạn tính giai đoạn 3 - 4, ở độ tuổi trung bình là 67, được theo dõi trong 15 năm, nhằm tìm ra lượng đạm tiêu thụ mỗi ngày giúp bảo vệ quả thận cho bệnh nhân thận mạn tính.
Các tác giả đã xem xét mối liên hệ giữa lượng đạm ăn vào trong ngày với tình trạng suy thận trong dài hạn.
Họ đã tiến hành đánh giá lượng đạm hấp thụ qua chế độ ăn bằng cách sử dụng lượng nitơ bài tiết qua nước tiểu trong 24 giờ và lượng đạm tiêu thụ hằng ngày theo trọng lượng cơ thể.
Kết quả đã phát hiện những người ăn ít đạm (ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày, ví dụ người 50 kg ăn ít hơn 50 gram đạm một ngày) đã giảm 23% nguy cơ suy giảm chức năng thận về mặt tổng thể. Cụ thể như sau:
Các nhà nghiên cứu cho rằng việc kiểm soát lượng đạm ở mức vừa phải có thể giúp giảm áp lực lên thận, từ đó góp phần làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận. Trong nghiên cứu này, chế độ ăn trên cũng chưa ghi nhận nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng rõ rệt ở phần lớn bệnh nhân được theo dõi.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, lượng protein hấp thụ ở mức vừa phải - ít hơn 1 gram đạm cho 1 kg thể trọng mỗi ngày - giúp giảm nguy phải chạy thận nhân tạo mà không bị thiếu chất.
Những phát hiện này ủng hộ việc hạn chế đạm ở mức độ vừa phải, kết hợp với việc theo dõi lượng đạm hấp thu vào cơ thể có thể giúp bảo vệ chức năng thận tốt hơn.
Đây là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy chế độ ăn đạm vừa phải có khả năng bảo tồn chức năng thận thực sự.
Con số nhai đúng 32 lần bắt nguồn từ việc người trưởng thành thường có 32 chiếc răng. Tuy nhiên, khoa học không xem đây là quy tắc bắt buộc, theo trang sức khỏe OnlyMyHealth (Ấn Độ).
Bà Brunda M.S., bác sĩ Bệnh viện Aster CMI (Ấn Độ), cho biết nhai kỹ là bước quan trọng giúp hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả.
Khi thức ăn được nghiền nhỏ, cơ thể sẽ dễ nuốt hơn. Đồng thời, enzyme amylase trong nước bọt cũng bắt đầu phân giải carbohydrate ngay từ trong miệng trước khi thức ăn xuống dạ dày.
Theo bà Brunda M.S., không có quy định khoa học yêu cầu mỗi miếng thức ăn phải được nhai đúng 32 lần. Số lần nhai phù hợp còn phụ thuộc vào từng loại thực phẩm.
Theo đó, thức ăn mềm cần ít lần nhai hơn, còn thực phẩm cứng hoặc dai cần nhai lâu hơn để đủ mềm trước khi nuốt.
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Scientific Reports vào năm 2021 cho thấy nhai kỹ giúp cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng hơn sau bữa ăn.
Nghiên cứu cũng khẳng định việc ăn chậm và nhai có ý thức góp phần thúc đẩy quá trình trao đổi chất, đồng thời hỗ trợ phòng ngừa béo phì.
Theo bà Brunda M.S., ăn chậm và nhai kỹ giúp cải thiện tiêu hóa, giảm nguy cơ hóc nghẹn, hạn chế đầy hơi và khó tiêu. Thói quen này còn giúp cơ thể hấp thu dưỡng chất tốt hơn.
Nhai kỹ cũng tạo điều kiện để não nhận tín hiệu no từ dạ dày kịp thời. Nhờ đó, cơ thể dễ kiểm soát lượng thức ăn nạp vào và hỗ trợ duy trì cân nặng hợp lý.
Ngược lại, nuốt những miếng thức ăn quá lớn hoặc ăn quá nhanh khiến hệ tiêu hóa phải làm việc nhiều hơn. Điều này dễ gây khó chịu, nhất là ở người bị trào ngược axit, khó tiêu hoặc gặp các vấn đề tiêu hóa.
Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Physiology & Behavior vào năm 2015 cũng xác nhận nhai lâu hơn giúp giảm cảm giác đói và giảm lượng thức ăn tiêu thụ.
Nghiên cứu này không đưa ra số lần nhai cụ thể, nhưng khẳng định việc nhai kỹ kích thích cơ thể tiết các hormone tạo cảm giác no, từ đó hỗ trợ kiểm soát cân nặng.
Bà Brunda M.S. khuyên nên tập trung vào việc ăn chậm thay vì đếm số lần nhai. Mỗi lần chỉ nên ăn một miếng nhỏ và nhai đến khi thức ăn mềm, dễ nuốt.
Bên cạnh đó, cần tránh nói chuyện khi đang nhai, đặt thìa hoặc nĩa xuống giữa các lần ăn và hạn chế sử dụng điện thoại hoặc xem tivi trong bữa ăn để tập trung thưởng thức thức ăn.
Theo bà Brunda M.S., những thói quen đơn giản này mang lại nhiều lợi ích hơn việc cố gắng nhai đúng một số lần cố định. Nếu vẫn thường xuyên khó nuốt, dễ bị nghẹn, đầy hơi hoặc rối loạn tiêu hóa dù đã ăn chậm, người bệnh nên đến cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và điều trị phù hợp.