Theo thông tin ban đầu, khoảng 15 giờ 45 phút ngày 2.4, ông V.G.L đang chạy xe máy trên quốc lộ 1 theo hướng từ trung tâm tỉnh Cà Mau về xã Cái Nước. Lúc này, ông L. phát hiện phía sau có một xe tải mất lái đang lao thẳng tới.
Ông L. nhanh chân bỏ xe, nhảy sang phần đường còn lại. Lúc này, chiếc xe tải mất lái tông vào xe máy của ông, hất văng vào lề đường rồi tiếp tục lao đi, cuốn theo nhiều xe máy dựng bên đường.
Bà D.K.D kể lại khi bà đang đứng bán xôi ven đường thì thấy xe tải lao đến với phần cabin sụp xuống, tài xế bên trong không thể điều khiển xe. Chiếc xe tông thẳng vào xe xôi của bà, rồi tiếp tục cán qua 2 xe máy dựng trước một cửa hàng sửa xe gần đó.
Chiếc xe tải chỉ dừng lại khi va vào cột điện ven đường, sau quãng lao dài hơn 100 mét. Tài xế được phát hiện trong tình trạng bất tỉnh, người dân nhanh chóng đưa ra khỏi cabin và chuyển đi cấp cứu.
Ghi nhận tại hiện trường, phần đầu xe tải hư hỏng nặng, 2 xe máy bị cuốn kẹt dưới gầm, 2 xe khác văng ra lề. Một xe bán xôi cùng nhiều sạp rau của người dân ven đường cũng bị hư hại.
Lực lượng chức năng sau đó có mặt để điều tiết giao thông, ghi nhận thiệt hại và điều tra nguyên nhân vụ xe tải mất lái.
Thời Sự
Cựu Phó chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Bình Dương làm giả sổ đỏ đem cầm lấy tiền

Theo cáo trạng, tháng 8.2018, thời điểm này Trần Thị Mười Bảy đang là Phó chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Bình Dương đã vay tiền của bà Nguyễn Thị Tâm (59 tuổi, ở phường Phú Lợi, TP.HCM).
Cùng thời điểm 2018, ông T.V.Q (69 tuổi, ở TP.HCM) có nhu cầu bán 2 thửa đất ở thành phố Bến Cát (Bình Dương cũ, nay là TP.HCM) nên đã nhờ Trần Thị Mười Bảy môi giới để bán.
Lợi dụng danh nghĩa Phó chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Trần Thị Mười Bảy đã mượn 2 cuốn sổ đỏ bản chính của ông Q. với lý do để giới thiệu cho người mua, nhưng sau đó Bảy đã đi photocopy in phun màu rồi dùng 2 bản sổ giả này cầm cố cho bà Nguyễn Thị Tâm nhiều lần lấy tổng gần 1,5 tỉ đồng.
Năm 2019, do Bảy mất khả năng trả nợ, bà Tâm khởi kiện Bảy ra tòa, sau đó TAND thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương cũ, nay là TAND Khu vực 15, TP.HCM) đã buộc Bảy phải trả cho bà Tâm gần 1,5 tỉ đồng.
Đến năm 2020, Trần Thị Mười Bảy xin nghỉ việc tại Hội Chữ thập đỏ Bình Dương và bỏ trốn khỏi nơi cư trú trong khi vẫn chưa thực hiện thi hành án, trả nợ cho bà Tâm.
Đến tháng 9.2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương (cũ) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Thị Mười Bảy về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức (Thanh Niên đã thông tin). Đến nay, Viện KSND TP.HCM đã hoàn tất cáo trạng, truy tố Trần Thị Mười Bảy ra tòa cùng về 2 hành vi kể trên.
Tin Gốc: Thanh Niên

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Nguồn: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

Chỉ ít phút đứng dưới sân đỗ sân bay Nội Bài, mồ hôi đã thấm ướt lưng áo anh Trần Tuấn Nguyên, nhân viên phục vụ mặt đất. Giữa trưa nắng gắt, hơi nóng từ nền bêtông hắt lên bỏng rát, cộng thêm sức nóng từ động cơ tàu bay và các thiết bị vận hành khiến không khí đặc quánh.
Từ vị trí đỗ máy bay, anh Nguyên cùng đồng nghiệp liên tục vận chuyển hành lý và điều phối thiết bị phục vụ chuyến bay. Công việc diễn ra gần như không có quãng nghỉ trong cao điểm hè, khi lượng hành khách tăng mạnh. "Dù vất vả nhưng anh em luôn động viên nhau hoàn thành nhiệm vụ vì phía sau là hàng trăm hành khách chờ chuyến bay an toàn, đúng giờ", anh nói.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, nhiều khu vực Bắc Bộ và miền Trung đang bước vào cao điểm nắng nóng với nhiệt độ phổ biến 37-39 độ C, có nơi vượt 40 độ C. Tại các sân bay, điều kiện làm việc khắc nghiệt hơn khi mặt sân đỗ hấp thụ nhiệt liên tục, có thời điểm nền bêtông đạt 70-80 độ C.
Không chỉ lực lượng phục vụ mặt đất, các nhân viên kỹ thuật tàu bay cũng phải làm việc liên tục dưới nắng nóng để kiểm tra động cơ, càng đáp, hệ thống điện và bảo dưỡng kỹ thuật trước mỗi chuyến bay. Mọi thao tác đều đòi hỏi độ chính xác cao để đảm bảo an toàn khai thác.
Ở khu vực hàng hóa, nhân viên bốc xếp làm việc giữa hơi nóng hầm hập tỏa ra từ container kim loại và nền sân đỗ hấp nhiệt. Trong khi đó, lực lượng an ninh hàng không liên tục tuần tra, giám sát khu vực khai thác; nhân viên tiếp nhiên liệu và kỹ thuật mặt đất phải duy trì cường độ làm việc cao suốt nhiều giờ ngoài trời.
Anh Phạm Đức Minh, nhân viên kỹ thuật khai thác tại sân bay Nội Bài, cho biết áp lực lớn nhất không chỉ là thời tiết mà còn là yêu cầu tuyệt đối về an toàn. "Dưới trời nắng nóng kéo dài, mọi quy trình kiểm tra kỹ thuật, tiếp nhiên liệu hay giám sát trang thiết bị đều phải thực hiện chính xác. Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể ảnh hưởng tới toàn bộ chuyến bay", anh nói.
Để giảm ảnh hưởng của nắng nóng, các đơn vị hàng không bổ sung nước uống, bố trí nghỉ giữa ca, tăng cường làm mát tại vị trí làm việc và điều chỉnh thời gian vận hành phù hợp.
Đại diện Vietnam Airlines cho biết trong cao điểm hè, các bộ phận kỹ thuật, điều hành bay, phục vụ mặt đất và dịch vụ hành khách phối hợp rút ngắn thời gian phục vụ, làm mát khoang hành khách trước giờ bay nhằm giảm tác động của thời tiết nắng nóng.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, ngày 25/5, Hà Nội ghi nhận mức nhiệt 40,7 độ C vào buổi chiều, cao nhất cả nước trong đợt nắng nóng đặc biệt gay gắt đang bao trùm Bắc Bộ và miền Trung.
Đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung là hai khu vực có nền nhiệt cao nhất cả nước, với 8 tỉnh, thành ghi nhận nhiệt độ vượt 40 độ C. Đây là mức nhiệt đo trong lều khí tượng tiêu chuẩn đặt ở độ cao 2 m so với mặt đất. Nhiệt độ cảm nhận thực tế ngoài trời thường cao hơn 2-4 độ C, đặc biệt tại khu vực đô thị có nhiều bề mặt hấp thụ nhiệt như bêtông, đường nhựa.
Tin Gốc: Vnexpress

