Ngày 15/5, TAND Khu vực 5 (TPHCM) tiếp tục xét xử vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ngọc Anh (48 tuổi, ngụ TPHCM) và ông Hồ Ngọc Tiên Trung (54 tuổi).
Theo kế hoạch, đại diện Viện KSND Khu vực 5 sẽ phát biểu quan điểm giải quyết vụ án. Tuy nhiên, HĐXX quyết định quay lại phần xét hỏi để làm rõ thêm một số vấn đề liên quan.
Tại phiên tòa, HĐXX cho biết đã nhận được đơn khiếu nại của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.
Phía nguyên đơn đề nghị HĐXX tách phần quan hệ hôn nhân để giải quyết trước, còn các vấn đề liên quan đến tài sản sẽ được xem xét ở giai đoạn sau. Tuy nhiên, luật sư của bị đơn không đồng ý và đề nghị tòa không tách vụ án.
Bên cạnh đó, phía bị đơn cũng đề nghị thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ một số nội dung của vụ án.
Sau thời gian hội ý, HĐXX quyết định tạm dừng phiên tòa để tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ; đồng thời HĐXX cho biết việc có tách vụ án hay không thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của chánh án.
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bà Ngọc Anh và ông Trung tổ chức đám cưới vào tháng 10/2001 sau nhiều năm quen biết, tìm hiểu.
Tháng 3/2015, sau 14 năm chung sống, ông Trung nộp đơn xin ly hôn tại TAND quận Bình Thạnh (nay là TAND Khu vực 5) với lý do hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Trong các bản khai sau đó, ông Trung cho rằng mâu thuẫn phát sinh từ cuối năm 2014 khi ông có quan hệ với người phụ nữ khác. Theo ông, vợ chồng không thể hàn gắn nên đã ly thân.
Hòa giải không thành, ông Trung giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Đến năm 2016, bà Ngọc Anh có yêu cầu phản tố, đề nghị chia tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng cho biết chưa thu thập đầy đủ tài liệu liên quan.
Sau nhiều năm xác minh, thu thập chứng cứ, đến năm 2024, ông Trung bất ngờ thay đổi yêu cầu khởi kiện, từ xin ly hôn sang đề nghị hủy hôn nhân trái pháp luật.
Ông Trung cho rằng giấy chứng nhận kết hôn có nhiều dấu hiệu bất thường như vợ chồng ký nhầm vị trí, ký trước khi hoàn tất thông tin giấy tờ tùy thân và chữ ký trong sổ hộ tịch không phải của ông.
Phía bà Ngọc Anh không đồng ý với yêu cầu hủy hôn nhân. Bà cho rằng quan hệ vợ chồng được xác lập hợp pháp, hoàn toàn tự nguyện và không có chuyện lừa dối.
Theo bà Ngọc Anh, hai người quen nhau từ năm 1996 khi còn là sinh viên nghèo tại TPHCM và duy trì tình cảm trong nhiều năm dù gia đình hai bên không ủng hộ do khác biệt về quan điểm và hoàn cảnh sống. Trong khoảng thời gian đó, cả hai từng nhiều lần chia tay rồi quay lại.
Bà thừa nhận trong thời gian chia tay từng xảy ra “sự việc ngoài ý muốn”, song khẳng định ông Trung biết rõ việc không cùng huyết thống với con gái nhưng vẫn chấp nhận và đồng ý để cháu mang họ của mình.
Sau đó, hai người tổ chức lễ cưới tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) và TPHCM với sự chứng kiến của gia đình, bạn bè hai bên. Bà Ngọc Anh khẳng định toàn bộ thủ tục đăng ký kết hôn được thực hiện đúng quy định và có cán bộ tư pháp hướng dẫn.
Theo bà Ngọc Anh, thời gian đầu hôn nhân khá hạnh phúc, hai người cùng gây dựng hệ thống nha khoa thẩm mỹ. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2010, khi điều kiện kinh tế khá giả hơn thì mâu thuẫn bắt đầu phát sinh.
Bà cho rằng trong nhiều biên bản làm việc tại tòa từ năm 2015 đến 2024, ông Trung đều xác nhận hôn nhân là tự nguyện và vẫn sử dụng giấy chứng nhận kết hôn trong các giao dịch dân sự, bao gồm cả việc mua bán nhà đất đứng tên hai vợ chồng.
Theo bà Ngọc Anh, chỉ đến khi bà yêu cầu chia toàn bộ tài sản và đề nghị tòa thu thập chứng cứ liên quan đến 4 người con ngoài giá thú của chồng với người phụ nữ khác thì ông Trung mới chuyển sang yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật.
Tại phiên tòa, ông Trung giữ nguyên quan điểm đề nghị hủy hôn nhân và không đồng ý chia tài sản chung vì cho rằng quan hệ hôn nhân không hợp pháp. Tuy nhiên, ông đồng ý chia cho vợ 20% giá trị tài sản và mong muốn vụ việc sớm kết thúc.
Trong khi đó, bà Ngọc Anh yêu cầu được ly hôn và đề nghị chia khối tài sản trị giá hơn 1.294 tỷ đồng, trong đó phần bà yêu cầu được nhận là hơn 674 tỷ đồng.
Ngày 29-4, thông tin từ Phòng Cảnh sát hình sự (PC02) Công an tỉnh Tây Ninh cho biết đã xác minh thông tin về đoạn clip xuất hiện trên Facebook, TikTok quay cảnh nhóm thanh thiếu niên chạy xe máy lạng lách, đánh võng, bốc đầu tại tỉnh Tây Ninh.
Kết quả cho thấy khoảng 2h ngày 12-4, Huỳnh Bảo Hoàng Nam (19 tuổi) cùng 6 thiếu niên 17 tuổi đến tiệm sửa xe của T.Q.Th. (17 tuổi, cùng ngụ ấp Lộc Trung, xã Mỹ Lộc, Tây Ninh) để sửa xe và xem độ xe.
Th. biết một số tiệm sửa xe chuyên độ lại xe máy ở Tây Ninh, TP.HCM hay hẹn nhau đến khu du lịch biển Tân Thành thuộc xã Gò Công Đông, Đồng Tháp để đua xe trái phép vào rạng sáng chủ nhật hằng tuần, do đó Th. rủ tất cả cùng đi về Đồng Tháp.
Trong quá trình di chuyển sang địa phận tỉnh Đồng Tháp, nhóm 7 người này lại gặp các nhóm khác lên đến hàng chục người. Những thanh thiếu niên này gặp nhau thì tự hiểu ý với nhau là tập trung để đua xe trái phép nhằm "dợt" những chiếc xe độ.
Đến khoảng 6h, nhóm này đi trên 22 chiếc xe máy, trong đó có nhiều chiếc không gắn biển số hoặc sử dụng khẩu trang, giấy dán để che biển số đi trên quốc lộ 50 theo hướng từ cầu Mỹ Lợi về Tây Ninh.
Cả nhóm kéo nhau qua tuyến tránh quốc lộ 50, sang ĐT.830 rồi quay về quốc lộ 50 để đi về TP.HCM.
Trên đường đi, rất nhiều thanh thiếu niên không đội nón bảo hiểm, liên tục điều khiển xe máy chạy dàn hàng ngang, rú ga, chạy bốc đầu và lạng lách, đánh võng gây náo loạn đoạn đường khoảng 14km.
Lê Phong Thuận, Trần Nguyễn THiện Trung (cùng 20 tuổi, cùng ngụ xã Bình Chánh, TP.HCM) và Trần Nghĩa (18 tuổi, ngụ xã Phước Lý, Tây Ninh) đã đăng tải các clip về vụ việc lên mạng xã hội.
PC02 Tây Ninh đã mời làm việc với 35 thanh thiếu niên tham gia "dợt' xe này, phần nhiều trong độ tuổi 16, 17 tuổi từ Tây Ninh, TP.HCM, Đồng Tháp.
PC02 Tây Ninh đã khởi tố 24 thanh thiếu niên về tội gây rối trật tự công cộng. Đồng thời tiếp tục củng cố hồ sơ, xử lý những người còn lại.
Theo quy định Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của luật này.
Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì tài sản riêng của vợ chồng bao gồm:
- Tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
Đối chiếu quy định pháp luật với trường hợp chị nêu thì căn hộ chung cư là tài sản riêng của chị vì trước khi kết hôn thì chị đã dùng 1 tỉ đồng là tiền riêng của chị để trả tiền mua căn hộ. Sau đó chị tiếp tục trả khoản nợ 2 tỉ mượn của cha mẹ để mua căn hộ này bằng thu nhập của riêng chị vào hai giai đoạn trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân.
Trong thời kỳ hôn nhân thì thu nhập được xem là của riêng vợ hoặc chồng là khoản thu nhập có được từ tài sản riêng của vợ chồng có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng; được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ chồng theo quy định.
Ví dụ: Thu nhập từ việc bán tài sản được thừa kế riêng.
- Trong thời kỳ hôn nhân thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng được xem là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên khoản hoa lợi, lợi tức này sẽ là tài sản riêng sau khi vợ chồng thực hiện chia tài sản chung.
Ví dụ: Trong thời kỳ hôn nhân, khi chưa chia tài sản chung thì thu nhập từ việc cho thuê nhà là tài sản riêng của vợ chồng được xem là tài sản chung, nếu đã chia tài sản chung rồi thì thu nhập này là tài sản riêng.
Để chứng minh là tài sản riêng thì chị cần lưu giữ các chứng cứ sau:
- Giấy tờ chứng minh thu nhập để trả khoản nợ mua căn hộ là tài sản riêng.
- Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.
- Biên bản giao nhận tiền hoặc chứng từ chuyển tiền mua căn hộ.
- Sao kê trả nợ 2 tỉ đồng cho cha mẹ ở hai giai đoạn trước và sau khi kết hôn.
Ngày 28/4, TAND Tp.HCM mở phiên tòa sơ thẩm hình sự, xét xử bị cáo Phạm Thị Mai (SN 1982, ngụ Tp.HCM) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Chiếm giữ trái phép tài sản.
Bị cáo Mai là nhân viên tín dụng tại Ngân hàng A. - Chi nhánh Chơn Thành. Đến ngày 22/12/2022 Mai được điều động nhận nhiệm vụ nhân viên phòng tổng hợp Chi nhánh Chơn Thành Tây Bình Phước.
Từ năm 2017 đến năm 2022, Mai kinh doanh bất động sản bị thua lỗ, nợ tiền của nhiều người nên Mai đã đưa ra thông tin gian dối rằng Mai từng là Phó Giám đốc Ngân hàng bị mất chức nên cần tiến để lo phục chức, cần tiền để nhận chuyển nhượng đất hoặc vay tiền để đáo hạn ngân hàng.
Bằng các lý do trên, mai đã nhiều lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Trần Anh Cường (SN 1961, ngụ tỉnh Lâm Đồng) và ông Nim A Sy tổng số tiền hơn 1,5 tỷ đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Maii khai vào ngày 28/5/2023, Mai nói với ông Cường là cần tiền để lo phục chức nên hỏi vay 220 triệu đồng. Ông Cường tin tưởng nên 3 lần chuyển tổng cộng cho Mai tổng số tiền 220 triệu đồng. Việc vay mượn này giữa ông Cường và Mai có lập Hợp đồng vay tiền công chứng tại Văn phòng công chứng Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cũ.
Hơn nửa tháng sau, Mai đưa ra lý do cần tiền để hoàn tất việc nhận chuyển nhượng thửa đất số 265, tờ bản đồ số 15, ấp Hiếu Cảm, phường Chơn Thành, tỉnh Đồng Nai, nên hỏi vay ông Cường 772 triệu đồng. Để ông Cường tin tưởng. Mai chụp ảnh gửi cho ông Cường hợp đồng đặt cọc và bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng thừa đất số 265 và Mai hứa hẹn sau khi nhận chuyển nhượng thì Mai sẽ sang tay (lướt sóng) để trả lại tiền cho ông Cường. Tin tưởng, ông Cường đã chuyển khoản và đưa tiền mặt cho Mai.
Tổng số tiền ông Cường chuyển cho Mai là 992 triệu đồng. Sau đó, Mai không trả lại tiền cho ông Cường nên ngày 20/01/2024, ông Cường tố cáo Mai chiếm đoạt tài sản đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương (cũ).
Ngoài việc đưa ra thông tin gian dối để « phục chức » hoặc chuyển nhượng đất, bị cáo Mai còn lấy lý do cần tiền đảo hạn ngân hàng để lừa của ông Nim A Sy hơn 700 triệu đồng.
Theo đó, tháng 6/2022, Mai liên hệ ông Sy hỏi vay số tiền 700 triệu đồng với mục đích đảo hạn ngân hàng. Do tin tưởng thông tin Mai đưa ra là thật nên ông Sy đồng ý cho Mai vay tiền. Ngày 08/06/2022, ông Nim A Sy và Phạm Thị Mai lập 1 Giấy vay tiền đảo hạn ngân hàng có nội dung về việc ông Sy giao cho Mai 700 triệu đồng với mục đích "đảo hạn ngân hàng", thời hạn vay tiền 02 ngày.
Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ, Mai không thực hiện nên ông Sy gửi đơn tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp.HCM.
Quá trình điều tra, Phạm Thị Mai khai nhận do thiếu nợ của nhiều người và không có khả năng trả nợ nên Mai đã chiếm đoạt tiền của ông Cường và ông Sy để sử dụng vào mục đích trả nợ và tiêu xài hết.
Ngoài ra, bị cáo Mai còn bị thừa nhận đã chiếm giữ trái phép số tiền 499 triệu đồng của bà Ban Thị Nhân khi bà này chuyển nhầm số tiền này vào tài khoản của Mai. Dù bà Nhân nhiều lần liên hệ đề nghị Mai chuyển trả lại tiền nhưng Mai không thực hiện, mà sử dụng tiêu xài hết.
Ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo Mai tỏ ra hối hận, mong được pháp luật khoan hồng, tuyên mức án nhẹ.
Tuy nhiên, HĐXX sau khi nghị án đã cho rằng, hành vi của Phạm Thị Mai là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, cần phải xử lý nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị can và răn đe, phòng ngừa chung đối với xã hội.