Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hoàng Thạch, Phó trưởng Khoa Nhi và Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), miếng dán chống say tàu xe thường chứa Scopolamine (hyoscine), được dán sau tai; thuốc hấp thu qua da rồi đi vào máu từ từ trong nhiều giờ. Đây là thuốc có hiệu quả ở người lớn nhưng cần thận trọng ở trẻ em.
Say xe xảy ra khi não nhận tín hiệu “không khớp” giữa tiền đình (cảm nhận chuyển động), cảm giác bản thể (tư thế cơ thể) và thị giác (thấy không gian trong xe gần như đứng yên), gây buồn nôn, chóng mặt. Scopolamine trong miếng dán chống say tác động lên hệ phó giao cảm, làm giảm dẫn truyền tín hiệu từ tiền đình lên trung tâm nôn ở não, nhờ đó giảm các triệu chứng say xe.
Bác sĩ Hoàng Thạch cho biết, hàng rào máu não của trẻ chưa hoàn thiện nên Scopolamine dễ đi vào thần kinh trung ương hơn, khiến trẻ có thể bị một số tác dụng phụ như kích thích thần kinh, lú lẫn, kích động, ngủ gà hoặc mê sảng. Ngoài ra, do thuốc làm giảm hoạt động phó giao cảm nên trẻ có thể có triệu chứng đỏ da, sốt, tim nhanh, bí tiểu, khô miệng, táo bón.
Bên cạnh đó, liều thuốc được hấp thu từ miếng dán cũng khó kiểm soát ở trẻ vì trẻ có diện tích cơ thể nhỏ, da mỏng hơn, sự hấp thu thuốc có thể cao hơn dự đoán.
Thêm nữa, trẻ thường hiếu động và không lường trước được nguy hiểm nên có thể chạm tay vào miếng dán rồi dụi mắt hoặc dán lên mí mắt, dẫn tới nguy cơ giãn đồng tử một bên. Bóc hoặc dán nhiều miếng vào cơ thể cũng gây quá liều ở trẻ.
Ngoài ra, Scopolamine được chuyển hóa chủ yếu qua gan và thải trừ qua thận. Trẻ có chức năng gan thận chưa tốt có thể bị ảnh hưởng.
“Miếng dán scopolamine không được khuyến cáo dùng thường quy cho trẻ nhỏ, đặc biệt nên tránh ở trẻ dưới 12 tuổi nếu không có chỉ định chuyên môn. Phụ huynh cũng không nên tự ý cắt nhỏ miếng dán để ‘giảm liều’ vì hoạt chất phân bố không đồng đều. Trẻ có bệnh lý thần kinh, động kinh càng cần tránh sử dụng”, bác sĩ Hoàng Thạch lưu ý.
Phụ huynh cần tháo miếng dán ra ngay và đưa trẻ đi cấp cứu nếu có trẻ có các biểu hiện: Ngủ li bì khó đánh thức, kích động dữ dội, nói nhảm, ảo giác, co giật, đi loạng choạng nhiều, khó thở, tim đập nhanh, sốt cao, đỏ bừng toàn thân, bí tiểu, đồng tử giãn lớn kèm nhìn mờ… Đây có thể là biểu hiện ngộ độc kháng phó giao cảm. Một số trẻ chỉ dán 1 miếng dán say xe cũng có thể xuất hiện triệu chứng thần kinh rõ rệt.
Sáng 14-5, Hội nghị sản phụ khoa Việt - Pháp - châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 26 (OGVFAP 2026) do Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) tổ chức đã chính thức diễn ra tại TP.HCM.
Phát biểu khai mạc hội nghị, BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ - cho biết ngành sản phụ khoa của TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung đã đạt nhiều thành tựu y khoa nổi bật, từng bước vươn tầm khu vực và thế giới ở nhiều lĩnh vực chuyên sâu.
Theo ông, hiện nước ta có thế mạnh ở các kỹ thuật như phẫu thuật nội soi, can thiệp bào thai, thụ tinh trong ống nghiệm, y học bào thai từ chẩn đoán sớm đến điều trị can thiệp. Đặc biệt, kỹ thuật can thiệp nong van tim bào thai xuyên tử cung được xem là một trong những dấu ấn chuyên môn đỉnh cao của y học bào thai Việt Nam.
Bên cạnh đó, các kỹ thuật di truyền y học và y học phân tử trong tầm soát, chẩn đoán sớm cũng đang phát triển mạnh mẽ.
Riêng tại Bệnh viện Từ Dũ, BS Hải cho biết trung bình mỗi năm bệnh viện thực hiện khoảng 47.000 ca phẫu thuật, trong đó phẫu thuật nội soi chiếm trên 75%, phẫu thuật sản khoa đạt gần 28.000 ca.
Là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành khu vực phía Nam, bệnh viện cũng tiếp nhận nhiều trường hợp bệnh lý nặng, nguy kịch.
Về tỉ lệ tử vong trong những năm gần đây, đặc biệt năm 2025 đã giảm xuống mức thấp nhất từ trước đến nay.
BS Hải cho biết thêm xu hướng của y học hiện đại hiện nay là "chẩn đoán sớm, chính xác và can thiệp tối thiểu", tiến tới phát hiện từ cấp độ di truyền, sinh học phân tử, giai đoạn bào thai trước khi em bé chào đời.
Theo đó bệnh viện đã triển khai chẩn đoán bất thường thai từ tam cá nguyệt đầu tiên (tức giai đoạn thai 11 - 13 tuần), trong khi trước đây nhiều bất thường thai chỉ phát hiện được sau 20 - 22 tuần thai.
Đặc biệt, trong hai năm qua, ê kíp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện 14 ca can thiệp thông tim bào thai. Trong đó, 13/14 ca thành công về mặt kỹ thuật và cứu sống được 13 thai nhi.
"Để làm được điều này cần kết hợp nhiều đơn vị chuyên ngành, sử dụng các phương pháp tiên tiến, thực tế ảo, đẩy mạnh hợp tác quốc tế", BS Hải kết luận.
GS.BS Nguyễn Viết Tiến - Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam - đánh giá qua hơn hai thập kỷ duy trì tổ chức hội nghị cho thấy các thế hệ giáo sư, bác sĩ sản phụ khoa luôn đề cao tinh thần trách nhiệm trong công tác khám chữa bệnh.
Ông kỳ vọng hội nghị không chỉ là diễn đàn khoa học mà còn lan tỏa tinh thần nhân văn, truyền tải tình thương và trách nhiệm với bệnh nhân.
Chuối và cam là 2 lựa chọn phổ biến nhờ tiện lợi và giàu dinh dưỡng. Tuy nhiên, mỗi loại lại mang đến tác động khác nhau đối với cơ thể, theo trang NDTV Food (Ấn Độ).
Chuối chứa nhiều carbohydrate như glucose, fructose và sucrose. Các loại đường này cung cấp năng lượng nhanh cho cơ thể. Nghiên cứu đăng trên PLOS One cho thấy chuối giúp duy trì năng lượng trong hoạt động kéo dài.
Chuối còn chứa chất xơ, giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Nhờ đó, năng lượng được giải phóng từ từ và ổn định hơn. Cơ thể tránh được tình trạng tăng đường huyết đột ngột rồi giảm nhanh.
Chuối có chỉ số đường huyết ở mức trung bình, khoảng 51. Mức này giúp cơ thể nhận năng lượng một cách cân bằng, không gây mệt mỏi sau khi ăn.
Cam có lượng calo và carbohydrate thấp hơn chuối nhưng lại chứa nhiều nước. Hàm lượng nước trong cam đạt khoảng 85% đến 87%. Nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tỉnh táo và giảm cảm giác mệt mỏi.
Nghiên cứu đăng trên Public Health Nutrition ghi nhận việc ăn cam giúp duy trì chế độ ăn cân bằng và ổn định năng lượng.
Cam dễ tiêu hóa và tạo cảm giác nhẹ bụng sau khi ăn. Loại trái cây này cung cấp năng lượng nhanh nhưng không kéo dài.
Chuối chứa lượng carbohydrate gần gấp đôi so với cam. Điều này giúp chuối duy trì năng lượng lâu hơn. Cam có ít carbohydrate nhưng giúp cơ thể bù nước hiệu quả.
Hai loại trái cây mang đến hai cách hỗ trợ khác nhau: chuối cung cấp năng lượng bền, còn cam giúp cơ thể tỉnh táo nhanh.
Chuối giàu kali, một khoáng chất cần thiết cho hoạt động cơ bắp và chuyển hóa năng lượng. Kali giúp cơ thể duy trì sức bền và hạn chế mệt mỏi khi vận động.
Cam cung cấp nhiều vitamin C và nước. Vitamin C hỗ trợ sức khỏe tổng thể, trong khi nước giúp giảm cảm giác mệt do thiếu nước.
Chuối phù hợp khi cần năng lượng kéo dài hoặc khi lịch trình buổi sáng dày đặc. Cam phù hợp khi cần bữa ăn nhẹ, dễ tiêu và giúp cơ thể tỉnh táo nhanh.
Kết hợp chuối và cam giúp cân bằng giữa năng lượng và nước, hỗ trợ cơ thể hoạt động hiệu quả hơn trong buổi sáng. Không có lựa chọn duy nhất phù hợp cho tất cả, mà phụ thuộc vào nhu cầu năng lượng và tình trạng cơ thể của từng người.
Theo Cục Phòng bệnh - Bộ Y tế, vi khuẩn Burkholderia pseudomallei tồn tại tự nhiên trong đất, bùn và nước ô nhiễm. Người có thể mắc bệnh khi tiếp xúc với đất, bùn, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước, vết thương hở trên da; do hít phải bụi hoặc giọt nước bị nhiễm khuẩn; hoặc do sử dụng nguồn nước, thực phẩm bị ô nhiễm.
Bệnh Whitmore có biểu hiện lâm sàng đa dạng, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác, gây khó khăn cho chẩn đoán sớm. Bệnh có thể diễn biến nặng với các biểu hiện như viêm phổi, áp xe ở nhiều cơ quan, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng và có nguy cơ tử vong nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Những người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh gan, bệnh thận, bệnh phổi mạn tính, suy giảm miễn dịch và người thường xuyên tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn là nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Sau khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn, nhất là sau mưa bão, ngập lụt, nếu có biểu hiện sốt, ho, đau ngực, khó thở, nổi áp xe, nhiễm trùng da hoặc tình trạng nhiễm trùng kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Whitmore là bệnh ít gặp, chủ yếu liên quan đến phơi nhiễm từ môi trường, không phải là bệnh lây truyền phổ biến từ người sang người. Bệnh ghi nhận nhiều tại khu vực Đông Nam Á và miền bắc nước Úc. Tại VN, hằng năm ghi nhận một số ca bệnh rải rác, thường tăng sau mưa lớn, ngập lụt, bão lũ.