Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
“Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa”, ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói “mười năm chín hạn” (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất “sống ngâm da, chết ngâm xương”.
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: “Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm”.
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là “Đại thủy nông Bắc – Hưng – Hải”. Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
“Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh”, ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. “Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá”, ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
“Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới”, ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
“Mong ước đó không biết có viển vông quá không?”, ông Sử tự hỏi.
Chiều nay 28.4, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Phạm Đình Chí, Chủ tịch UBND xã Đông Sơn (Quảng Ngãi), xác nhận trên địa bàn vừa xảy ra vụ sét đánh khiến một người đàn ông tử vong.
Nạn nhân là ông P.K.T (60 tuổi, ở thôn Liên Trì, xã Đông Sơn).
Theo thông tin ban đầu, khoảng 14 giờ 15 chiều nay 28.4, ông T. đang chở lúa ngoài ruộng tại thôn Liên Trì thì bất ngờ bị sét đánh trúng, tử vong.
Ngay sau khi nhận tin báo, chính quyền địa phương đã cử lực lượng đến thăm hỏi, động viên gia đình, đồng thời hỗ trợ các thủ tục liên quan.
Theo Đài khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ngãi, do ảnh hưởng của không khí lạnh, khu vực các xã phía đông của tỉnh Quảng Ngãi sẽ xuất hiện mưa giông kèm sét từ nay đến hết ngày 2.5. Trong các cơn giông, nguy cơ xảy ra mưa lớn cục bộ, mưa đá, lốc, sét và gió giật mạnh là rất cao.
Ngành chức năng khuyến cáo người dân hạn chế ra đồng, làm việc ngoài trời khi có dấu hiệu giông lốc và chủ động tìm nơi trú ẩn an toàn, nhằm tránh những tai nạn đáng tiếc do sét gây ra. Cần phải tránh xa những tán cây to cao, khu ẩm ướt, tránh xa vật kim loại có khả năng tích điện cao như máy cày, máy tuốt lúa, cuốc xẻng…
Ngày 13.5, tại phường Bà Rịa (TP.HCM), Tổ đại biểu Quốc hội, đơn vị số 4 (TP.HCM) đã tiếp xúc cử tri các phường, xã: Bà Rịa, Vũng Tàu, Tam Thắng, Rạch Dừa, Phước Thắng, Long Hương và Long Sơn.
Chủ trì buổi tiếp xúc cử tri là ông Lê Khánh Hải, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; thiếu tướng Nguyễn Thành Trung, Chính ủy Bộ Tư lệnh TP.HCM. Ông Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam vắng do lịch công tác.
Tại buổi tiếp xúc, cử tri đề nghị "phân cấp, phân quyền" cụ thể cho địa phương (cấp xã), bao gồm cả đội ngũ cán bộ khu phố và hoạt động ở khu phố; mở rộng đối tượng là người phụ thuộc có thu nhập thấp (lương hưu dưới 3 triệu đồng/tháng) để giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế thu nhập cá nhân; cần điều hành thị trường xăng dầu do tình hình Trung Đông diễn biến phức tạp, để người dân được thụ hưởng tốt hơn...
Bên cạnh đó, cử tri còn kiến nghị các đại biểu Quốc hội quan tâm phản ánh đến Trung ương sớm có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về tổ chức bộ máy và biên chế đối với các phòng, ban chuyên môn cấp xã sau khi thực hiện mô hình chính quyền 2 cấp; đề nghị Trung ương xem xét bổ sung biên chế phù hợp với quy mô dân số, diện tích tự nhiên, tốc độ đô thị hóa và khối lượng công việc thực tế của từng địa phương; bảo đảm có đủ nguồn nhân lực để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
Phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri, ông Lê Khánh Hải, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước cho biết Quốc hội tập trung hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Theo ông Hải, đây cũng là điều cử tri rất quan tâm. Bà con không chỉ muốn nghe những chủ trương lớn mà còn mong thấy chuyển biến trong từng việc cụ thể, như thủ tục có bớt phiền hà không; quy hoạch có rõ ràng hơn không; dự án chậm có được tháo gỡ không; đường sá, trường học, y tế, công viên, môi trường có tốt hơn không; chính quyền cơ sở có gần dân hơn không; khu phố có đủ điều kiện hoạt động không; đời sống người dân có được cải thiện không...
Cũng theo ông Lê Khánh Hải, các phường, xã dự tiếp xúc sáng nay đều có vị trí rất đặc biệt trong không gian phát triển mới của TP.HCM. Phường Bà Rịa, địa bàn có vai trò quan trọng về hành chính, đô thị, kết nối hạ tầng và dịch vụ. Phường Vũng Tàu là đô thị biển, trung tâm du lịch, dịch vụ, thương mại, văn hóa, có vị trí rất quan trọng về kinh tế biển.
Các phường Tam Thắng, Rạch Dừa, Phước Thắng là các địa bàn đô thị đang phát triển nhanh, có nhiều tiềm năng về thương mại, dịch vụ, du lịch, dân cư, hạ tầng. Phường Long Hương là khu vực có không gian phát triển đô thị, nông nghiệp, nhà ở, dự án và quy hoạch đang chuyển động mạnh. Xã Long Sơn là địa bàn có vị trí rất quan trọng về kinh tế biển, công nghiệp, cảng, hóa dầu, thủy sản, quốc phòng - an ninh.
Nhìn tổng thể, đây là khu vực có nhiều lợi thế, có biển, cảng, đô thị, du lịch, dịch vụ, nông nghiệp, thủy sản; có các dự án công nghiệp, hạ tầng lớn; có truyền thống lịch sử, văn hóa và con người năng động, nghĩa tình. Nhưng lợi thế chỉ trở thành động lực phát triển khi quy hoạch tốt, hạ tầng tốt, quản lý tốt, môi trường tốt và có sự đồng thuận của nhân dân.
Ông Hải cho biết nhiều địa phương đã chủ động rà soát quy hoạch, chuẩn bị đầu tư công, quản lý đất đai, chỉnh trang đô thị, bảo vệ môi trường, cải cách hành chính, chuyển đổi số. Các hoạt động văn hóa, thể thao, tuyên truyền, chăm lo an sinh xã hội được tổ chức thiết thực, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân.
Tuy nhiên, theo ông Hải, ngoài kết quả đạt được, các địa phương còn vướng, còn khó, còn làm chưa tốt. Một số quy hoạch còn chậm điều chỉnh, chưa đồng bộ, có nơi đã hết hiệu lực, gây khó khăn cho cấp phép xây dựng, thu hút đầu tư và giải quyết nhu cầu chính đáng của người dân. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số dự án còn vướng.
Một số hồ sơ đất đai, cấp giấy chứng nhận, chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất tái định cư còn tồn đọng. Một số dự án đầu tư công giải ngân còn thấp. Công tác quản lý đất công, tài sản công, trật tự xây dựng, trật tự đô thị, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy vẫn cần được siết chặt hơn.
Ở địa bàn đô thị biển và du lịch như các phường Vũng Tàu, Rạch Dừa, Tam Thắng, Phước Thắng, áp lực về bãi biển, du khách, vệ sinh môi trường, trật tự đô thị, hàng rong, an toàn tắm biển, cứu hộ, giá cả, dịch vụ là rất lớn.
Ở các phường Bà Rịa, Long Hương, áp lực về hạ tầng, quy hoạch, dự án, bồi thường, đất đai, chỉnh trang đô thị cũng rất rõ. Ở xã Long Sơn, yêu cầu phát triển kinh tế biển, công nghiệp, cảng, hóa dầu, nuôi trồng thủy sản phải luôn gắn với bảo vệ môi trường, an toàn dân cư, quốc phòng an ninh và sinh kế bền vững của người dân.
Ông Hải đề nghị các địa phương nhìn nhận đúng thực tế, từ đó có cách làm quyết liệt hơn, cụ thể hơn, sát dân hơn. Các địa phương tiếp tục rà soát các quy hoạch không còn phù hợp. Nội dung nào thuộc thẩm quyền địa phương thì chủ động xử lý. Nội dung nào thuộc thẩm quyền thành phố thì phải báo cáo rõ.
Phải công khai thông tin quy hoạch cho người dân. Phải ưu tiên các công trình dân sinh cấp thiết như đường giao thông, thoát nước, trường học, trạm y tế, công viên, cây xanh, xử lý rác thải, xử lý nước thải.
Với các địa bàn có du lịch biển, phải đặc biệt quan tâm chất lượng không gian công cộng, an toàn bãi tắm, vệ sinh môi trường, văn minh thương mại, giá cả dịch vụ, cứu hộ, cứu nạn. Biển là tài sản chung; phải khai thác tốt, nhưng phải giữ gìn lâu dài.
Đối với vấn đề quản lý đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, ông Hải cho rằng Nhà nước phải phát triển hạ tầng, phải triển khai dự án. Nhưng phát triển phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Bồi thường phải đúng pháp luật, hỗ trợ phải công bằng. Tái định cư phải bảo đảm điều kiện sống…
Hồ sơ phải có thời hạn rõ ràng, không để người dân đi lại nhiều lần mà không biết hồ sơ đang ở đâu. Không để người dân nghe những câu trả lời chung chung, không để những vướng mắc nhỏ kéo dài thành bức xúc lớn.
Ông Hải đề nghị chính quyền các địa phương tiếp tục rà soát từng dự án, từng nhóm hồ sơ, từng vụ việc cụ thể. Cái gì đủ điều kiện thì giải quyết nhanh, cái gì chưa đủ điều kiện thì hướng dẫn rõ, cái gì vượt thẩm quyền thì kiến nghị cấp trên. Việc nào liên quan đến quyền lợi chính đáng của người dân thì phải đối thoại kỹ, không được làm qua loa.
Sáng 14/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ông nhấn mạnh đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa lớn cả về lý luận, thực tiễn, chính trị, tư tưởng và tổ chức, thể hiện trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14. Với khối lượng công việc lớn, yêu cầu cao, phải thực hiện đồng thời với nhiều nhiệm vụ trọng tâm khác, các cơ quan "phải chuyển ngay sang trạng thái làm việc mới" theo hướng khẩn trương, khoa học, thực chất hơn, có thời hạn, có sản phẩm và người chịu trách nhiệm cụ thể.
Người đứng đầu Đảng và Nhà nước yêu cầu không để công việc trôi theo quán tính hành chính, chấm dứt tình trạng hội họp nhiều nhưng sản phẩm ít, phân công rộng nhưng trách nhiệm không rõ. Văn kiện tổng kết cũng không được đơn giản hóa thành báo cáo tình hình hay biên soạn tư liệu lịch sử đơn thuần.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam không phải chỉ kể lại các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, mà phải trả lời được nhiều câu hỏi lớn.
Đó là: Vì sao Đảng có thể lãnh đạo dân tộc vượt qua những bước ngoặt lịch sử và đạt thành tựu to lớn; đâu là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; những bài học mang tính quy luật nào cần tiếp tục kế thừa và phát triển; những hạn chế, khuyết điểm nào cần nhìn thẳng, đánh giá khách quan để sửa chữa, khắc phục. Đâu là tầm nhìn phát triển của đất nước trong 100 năm tới? Những trụ cột nào bảo đảm cho sự vững bền của Đảng, sự trường tồn của dân tộc và chế độ?
Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh phải làm rõ hơn mô hình phát triển của Việt Nam, mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng hệ luận cứ phục vụ xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đề cương chi tiết theo hướng thể hiện được các thông điệp cốt lõi, xuyên suốt, mang tầm nhìn chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên mới; nâng tầm báo cáo tổng kết thành tuyên ngôn phát triển của Đảng.
"Từng câu, từng chữ phải có chiều sâu tư tưởng; từng nội dung phải thể hiện tầm cao tư duy và quan điểm chiến lược; từng kết luận phải khai mở và thúc đẩy hành động", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Về phương pháp tổng kết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận không được xa rời đời sống; thực tiễn không mô tả tản mạn, thiếu khái quát; đề xuất cho tương lai phải dựa trên bằng chứng khoa học, dự báo xu thế và yêu cầu phát triển đất nước.
Ông cũng yêu cầu tổng kết ở tầm quốc gia phải gắn với tổng kết tại địa phương, ngành và lĩnh vực; đặc biệt là các địa phương có dấu ấn lịch sử cách mạng, mô hình đổi mới sáng tạo hoặc vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế phải trên tinh thần độc lập, khách quan, cầu thị, chọn lọc, phù hợp với điều kiện Việt Nam; không rập khuôn, giáo điều hay sao chép máy móc. Trong quá trình tổng kết, các cơ quan phải đánh giá thành tựu đúng và đủ, có sức thuyết phục; đồng thời nhìn thẳng hạn chế, khuyết điểm, phân tích rõ nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan.
"Tổng kết để tự hào nhưng không phải để tự mãn; để khẳng định nhưng không né tránh những vấn đề đặt ra", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.