Nhiều năm qua, câu chuyện vỉa hè ở các đô thị lớn gần như lặp đi lặp lại theo một kịch bản quen thuộc đến mức người dân cũng không còn bất ngờ: ra quân rầm rộ, dẹp hàng quán, trả lại lối đi cho người đi bộ, báo chí đưa tin vài ngày với những hình ảnh thông thoáng hiếm hoi. Nhưng rồi chỉ ít tuần sau, ghế nhựa lại xuất hiện, xe máy lại tràn lên hè phố, hàng quán lại bày ra như chưa từng có cuộc chấn chỉnh nào.
Nói cho công bằng, không phải chính quyền thiếu quyết tâm. Cái khó nằm ở chỗ người ta đang cố giải quyết một nhu cầu sống chỉ bằng mệnh lệnh hành chính. Trong khi đằng sau mỗi chiếc xe đẩy, mỗi quán nước nhỏ hay mỗi gánh hàng rong không đơn thuần là chuyện lấn chiếm vài mét vuông vỉa hè, mà là câu chuyện cơm áo của rất nhiều con người ở đô thị.
Một người lao động nhập cư không thể bỏ ra vài chục triệu đồng mỗi tháng để thuê mặt bằng bán bữa sáng. Một bà cụ bán vài bó rau đầu ngõ cũng không có khả năng bước vào những khu thương mại sáng choang. Một quán trà đá ven đường tồn tại được chỉ vì có dòng người qua lại ghé vào vài phút nghỉ chân giữa cái nhịp sống quá vội của thành phố này. Với nhiều người, vỉa hè là khoảng không cuối cùng giúp họ có thể bám trụ ở thành phố.
Nói cách khác, vỉa hè nhiều năm nay đang âm thầm gánh một phần áp lực sinh kế mà nền kinh tế đô thị chưa giải quyết được. Khi việc làm chính thức chưa đủ rộng mở, chi phí mặt bằng quá đắt đỏ và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, kinh tế vỉa hè trở thành một “van an toàn” tự nhiên của xã hội. Nó lộn xộn, nhưng cũng là nơi giữ cho không ít gia đình không bị bật khỏi guồng sống thành thị.
>> Dấu hỏi khi Hà Nội dẹp vỉa hè rồi lại cho thuê
Vì vậy, việc Hà Nội bắt đầu chuyển từ tư duy cấm tuyệt đối sang cho thuê vỉa hè thực ra là một bước thay đổi cho thấy thành phố đã nhìn nhận thực tế theo hướng thực tế hơn: có những nhu cầu không thể xóa bỏ chỉ bằng những đợt ra quân ngắn hạn. Một đô thị hiện đại không thể quản lý bằng cách hôm nay dẹp, mai tái lấn chiếm, rồi vài tháng sau lại tiếp tục một chiến dịch mới.
Nhưng nhìn nhận thực tế không đồng nghĩa với việc chấp nhận mọi sự tùy tiện tồn tại mãi mãi. Người dân có thể cảm thông với mưu sinh khó khăn, nhưng cũng không thể mãi chấp nhận cảnh người già, trẻ nhỏ phải đi xuống lòng đường vì vỉa hè bị chiếm sạch.
Điều Hà Nội cần lúc này là một triết lý quản trị rõ ràng: đâu là giới hạn của kinh tế vỉa hè, đâu là quyền của người đi bộ, và đâu là trách nhiệm của một đô thị không thể tiếp tục sống bằng sự linh động thiếu nguyên tắc như nhiều năm qua?
Ở bất kỳ đô thị hiện đại nào, việc dùng không gian công cộng cho mục đích kinh doanh cũng phải đi kèm quy hoạch, giới hạn và trách nhiệm tài chính rõ ràng. Không ai có thể chiếm dụng tài sản chung của xã hội mà không có luật chơi. Nhưng điều khiến người ta băn khoăn không nằm ở chuyện đóng bao nhiêu tiền để thuê vỉa hè? Vấn đề là sau khi thu phí, vỉa hè có thực sự ngăn nắp hơn không, hay chỉ chuyển từ “lấn chiếm tự phát” thành “lấn chiếm hợp thức”? Nói cách khác, liệu thành phố đang tạo lại trật tự đô thị, hay chỉ đang cấp một tấm vé hợp pháp cho sự lộn xộn vốn đã tồn tại quá lâu?
Mức phí 45.000 đồng một m2 mỗi tháng cho thuê vỉa hè ở khu vực trung tâm Hà Nội có vẻ không quá cao. Thậm chí, nhiều người làm kinh doanh sẽ thấy nó rẻ đến bất ngờ nếu đặt cạnh giá trị thương mại thật sự của những tuyến phố đắt đỏ quanh hồ Gươm hay các quận lõi nội đô. Vì vậy, điều cần bàn là thành phố đang nhìn vỉa hè dưới góc độ nào: một không gian công cộng cần quản lý chặt chẽ để phục vụ lợi ích chung, hay một nguồn tài nguyên kinh tế có thể đem ra khai thác?
Nếu mục tiêu là quản lý đô thị, thì việc cho thuê phải đi kèm những nguyên tắc rất rõ ràng và nghiêm ngặt. Phần diện tích nào được phép sử dụng? Khung giờ nào được hoạt động? Người đi bộ phải còn tối thiểu bao nhiêu mét lối đi? Vi phạm xử lý ra sao? Có thu hồi quyền sử dụng nếu tái lấn chiếm hay không?
Nhưng nếu vỉa hè được nhìn như một nguồn lợi kinh tế, thì câu chuyện lại khác. Khi ấy, điều xã hội quan tâm sẽ là tính minh bạch. Ai được thuê? Dựa trên tiêu chí nào? Có đấu giá công khai hay không? Có nguy cơ tài sản công bị biến thành lợi thế riêng cho một nhóm người đang sở hữu vị trí mặt phố đẹp nhất hay không?
Một chính sách tốt, suy cho cùng, không phải là chính sách làm vừa ý mọi phía, mà là chính sách tạo ra được cảm giác hợp lý và công bằng cho phần lớn xã hội. Với câu chuyện vỉa hè cũng vậy. Hà Nội cần ngăn nắp hơn, đó là điều không ai phủ nhận. Một đô thị không thể mãi để cảnh người đi bộ phải bước xuống lòng đường giữa dòng xe cộ chỉ vì vỉa hè bị chiếm kín. Nhưng ở chiều ngược lại, thành phố cũng cần tạo giới hạn để người lao động nghèo vẫn còn cơ hội mưu sinh.
"Thu nhập 40 triệu một tháng thì ít nhất cũng phải tiết kiệm được 20 triệu, mỗi năm sẽ để dành được 240 triệu. Cứ như vậy, sau 5 năm, bạn sẽ để được ít nhất 1,2 tỷ, chưa tính đến lãi suất kép do gửi ngân hàng, cộng với thưởng tháng 13, thưởng Tết hàng năm. Với số tiền đó, bạn chỉ cần vay ngân hàng thêm 50% nữa là mua được một căn hộ một phòng ngủ, giá khoảng 2,5 tỷ ở thành phố.
Căn hộ một ngủ bây giờ cũng 30-40 m2, nên vợ chồng trẻ ở vẫn ổn. Chưa kể, nếu lập gia đình, bạn sẽ có thêm một nguồn thu nhập nữa, trong khi vay ngân hàng 1,25 tỷ trong 10 năm thì trả cả gốc lẫn lãi chỉ tầm 18-19 triệu đồng. Đó là còn chưa tính tới việc bạn còn có thể được tăng lương, tăng thu nhập trong quá trình trả nợ mua nhà. Đi từng bước như vậy, việc mua nhà là hoàn toàn trong tầm tay. Chứ 30 tuổi mà cứ đòi đủ tiền mua nhà 2-3 phòng ngủ trong quận trung tâm thì đến khi về hưu cũng chưa chắc có nhà".
Đó là quan điểm của độc giả Go Vap sau bài viết "Rất vô lý khi thu nhập 40 triệu một tháng vẫn không mua được nhà". Trong bài viết trước đó, tác giả Lộc PV chia sẻ những băn khoăn, trăn trở của bản thân khi thu nhập khoảng 40 triệu đồng mỗi tháng (tức gấp 5 lần thu nhập trung bình người Việt) ở tuổi 30 nhưng vẫn không dám nghĩ tới chuyện mua nhà ở thành phố. Theo chuyên gia, thu nhập của lao động trẻ hiện phổ biến khoảng 15-30 triệu đồng mỗi tháng, trong khi giá một căn nhà tại TP HCM đã lên tới 4-5 tỷ đồng (từ 80-100 triệu đồng mỗi m2), thậm chí 8-9 tỷ đồng ở nhiều khu vực. Khoảng cách giữa thu nhập và giá nhà là quá lớn làm suy giảm động lực phát triển của nhiều người.
Chỉ ra sai lầm của nhiều người trẻ khiến giấc mơ "an cư" trở nên xa vời, bạn đọc Su bình luận: "Trước mắt, hãy mua căn hộ một phòng ngủ, đủ phục vụ gia đình trẻ trong 6-8 năm. Đợi lúc đó bán đi, ít nhiều cũng có lãi, gộp thêm khoản tiết kiệm trong thời gian qua thì bạn hoàn toàn có thể đổi lên căn to hơn. Sai lầm lớn nhất của những người mua nhà lần đầu là muốn ở nhà to, đẹp, hoành tráng ngay rồi than giá nhà cao quá tầm với. Nếu nguồn lực là vô hạn thì không nói, nhưng với nguồn lực hữu hạn thì bạn bắt buộc phải tính đường dài, đi từ nhỏ đến lớn, từ xa đến gần".
Đồng quan điểm, độc giả Hoàng Minh lấy dẫn chứng từ chính trường hợp của bản thân: "Hiện tại, ở nhiều tỉnh (ví dụ Vàng Danh, Uông Bí, Quảng Ninh) giá đất chỉ từ 5 triệu một m2, có sổ đỏ. Mua 100 m2 đất vùng xa cũng chỉ có 500-800 triệu đồng. Nếu mua 60 m2 cũng chỉ tốn 300-500 triệu. Vậy bạn làm một năm lương (chỉ tính thu nhập 40 triệu một tháng) cũng mua được 60 m2 đất. Sau 10 năm đất đai vùng xa đô thị hóa dần thì bạn sẽ có tài sản tương đối (thường sẽ tăng 2-4 lần) để tính chuyện chuyển vào trung tâm thành phố.
Bản thân tôi thời điểm cuối năm 2018, thay vì cố mua nhà trung tâm, cũng mua đất ở Cần Kiệm, Thạch Thất, Hà Nội, diện tích 1.072 m2, giá khi đó chỉ 2,05 triệu một m2. Vậy mà hiện nay, sau hơn 7 năm, giá đất khu vực này đã lên tới 20-30 triệu một m2, tức tăng 10 lần. Giờ nếu bán mảnh đất kia đi, tôi sẽ thu về trên 22 tỷ, dư sức mua nhà trong trung tâm thành phố.
Nói vậy để thấy, không phải người trẻ không mua nổi nhà, đất với thu nhập 30-40 triệu một tháng. Vấn đề là nhiều người lại muốn mua nhà ở trung tâm thành phố lớn nên mới thấy bất lực. Ngay cả các nước như Singapore, Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc... nếu người dân chỉ đi làm thuê cũng sẽ không thể đủ tiền mua nhà ở trung tâm.
Thế nên, khó mình thì khó người. Tương lai chưa biết giá cả nhà, đất sẽ ra sao, nhưng phương án khả dĩ nhất để người trẻ có thể mua nhà chính là chọn khu vực ở xa liên tục trong nhiều năm. Sau khoảng 10 năm, việc đầu tư của bạn sẽ có thành quả. Khi ấy, chuyện mua nhà trung tâm thành phố lớn sẽ dễ dàng hơn nhiều".
Mỗi mùa bế giảng đi qua, tôi lại nghe người ta nói đi nói lại một câu quen thuộc: "Giáo viên sướng thật, nghỉ hè hai tháng mà lương vẫn đều". Mới đây, một quy định mới về việc giáo viên được nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp, vô tình lại thổi bùng lên những tranh cãi ấy.
Nghe qua, nhiều người dễ hình dung đó là một khoảng thời gian thảnh thơi, đủ dài để giáo viên có thể thảnh thơi rời xa công việc. Nhưng thực tế của nghề này lại không vận hành theo cách mà những con số có thể diễn đạt trọn vẹn. Bởi nếu chỉ nhìn vào thời gian "được nghỉ", ta sẽ vô tình bỏ qua phần thời gian "vẫn đang làm" của nhà giáo, chỉ là họ không còn đứng trên bục giảng.
Giáo viên vẫn có thể được gọi trở lại bất cứ lúc nào cho những nhiệm vụ không thể trì hoãn: coi thi, chấm thi, tập huấn chuyên môn, hỗ trợ tuyển sinh... Những công việc ấy không ồn ào, nhưng lại đòi hỏi sự tập trung và trách nhiệm không kém, thậm chí có lúc còn căng thẳng hơn cả giờ lên lớp.
Vì thế, nói giáo viên "nghỉ hè" không có nghĩa là họ được "nghỉ hoàn toàn". Đó giống như một quãng chuyển nhịp từ dạy học trực tiếp sang những công việc phía sau "cánh gà", nơi ít được nhắc đến nhưng lại giữ vai trò không thể thay thế. Từng đi qua nghề này, nên tôi hiểu: có những áp lực không nằm ở số tiết dạy, mà nằm ở trách nhiệm phải làm cho đúng ngay cả khi lớp học đã vắng tiếng học trò.
Giáo viên không làm việc theo kiểu đến cơ quan, chấm công rồi ra về. Công việc của họ không kết thúc khi hết giờ học, và cũng không bắt đầu khi tiếng trống vang lên. Nó trải dài theo năm học, dồn lại ở những giai đoạn cao điểm như kiểm tra, thi cử, tổng kết - nơi mà cường độ làm việc không chỉ tăng lên, mà đôi khi còn "chiếm trọn" cả thời gian riêng tư. Có những buổi tối sửa bài đến khuya, những ngày cuối kỳ gần như không có khái niệm nghỉ ngơi. Nhưng những phần việc ấy lại không hiện lên trên bảng chấm công.
>> 'Chấm dứt dạy thêm khi lương giáo viên tăng'
Có một sự thật là giáo viên hiếm khi "nghỉ hè" theo đúng nghĩa của hai chữ ấy. Mùa hè đến, lớp học khép lại, nhưng công việc thì không. Người thì tranh thủ học thêm để theo kịp đổi mới chương trình, người lặng lẽ chuẩn bị giáo án cho năm học mới, chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ với mong muốn lần dạy sau sẽ tốt hơn.
Vì thế, tôi cho rằng, nếu chia đều công sức trong suốt một năm, việc giáo viên được "nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp" không phải là ưu đãi đặc biệt, mà là phần được trả đủ cho một chu kỳ lao động đã bị nén chặt. Lương trong mùa hè, suy cho cùng, không phải là tiền cho sự nhàn rỗi, mà là cách hệ thống trả công cho những tháng ngày làm việc không có ranh giới rõ ràng giữa giờ làm và giờ nghỉ.
Hiểu như vậy để thấy, câu chuyện không nằm ở việc giáo viên có "được ưu ái" hay không, mà là chúng ta có nhìn đúng giá trị lao động của họ hay chưa? Và khi nhìn đúng, có lẽ sẽ bớt đi những so sánh vội vàng để thay vào đó là một cách nhìn công bằng hơn và cũng nhân văn hơn với một nghề vốn đã quen với việc cho đi nhiều hơn nhận lại.
Điều đáng quan tâm hơn là những thay đổi ấy có đủ để giáo viên bớt phải lo toan, để họ có thể tạm gác công việc mà nghỉ ngơi đúng nghĩa, không còn mang theo nỗi bận tâm về cơm áo hay áp lực chuyên môn. Bởi suy cho cùng, một nền giáo dục muốn bền vững thì không chỉ cần những chính sách đúng, mà còn cần những con người đủ sức đi đường dài. Và để đi được đường dài, cần có lúc dừng lại để giữ cho người thầy còn đủ sức đi tiếp trên con đường đã chọn.
Mùa hè này, vợ chồng ông bạn tôi hẹn rủ nhau sẽ chạy xe máy lên thăm farm cà phê của ông ấy trên vùng cao nguyên. Nếu như thời điểm vài năm trước, danh xưng đầy đủ của nó phải là "farmstay".
Trước đó, từ một rẫy cà phê, ông bạn tôi dự tính đầu tư một tỷ đồng để làm farmstay, theo trào lưu đang nổi lúc đó. Những dự tính đầy vẻ mộng mơ: Khu này trồng hoa, khu kia làm một cái sàn, trên đó kê cái bàn và vài cái ghế để thưởng trà sáng chiều, khu kia thì đắp một cái lò để buổi tối nướng thịt.
À, trong lúc ông bạn tôi đang tham khảo nên ngồi bệt uống trà hay dùng ghế thì chi phí đã đội lên thêm vài trăm triệu đồng nữa.
Đã vào thế phóng lao phải theo lao, cứ vung tiền ra đầu tư trang trí, thất thoát trong quá trình xây dựng, chi phí vận hành... hai vợ chồng làm việc ở thành phố thì tất nhiên phải thuê thêm vài người săn sóc, quản lý, tiếp khách, dịch vụ quảng cáo... thế rồi ông bạn tôi trót quăng vào đó hơn 3,5 tỷ đồng.
Mở cửa đón khách được vỏn vẹn hai mùa mưa thì sứ mệnh "một nơi chốn xả hơi, chữa lành" coi như kết thúc. Phải đến 30% lượng khách năm đầu là mối quan hệ bạn bè, người quen lên chơi ủng hộ.
Một cặp vợ chồng người quen chung nói với tôi: "Ước gì cũng có đất, có tiền làm như anh chị ấy". Tôi bảo ngay: "Có tiền thì cứ làm khu nhà vườn mình ở cho sướng, bày ra kinh doanh thì mất luôn tiền mà khu farm cũng chẳng sửa chữa để ở được".
Và sự thật là sau khi đi vào hoạt động, hàng tháng phải chi một đóng tiền trả lương nhân viên, bảo dưỡng... làm vợ chồng ông bạn tôi hụt hơi. Mấy tháng cuối còn có chương trình đăng ký ở một đêm khuyến mãi xem tarot chữa lành, khai vấn... cho lời khuyên các kiểu nhưng cũng không ăn thua.
Các mô hình kinh doanh homestay, farmstay chết vì sao? Theo tôi nếu bỏ qua hình thức, thì sự thất bại của mô hình do việc xây theo ý thích và mộng mơ của chủ, chứ không phải khách.
Farmstay có nguồn gốc từ Italy, xuất hiện từ thế kỷ trước, mô hình này kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch. Nông dân mở cửa một phần trang trại của họ, vừa để sản xuất nông nghiệp vừa cung cấp chỗ ở và trải nghiệm cho khách du lịch.
Hãy nhớ các từ khóa "nông dân", "trang trại", "vừa sản xuất nông nghiệp vừa cung cấp chỗ ở và trải nghiệm cho khách du lịch", ta có thể biết được lý do thoái trào và vì sao một cặp vợ chồng ở thành phố, rót tiền tỷ đầu tư farmstay thất bại.
Kế đến là mục đích "kinh doanh chữa lành". Thật ra, khách du lịch Việt nói chung và giới trẻ Việt Nam nói riêng, khi đi du lịch phần đông họ chẳng thiết tha gì chữa lành đâu.
Mỗi nơi họ ghé một tí, cưỡi ngựa xem hoa, chụp cả trăm pô hình rồi tìm một quán cà phê nào đó ngồi lựa ảnh, đăng dần lên mạng xã hội mà thôi. Trong khi số thật sự cần chữa lành rất ít, thì mô hình sinh ra phục vụ cho ai?
Tôi thấy có quá nhiều lý do thất bại nếu người muốn kinh doanh loại hình du lịch này không tính toán kỹ. Thà đầu tư xây một khách sạn, không có khách tự túc thì còn có khách theo tour (khách đi tour chả công ty du lịch nào liên hệ farm).
Và bây giờ, cái farm của ông bạn tôi lại quay về với cái rẫy cà phê, thật ngao ngán vì số tiền ném qua cửa sổ coi như mất.