Chín tháng trước, tôi cũng giống như hàng nghìn sinh viên khác bước ra khỏi cổng trường đại học với rất nhiều hy vọng. Sau bốn năm học tập, ai cũng nghĩ rằng tấm bằng đại học sẽ mở ra cánh cửa nghề nghiệp ổn định, ít nhất là một công việc đúng chuyên ngành, có cơ hội phát triển và đủ để tự nuôi sống bản thân.
May mắn hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa, tôi tìm được một công việc khá ổn định ở một công ty chỉ sau vài tháng tốt nghiệp. Thu nhập chưa phải quá cao nhưng đủ để tôi trang trải cuộc sống ở thành phố, phụ giúp gia đình đôi chút và quan trọng nhất là có cảm giác mình đang đi đúng hướng.
Nhưng không phải ai cũng có được sự may mắn đó. Một người bạn thân của tôi tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh cùng thời điểm với tôi. Khi còn học đại học, cậu ấy là người năng động, tham gia câu lạc bộ, từng làm thêm nhiều công việc liên quan đến bán hàng và Marketing. Chúng tôi đều nghĩ rằng sau khi ra trường, cậu ấy sẽ dễ dàng vào làm ở một công ty lớn với vị trí nhân viên kinh doanh hoặc quản trị dự án.
Thế nhưng, gần một năm trôi qua, điều cậu ấy nhận được không phải là thư mời từ các doanh nghiệp lớn mà là hàng chục email từ chối tuyển dụng, hoặc im lặng sau những buổi phỏng vấn. Hiện tại, bạn tôi đang kiếm sống bằng công việc bán hàng tại một cửa hàng siêu thị mini gần nhà.
>> Tôi về nước làm lễ tân lương 8 triệu sau 5 năm du học
Tôi không xem thường công việc bán hàng, nhưng sự đối lập quá lớn giữa những gì mình từng kỳ vọng và thực tế đang diễn ra khiến tôi không khỏi suy nghĩ. Một người học đại học bốn năm, mang trong tay tấm bằng cử nhân Quản trị kinh doanh, cuối cùng lại đứng tính tiền từng chai nước ngọt, từng gói mì và làm việc hơn 10 tiếng mỗi ngày trong một cửa hàng nhỏ, liệu có xứng đáng không?
Có lần, tôi ghé qua chỗ làm của bạn vào buổi tối, thấy cậu đang ngồi ghi sổ hàng hóa, phía sau là những kệ bánh kẹo và mì gói chất đầy. Nhìn bạn mình trong bộ đồng phục nhân viên bán hàng, tôi chợt thấy chạnh lòng cho một thế hệ trẻ đang phải vật lộn giữa lý tưởng học tập và thực tế khắc nghiệt của thị trường lao động.
Bạn tôi kể đã nộp hồ sơ vào rất nhiều công ty. Có nơi yêu cầu kinh nghiệm tối thiểu một đến hai năm dù tuyển vị trí dành cho sinh viên mới ra trường. Có nơi phỏng vấn nhiều vòng rồi cuối cùng chọn người “phù hợp hơn”. Có công ty đăng tuyển liên tục nhưng thực chất mức lương quá thấp hoặc môi trường làm việc thiếu ổn định.
Sau nhiều tháng thất nghiệp, bạn tôi buộc phải tìm việc làm thêm để có thu nhập. Ban đầu chỉ định làm tạm vài tháng, nhưng rồi thời gian cứ kéo dài vì chưa xin được việc chuyên môn. Vẫn biết lao động chân chính luôn đáng trân trọng. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ rất nhiều sinh viên đang rơi vào tình trạng học một đằng nhưng cuộc sống lại đẩy họ sang một hướng khác hoàn toàn.
Xã hội vẫn thường nói đại học là con đường ngắn nhất để đổi đời. Nhưng thực tế bây giờ phức tạp hơn rất nhiều. Số lượng cử nhân ra trường mỗi năm ngày càng lớn trong khi nhu cầu tuyển dụng không tăng tương ứng. Nhiều ngành học đào tạo theo lý thuyết nhiều hơn thực hành khiến sinh viên thiếu kỹ năng thực tế. Không ít người cầm bằng đại học nhưng loay hoay không biết mình thực sự giỏi điều gì?
Trước đây, rất nhiều người chọn ngành Quản trị kinh doanh vì nghĩ đây là ngành “an toàn”, dễ xin việc và phù hợp với nhiều lĩnh vực. Nhưng cũng vì quá phổ biến nên mức độ cạnh tranh cực kỳ cao. Một vị trí tuyển dụng có thể nhận hàng trăm hồ sơ. Trong cuộc cạnh tranh ấy, những người chưa có kinh nghiệm như bạn tôi dễ dàng bị loại.
Nhiều cử nhân bây giờ làm shipper, xe ôm công nghệ, bán hàng online, phục vụ quán ăn hoặc làm các công việc không liên quan đến ngành học. Một số người chấp nhận làm trái ngành để tồn tại. Một số khác tiếp tục học thêm với hy vọng tăng cơ hội cạnh tranh. Và cũng có người dần mất phương hướng sau nhiều lần bị từ chối.
Có lẽ điều mà người trẻ cần lúc này là một thị trường lao động thực tế hơn, nơi sinh viên mới ra trường có cơ hội được đào tạo và thử sức thay vì bị yêu cầu kinh nghiệm ngay từ đầu. Các trường đại học cũng cần gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn nhiều hơn để sinh viên không bị sốc khi bước vào đời hay phải kiếm việc nhờ may mắn.
"Năm 1999, tôi làm trong một công ty của Nhật tại Việt Nam, cũng bị đối xử không ra gì. Sếp mới khi đó muốn thay cả nhóm nhân viên cũ (cùng làm từ khi công ty mới thành lập). Sau đó, 80% đồng nghiệp của tôi đã xin nghỉ việc. Còn tôi vẫn cố chịu đựng. Cả một năm sau đó, tôi cứ sáng đi chiều về, không được cho làm bất cứ việc gì quan trọng.
Mãi đến khi các thành viên mới ('lính cũ' mà sếp kéo về) có nguy cơ bị mất hợp đồng với một khách hàng tiềm năng lâu năm, trong khi chỉ còn 20 ngày nữa là phải giao hàng, tôi và những người cũ mới được sếp lớn gọi qua nhờ hỗ trợ giải quyết. Thực ra, sếp không trực tiếp mở lời mà nhờ các nhân viên thân tín qua nói với chúng tôi bằng giọng bề trên. Thấy vậy, tôi chỉ thản nhiên đáp: 'Nghỉ lâu rồi nên hết mối và không thể giúp gì được'.
Sau đó, sếp bên Nhật phải bay mở cuộc họp nói chuyện với chúng tôi hai lần, tôi mới đồng ý, nhưng ra nhiều điều kiện rõ ràng và tất cả phải nhất định tuân theo. Và tôi ra tay trong nửa tháng đã giúp mọi việc được giải quyết ổn thỏa, công ty xuất hàng trước thời hạn vài ngày. Từ đó trở đi, không ai dám gây khó dễ cho tôi nữa".
Đó là chia sẻ của độc giả Tientanovn về cách đối phó của bản thân sau bài viết "3 năm nay tôi bị sếp 'sa thải thầm lặng'". "Quiet firing" không diễn ra bằng một quyết định cho nghỉ việc rõ ràng, mà bằng hàng loạt tín hiệu khiến nhân viên dần mất động lực và buộc phải tự rời đi: bị cắt giảm cơ hội phát triển, không được giao việc quan trọng, liên tục bị phớt lờ hoặc đánh giá thiếu công bằng... Trong tình huống đó, phản ứng theo cảm xúc thường chỉ khiến người lao động rơi vào thế bất lợi hơn. Thẳng thắn trao đổi với cấp trên, chủ động tìm cơ hội mới, tiếp tục chứng minh năng lực hay chấp nhận rời đi để bảo vệ sức khỏe tinh thần, hay im lặng chịu đựng? Đó là câu hỏi khiến không ít người trăn trở.
>> Tôi vẫn kiên định bám nghề sau khi thất nghiệp
Chọn cách rời đi thay vì chịu đựng bất công, bạn đọc Tramnguy bình luận: "Tôi từng bị 'sa thải thầm lặng' trong thời gian gần ba năm. Năm thứ nhất, khi nhận ra vấn đề, tôi chủ động đề xuất giảm lương nhưng sếp không đồng ý. Đến kỳ review lương, sếp lại tăng lương cho tôi. Năm thứ hai, tôi chủ động xin nghỉ, sếp cũng không đồng ý vì lúc đó tôi đang theo một dự án. Nếu tôi nghỉ việc dự án đó sẽ hỏng giữa chừng, nên sếp khuyên và tôi ở lại. Năm thứ ba, tôi tiếp tục xin nghỉ, lần này giống như giọt nước tràn ly khi tôi bị quy trách nhiệm gánh thay cho cả team dự án.
Nhìn lại thời gian ba năm đó, tôi gần như bị cô lập, giao tiếp chính của tôi chủ yếu là với sếp. Tôi rời đi trong êm đẹp để cho trọn vẹn, nhưng sau đó xóa toàn bộ thông tin liên hệ của những người mà trước đây chủ động cô lập tôi. May mắn là khi rời công ty ở tuổi 42 tôi có công việc mới tốt hơn và được sếp mới tín nhiệm cao".
Đồng quan điểm, độc giả Hố Đen nói thêm:"Tôi cũng rơi vào tình cảnh tương tự chỉ vì mâu thuẫn với các lãnh đạo. Ban đầu, họ đặt điều vu khống tôi để ép nghỉ nhưng không được. Sau đó, họ phân tôi dạy ba tiết ở ba buổi khác nhau. Không chấp nhận bị đối xử bất công, tôi nghỉ việc luôn. Từ ngày đó, tôi tự hứa với bản thân luôn tìm cách tạo dựng một nguồn thu nhập riêng bất chấp mang tiếng là 'không cống hiến hết mình'. Tôi mất nhiều thời gian và phải đến gần 40 tuổi mới tìm được hướng ổn định và chính thức chấm dứt tháng ngày làm thuê cho người khác".
Tuy nhiên, không phải ai cũng dám đứng lên đấu tranh hay dứt khoát nghỉ việc để tìm cơ hội mới, bạn đọc RĐ lại chọn cách im lặng: "Quan điểm của tôi là khi đi làm bản thân sẽ luôn làm hết mình vì công ty đã trả đủ lương mua sức lao động của mình. Còn nếu tôi vẫn nhận lương dù không được giao việc thì đó là việc của công ty. Hàng ngày, tôi vẫn tốn thời gian (tự do cá nhân) để vào văn phòng làm việc, vậy thì tôi nhận lương hoàn toàn không áy náy gì. Nhiệm vụ của quản lý là giao việc cho nhân viên, nếu sếp không giao việc thì đó là lỗi họ chứ không phải tôi, nên chẳng việc gì phải áy náy".
"Tôi khá ủng hộ ý kiến của tác giả bài viết 'Người Việt gặp khó vì chơi thể thao đúng nghĩa tốn ít nhất 20 triệu một năm', và cảm nhận sự phản hồi từ những bạn không đồng tình, song bản thân lại đồng tình với hầu hết các bình luận này (hình như tôi hơi ba phải?).
Thật ra có hai khái niệm khác nhau nên giữa tác giả và các ý kiến còn chưa thống nhất quan điểm thôi: Tập thể dục thì đâu có tốn kém, chơi thể thao thì chi phí rất cao.
Thể dục là hệ thống các động tác vận động để rèn luyện thể lực và tập luyện thân thể, còn thể thao là những hoạt động nhằm nâng cao thể lực và giới hạn sức khỏe của con người.
Như vậy, bạn dùng đến thể lực, vận động thân thể theo những động tác nhất định đã được xem là thể dục. Nhưng chỉ được xem là thể thao khi thể lực hoặc giới hạn sức khỏe của bạn được nâng lên so với người khác thông qua các hình thức hoạt động có tổ chức theo những qui định cụ thể.
Nếu chúng ta cùng cách hiểu, thì sẽ thấy tác giả đúng với quan điểm 'chơi thể thao ở Việt Nam thì tốn khoảng 20 triệu đồng trở lên mỗi năm', và các bình luận luôn đúng khi 'tập thể dục ở Việt Nam có tốn đồng nào đâu, chỉ cần bạn sắp xếp thời gian và muốn tập luyện'.
Thực tế, sự khác biệt về chi phí chỉ đến khi có sự cạnh tranh giữa những người tham gia vận động (đặc trưng của thể thao), kể cả một bộ môn mà nhiều anh chị cho rằng rẻ như chạy bộ mà bước vào một cuộc thi thì sự khác biệt giữa giày, vớ, áo, quần, nịt ngực, đai lưng, băng dán hỗ trợ cơ, băng dán hỗ trợ hô hấp... sẽ làm thay đổi kết quả rất lớn, đồng nghĩa với nhiều tiền thì chơi thể thao mới đạt kết quả tốt, có tốn tiền thì mới đạt kết quả tối thiểu.
Đó là chưa kể đến chi phí cho dinh dưỡng, môi trường tập luyện bổ trợ (gym, thể hình, hồ thủy lực tĩnh và động, dụng cụ kháng lực, dụng cụ thư dãn cơ khớp...), người hỗ trợ (huấn luyện viên, mentor, người dẫn đường, đối thủ giả lập...).
Một đặc trưng khác của thể thao là tính tương tác xã hội như tính đồng đội, tính tập thể, tính chiến thuật, tinh thần thể thao... với đối thủ, đồng đội, người điều hành và người tham gia thể thao khác.
Một khi bạn tập thể dục, bạn có thể tập một mình; nhưng chơi thể thao thì ít nhất cần có từ ba người trở lên (mình, đối thủ và người tổ chức).
Do đó, thể thao khi chơi sẽ tốn tiền hơn thể dục khi bạn tự tập là lẽ thường. Và, 20 triệu đồng mỗi năm thật ra vẫn rất rẻ cho một môn thể thao trung bình và phổ thông như chạy việt dã hay đua xe đạp'".
Độc giả trinhgiangtoan bình luận như trên, cho rằng sự tranh luận trong bài viết Người Việt gặp khó vì chơi thể thao đúng nghĩa tốn ít nhất 20 triệu một năm thực chất đến từ việc nhiều người đang nhầm lẫn giữa hai khái niệm:
Tập thể dục có thể gần như không tốn tiền, nhưng chơi thể thao đúng nghĩa sẽ phát sinh chi phí lớn do tính cạnh tranh, trang bị và hỗ trợ đi kèm".
Trong bài viết trước, tác giả Hoàng Anh cho rằng thể thao tưởng chừng bình dân nhưng khi tập luyện nghiêm túc lại kéo theo hàng loạt chi phí từ trang bị đến sân bãi.
Một câu chuyện khá bi hài gần đây: Một quán lẩu gà dược liệu ở Phật Sơn (Trung Quốc) bất ngờ trở thành điểm nóng khi lượng khách tăng vọt lên khoảng 3.000 người mỗi ngày. Chủ quán ông Mo, 62 tuổi vốn là một thầy thuốc Đông y, mở quán nhỏ tại quận Thuận Đức với lượng khách ban đầu chỉ vài chục người quen.
Mọi chuyện thay đổi khi một người có ảnh hưởng trên mạng ghé ăn và chia sẻ trải nghiệm. Chỉ trong thời gian ngắn, quán tăng từ khoảng 10 bàn lên đến 200 bàn mỗi ngày, quá tải đến mức chính chủ quán rơi vào tình trạng kiệt sức.
Đáng chú ý, thay vì tăng giá để giảm áp lực, ông lại chọn cách công khai công thức nấu ăn với hy vọng khách sẽ bớt đổ về hoặc nói món ăn dở để đuổi bớt khách.
Câu chuyện đặt ra một câu hỏi thú vị, trong kinh doanh, khi nhu cầu tăng đột biến, nên tận dụng cơ hội để tối đa lợi nhuận hay giữ nguyên giá trị ban đầu và chấp nhận áp lực?