Tôi năm nay 36 tuổi, làm việc văn phòng ở Hà Nội. Vợ chồng tôi tích góp gần 10 năm qua, cộng thêm chút tiền hai bên gia đình hỗ trợ, hiện có khoảng 3 tỷ đồng trong tay. Với nhiều người, đó là một khoản không nhỏ, nhưng với chúng tôi số tiền ấy lại rơi vào trạng thái rất lưng chừng: không nghèo, nhưng cũng chẳng đủ để mua một căn nhà ưng ý.
Bạn bè tôi ai cũng nói: “Cố thêm tí nữa, vay thêm mà mua nhà, không mua bây giờ vài năm nữa giá lại tăng”. Tôi nghe riết thành quen. Dường như ở thành phố này, thuê nhà bị xem như một trạng thái tạm bợ, còn sở hữu nhà mới là dấu mốc của sự ổn định và trưởng thành.
Tôi cũng từng nghĩ như vậy. Suốt một năm qua, cuối tuần nào vợ chồng tôi cũng đi xem nhà. Từ chung cư trong nội đô đến các khu xa trung tâm hơn. Căn vừa ý thì giá quá cao. Căn vừa tiền thì hoặc quá xa, hoặc chất lượng sống khiến mình chùn bước. Có lần hai vợ chồng tôi bước ra khỏi một căn hộ khoảng 70 m2, giá gần 6 tỷ đồng, vợ tôi thở dài: “Nhà thì đẹp thật, nhưng chắc phải bán cả tuổi trẻ để trả nợ”.
Tôi tính, nếu mua một căn nhà khoảng 5-6 tỷ, sau khi bỏ toàn bộ tiền tiết kiệm, chúng tôi vẫn phải vay thêm vài tỷ nữa. Khoản trả góp hàng tháng có thể ngốn quá nửa thu nhập gia đình trong suốt 15-20 năm. Có hôm, tôi nói đùa với vợ: “Nếu vay mua nhà lúc này, chắc từ nay đến lúc con vào đại học, nhà mình sẽ sống bằng niềm tin”.
>> Tôi mua được đất ven Sài Gòn bắt đầu từ mỗi tháng tiết kiệm 270.000 đồng
Điều lạ là càng ngày, tôi càng thấy nhiều người thu nhập bình thường nhưng vẫn gánh khoản nợ kéo dài vài chục năm chỉ để đổi lấy một căn nhà. Tôi không chê trách điều đó. Ai cũng có lựa chọn riêng. Nhưng tôi tự hỏi: liệu căn nhà có đang phục vụ cuộc sống của họ, hay hay họ đang đem tương lai ra để phục vụ khoản vay mua nhà?
Thực ra, cuộc sống ở thuê hiện tại của gia đình tôi không tệ như nhiều người nghĩ. Chúng tôi đang thuê một căn hộ vừa phải, gần trường con, gần chỗ làm, chi phí nằm trong khả năng chi trả nên vẫn còn tiền để tiết kiệm, đi du lịch ngắn ngày, đưa bố mẹ đi khám bệnh, hay đơn giản là thỉnh thoảng cho con đi ăn ngoài mà không phải cân đo quá nhiều.
Ít nhất, tôi không phải thức dậy mỗi sáng với áp lực trả nợ ngân hàng kéo dài hàng chục năm; không phải lo lãi suất tăng; không phải tự biến bản thân thành cỗ máy kiếm tiền chỉ để giữ một căn nhà đứng tên mình, rồi khiến cuộc sống gia đình bị bóp nghẹt bởi nợ nần.
Tin Gốc: Vnexpress

Ở đó, vỉa hè không chỉ là phần đất thừa bên cạnh con đường. Người đi bộ được che nắng bởi mái hiên liên tục. Các cửa hàng tầng trệt mở ra ngay sát tuyến phố.
Khách bộ hành có thể dừng lại xem sách, uống cà phê hay trú mưa mà không phải bước xuống lòng đường. Điều đáng nói là nhiều mái hiên ấy không hề lấn ra đất công một cách tự phát. Chúng nằm trong chính thiết kế của công trình, tạo nên một dạng vỉa hè tự thân không gian thuộc về căn nhà nhưng phục vụ cả cộng đồng.
Trong khi đó, rất nhiều khu đô thị mới hiện nay lại đang đi theo hướng ngược lại. Nhà dân cố tận dụng từng mét vuông xây sát mép đất, sau đó tiếp tục dựng mái che, biển hiệu, chậu cây, bậc tam cấp để chiếm thêm vỉa hè. Người đi bộ cuối cùng chỉ còn một lối nhỏ len lỏi hoặc phải xuống lòng đường.
Khu dân cư nơi tôi sống từng có vỉa hè rộng tới 4 mét, cứ khoảng 10 mét lại có một cây xanh. Nhiều hộ dân còn chủ động xây lùi vào thêm 2 mét để tạo khoảng đệm phía trước nhà. Có thời điểm, cả tuyến phố sở hữu vỉa hè rộng tới 6 mét một điều rất hiếm ở đô thị Việt Nam.
Nhưng rồi phần "chuẩn" vỉa hè bị giảm còn 2 mét. Một vài căn đầu tiên bắt đầu xây lấn ra. Sau đó cả dãy phố cùng làm theo vì ai cũng sợ mình bị thiệt. Chỉ sau vài năm, vỉa hè rộng rãi biến thành lối đi chật hẹp bị chiếm dụng bởi bảng hiệu, xe máy và vật dụng cá nhân.
Đây là lý do tôi cho rằng Việt Nam nên xây dựng một bộ tiêu chuẩn mới cho nhà phố mặt tiền, đặc biệt ở các tuyến thương mại. Theo đó, các căn nhà có thể được xây tối đa diện tích ở các tầng trên, nhưng tầng trệt bắt buộc phải lùi vào khoảng 4 mét để tạo vỉa hè tự thân cho chính căn nhà đó.
Khoảng không này có thể dùng làm hành lang đi bộ có mái che, nơi để xe cho khách, không gian cây xanh, chỗ nghỉ chân, hoặc khu kinh doanh mở. Đổi lại, chủ nhà được hưởng lợi trực tiếp vì mặt bằng kinh doanh đẹp hơn, khách tiếp cận thuận tiện hơn và giá trị thương mại của căn nhà tăng lên.
Thực tế, các cửa hàng tiện lợi hay siêu thị điện máy đã tự làm điều này từ lâu. Họ hiểu rằng khoảng trống trước cửa hàng không phải "đất bỏ phí", mà là thứ tạo nên doanh thu. Một cửa hàng có chỗ dừng xe, có khoảng lùi thông thoáng luôn hấp dẫn khách hơn một mặt tiền bị bít kín.
Nếu áp dụng đồng bộ, các tuyến phố Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển theo mô hình "phố Tràng Tiền hiện đại": tầng trệt lùi vào, mái hiên liên tục, cây xanh đồng bộ, người đi bộ được che nắng mưa, hoạt động kinh doanh diễn ra tự nhiên mà không cần lấn chiếm. Thậm chí, cơ quan chức năng có thể tiến thêm một bước bằng cách chuẩn hóa mái hiên năng lượng mặt trời cho toàn tuyến phố.
Thay vì để mỗi nhà tự dựng mái tôn nhấp nhô, thành phố có thể thiết kế hệ mái đồng bộ vừa che nắng cho người đi bộ vừa phát điện lên lưới. Khi đó, vỉa hè không còn là nơi thường xuyên diễn ra cuộc giằng co giữa người dân và lực lượng trật tự đô thị. Nó trở thành một phần giá trị của chính căn nhà và của cả thành phố.
Tin Gốc: Vnexpress

"Tôi nghĩ 5 là mốc điểm trung bình, điểm số khảo sát môn Toán của học sinh Hà Nội là 4,75 phản ánh trình độ chung của học sinh, là thấp hơn trung bình một chút.
Điều này có thể do chương trình của chúng ta quá khó hay không? Nội dung nào quá khó thì nên đẩy lên mức đại học, chương trình lúc đó sẽ đúng với các em thật sự có nhu cầu học cao hơn".
Độc giả Ngọc Vy bình luận như trên, sau thông tin Điểm Toán của học sinh Hà Nội 'kẹt ở mốc 3-5'. Điểm trung bình trong bài khảo sát môn Toán của gần 120.000 học sinh lớp 12 ở Hà Nội là 4,75, hơn 40% "kẹt ở mốc 3-5", Sở Giáo dục coi đây là điểm nghẽn lớn nhất, yêu cầu phụ đạo bắt buộc.
Trưởng phòng Giáo dục trung học, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, công bố kết quả khảo sát học sinh lớp 12 của thành phố vào tháng trước.
Ông cho rằng "điểm nghẽn" lớn nhất nằm ở môn Toán, khi điểm trung bình của học sinh là 4,75, giảm 0,35 so với kỳ khảo sát năm ngoái. Nếu tính riêng khối trường công lập, số điểm giảm gần 0,5.
Phân tích kỹ hơn, ông Nhâm cho biết phổ điểm Toán lệch trái, "kẹt ở mốc 3-5 điểm", với hơn 40% đạt điểm trong khoảng này. Không học sinh nào được 10 điểm.
Trong khi đó, ở Hà Nội, số liệu từ cuối năm ngoái cho biết thủ đô có khoảng 15.000 trung tâm dạy thêm, các độc giả thắc mắc vì sao học sinh học nhiều nhưng điểm thấp:
Độc giả nickname King of Chess: "Bây giờ các cháu học quá nhiều, học tối ngày, học đến mức ăn không ngon, ngủ cũng ám ảnh thành tích, vẫn không có thời gian học kỹ năng sống và học làm việc nhà. Sáng dậy thì lờ đờ, rồi kết quả khảo sát thì như trên?".
Độc giả nickname Pvsryd thắc mắc: "Khảo sát liệu có đúng và khách quan không? Điểm số trung bình trong học bạ toàn khá giỏi, khó mà kiểm được em nào học lực trung bình, yếu mà tại sao khảo sát lại thấp vậy?".
Độc giả nickname manhhung813 lo ngại: "Chương trình giáo dục phải phù hợp, nếu học sinh điểm nơi thấp nơi cao thì xem xét lại khu vực điểm thấp để phụ đạo, còn đây thấp đều chứng tỏ chương trình quá nặng, học cả ngày như vậy mà còn yêu cầu phụ đạo.
Phụ đạo chỉ dành cho thiểu số học sinh quá yếu ở một số nơi vùng sâu xa chứ ngay thủ đô mà yêu cầu rà soát để phụ đạo thì không thể hiểu nổi".
Theo Trưởng phòng Giáo dục trung học, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội một trong những lý do chính khiến điểm Toán thấp là học sinh chưa thích ứng tốt với dạng trắc nghiệm đúng/sai và trả lời ngắn.
Một số độc giả đặt vấn đề về việc thi Toán bằng trắc nghiệm. Độc giả nickname tdlong91nd nói:
"Môn Toán là môn thiên hướng phân tích logic, nên tốt nhất giữ nguyên hình thức tự luận hơn là trắc nghiệm. Theo suy nghĩ của tôi, nếu tập trung luyện thi theo hình thức thi trắc nghiệm thì các thầy cô sẽ hướng tới luyện dập khuôn theo bộ đề, và nó mang hơi hướng học vẹt hơn là vận dụng khả năng phân tích.
Trước kia, khi tự mình vắt óc suy nghĩ và giải ra được một bài đại số hoặc hình học, nó mang lại cảm giác hưng phấn không khác gì được tặng một món quà bất ngờ như ý.
Giờ với hình thức kiểm tra, thi trắc nghiệm, thì chắc chắn các dạng bài thử thách một chút sẽ bị giảm số lượng đi đáng kể. Thử hỏi, khi gặp một bài khó, khi làm tự luận thì học sinh sẽ phải cố gắng giải ra bằng được, còn khi làm trắc nghiệm, học sinh có khả năng dễ từ bỏ hơn là kiên nhẫn, và chọn bừa một trong bốn đáp án, phó mặc cho hên xui".
Đồng quan điểm, độc giả Gàn: "Với Toán, một bộ môn đòi hỏi tư duy logic, phát triển phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực diễn giải và lập luận mà nếu quá lạm dụng theo kiểu trắc nghiệm (tức là kích thích phát triển khả năng thuộc công thức, nhớ dạng bài, tính nhẩm nhanh, kèm theo một số mẹo mực...) thì theo tôi là làm suy giảm kỹ năng tư duy toán học đúng nghĩa".
Sắp tới, Sở sẽ gặp riêng những trường có kết quả thấp để tìm giải pháp nâng cao chất lượng học sinh trước kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Độc giả nickname anhgunner93hn nói: "Nếu các em có kế hoạch ôn tập hợp lý có lẽ vẫn tăng được điểm, không nên quá căng thẳng với kết quả thi thử lúc này. Điều cần làm là từ bài thi phân tích ra điểm chưa đạt được và khắc phục. Đây là lúc cần bản lĩnh và sự chính xác trong ôn tập
Còn khoảng hơn hai tháng nữa, hy vọng các em cố gắng củng cố kiến thức. Chỗ nào nắm kỹ kiến thức rồi thì ôn tập ở mức khá để chắc điểm trong tay. Chỗ nào chưa hiểu hoặc còn lờ mờ thì vừa ôn tâp một mình vừa phải trao đổi với thầy giáo hoặc bạn bè, theo nguyên tắc nếu đang ở mức 4 điểm thì cố gắng ôn lên 5,5 hay 6 điểm còn nếu đang được 5,5 hay 6 thì cố gắng lên 7 điểm.
Có lẽ đây là lần đầu tiên các em chuyển từ làm đề ở nhà sang làm đề ở phòng thi, nên kết quả có kém hơn cũng là điều dễ hiểu. Điều quan trọng là biết mình đang ở đâu để có kế hoạch ôn tập hợp lý".
Năm ngoái, hơn 120.000 học sinh Hà Nội dự thi tốt nghiệp THPT, chiếm khoảng 1/10 cả nước. Điểm Toán trung bình của học sinh thủ đô là 5,29, đứng thứ 2/34 tỉnh, thành.
Ở cấp độ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, học sinh thủ đô luôn trong nhóm đạt thành tích tốt, gồm các môn Toán, khoa học tự nhiên/
Hữu Nghị tổng hợp
Nguồn: https://vnexpress.net/vi-sao-hoc-sinh-ha-noi-hoc-nhieu-nhung-diem-toan-ket-o-moc-3-5-5058143.html

Tôi là một giáo viên Hóa học. Đứng trên giảng đường đại học, tôi không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến những sinh viên từng nổi bật về Hóa ở cấp ba (kể cả với một số em đi thi Học sinh giỏi Hóa) bỗng dưng xa lạ với chính môn học mà các em từng yêu thích một thời. Thật khó tin khi các nguyên lý cơ bản của Hóa cơ sở và Hóa nhiệt động - nền tảng kiến thức vững chắc - lại có thể "bốc hơi" một cách nhanh chóng như chưa từng tồn tại.
Ở Việt Nam, có một bộ môn vừa đặc biệt, vừa "khó nhằn", vừa "độc nhất vô nhị" mà nhiều nước hiếm thấy, các thế hệ học sinh thường gọi vui là "Toán Văn Hóa học". Đây là bộ môn mà học sinh không chỉ học Hóa, mà còn phải "đánh vật" giải những bài tập tính toán "khủng", thậm chí là "siêu khủng" như: biến đổi liên quan đến hệ phương trình bậc 4, bậc 5, hệ nhiều ẩn, có những bài chiếm tới 1/3 trang giấy A4. Các bài tập này dài, phức tạp và yêu cầu logic cao đến mức học sinh dễ bị cuốn vào việc tính toán mà quên đi kiến thức cơ bản.
Điều bất ngờ là, ngay cả những học sinh từng nổi bật về Hóa học ở phổ thông, khi bước lên giảng đường đại học, lại bỡ ngỡ với những nguyên lý tưởng chừng đơn giản của Hóa học cơ sở và Hóa học nhiệt động. Nhiều em có thể giải các bài toán dài, nhưng lại quên đi những nguyên tắc nền tảng mà môn học dựa trên đó. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu áp lực về tính toán có đang vô tình làm phai nhạt nền tảng kiến thức cơ bản của học sinh?
Hệ lụy của việc "Toán hóa" quá mức môn Hóa học không còn là điều dự báo mà đã trở thành hiện thực. Trong vai trò giảng dạy Hóa học cơ sở ở bậc đại học, tôi không khỏi bàng hoàng khi nhận thấy sinh viên thường sai nhiều nhất ở những kiến thức tưởng chừng hết sức cơ bản: vẽ công thức cấu tạo, dự đoán hình học phân tử hay ước lượng góc liên kết. Thậm chí, nhiều em còn sai "hết sức vô lý" như vẽ oxygen hóa trị I, carbon hóa trị V, silicon hóa trị III, hay những lỗi vi phạm quy tắc bát tử (mặc dù không thuộc trường hợp ngoại lệ)...
Ngay cả trong học phần Hóa nhiệt động, nơi tính toán chiếm ưu thế, sinh viên có thể dùng máy tính để ra đáp số pH trong vài giây, nhưng khi được tôi yêu cầu chứng minh công thức đơn giản như: pH = 1/2 (pKₐ – logCₐ) (công thức tính pH của acid yếu), thì các em lại hoàn toàn bế tắc. Khi "chiếc gậy" là các dạng toán làm sẵn bị tước bỏ, tư duy Hóa học của các em lộ rõ những lỗ hổng thênh thang.
>> 'Đáng lo khi học sinh né Lý, Hóa, Sinh thi tốt nghiệp THPT'
Một ví dụ điển hình của một bài tập dạng "Toán Văn Hóa học" là: "Hỗn hợp P gồm ba ester mạch hở trong đó có hai ester đơn chức X, Y (MX < MY < 110, nX > nY) và một ester đa chức Z. Cho 5,07 gam P vào 32,00 gam dung dịch NaOH 10% rồi cô cạn dung dịch sau khi các phản ứng kết thúc thấy thu được 5,96 gam phần rắn Q và phần hơi T (gồm hơi nước và hỗn hợp hai alcohol no có cùng số nguyên tử carbon trong phân tử). Thêm bột CaO và NaOH dư vào Q rồi nung hỗn hợp trong bình chân không thấy thu được hỗn hợp hai hydrocarbon, hỗn hợp này làm mất màu vừa đủ 0,02 mol Br₂ trong dung dịch. Đốt cháy hết phần hơi T thu được 2,016 lít khí CO₂ và 31,23 gam H₂O. Các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tính phần trăm khối lượng của Z trong P?".
Để giải được bài tập trên, học sinh phải:
- Theo dõi nhiều dữ kiện phức tạp và tính toán nối tiếp;
- Áp dụng phản ứng xà phòng hóa, phản ứng với Br₂, định luật bảo toàn khối lượng;
- Tính toán số mol, khối lượng, liên hệ các phản ứng để tìm thành phần Z.
Mặc dù bài toán dài và nhiều bước, bản chất hóa học của các phản ứng này không phức tạp. Tuy nhiên, chính số liệu rườm rà và bước tính toán nối tiếp khiến học sinh dễ quên đi các kiến thức nền tảng: cơ chế phản ứng, bản chất phân cực của liên kết C=O trong ester, ảnh hưởng của cấu trúc phân tử đến nhiệt độ sôi của alcohol.
Mặt khác, nếu giáo viên yêu cầu các em: biểu diễn sự phân cực của liên kết C=O trong nhóm chức ester; hoặc hỏi "tại sao hai alcohol no cùng số nguyên tử carbon lại có nhiệt độ sôi khác nhau?", thì nhiều em sẽ lúng túng, dù vẫn giải được bài toán tính phần trăm khối lượng Z một cách cơ học. Đây là minh chứng rõ ràng rằng việc tập trung quá nhiều vào kỹ năng tính toán dài dòng khiến tư duy hóa học cơ bản bị bỏ quên, dẫn đến nghịch lý: học sinh có thể giải được bài toán trong phút chốc, nhưng lại không hiểu bản chất của chính các chất mình đang thao tác.
Sở dĩ phương pháp dạy và học này trở nên "độc hại" là bởi nó vi phạm nghiêm trọng thuyết Tải nhận thức (thuyết "tam tải", Cognitive Load Theory):
Thứ nhất, tải nội tại (phát sinh từ bản chất phức tạp của môn học) bị đẩy quá cao: độ khó của Hóa học lẽ ra nằm ở cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, nhưng nay lại bị đánh tráo bằng sự lắt léo của toán học (phương trình bậc cao, hệ nhiều ẩn). Não bộ bị buộc phải ưu tiên xử lý thuật toán thay vì thấu hiểu quy luật vật chất.
Thứ hai, tải ngoại lai (đến từ cách trình bày hoặc phương pháp dạy học) quá tải: những đề bài dài "như một bài văn" và ma trận số liệu vụn vặt chính là "rác nhận thức". Chúng chiếm dụng hết bộ nhớ ngắn hạn, khiến học sinh kiệt sức vì những phép tính số học thuần túy trước khi kịp chạm đến tư duy Hóa học.
Thứ ba, tải liên quan (phát sinh khi học sinh kết nối kiến thức mới với kiến thức cũ) bị triệt tiêu: đây là phần quan trọng nhất để hình thành kiến thức bền vững. Khi hai loại tải trên quá lớn, não bộ không còn không gian để kết nối và ghi nhớ bản chất.
Hệ quả là chúng ta đang đào tạo nên những "thợ giải toán" có phản xạ cực tốt với các con số, nhưng lại rỗng tuếch về tư duy Hóa học. Đó có lẽ là lý do mà sinh viên của tôi có thể giải hệ phương trình 4 hay 5 ẩn rất nhanh, nhưng lại "đứng hình" khi yêu cầu vẽ một công thức cấu tạo hay chứng minh một công thức pH căn bản - những kiến thức lẽ ra phải nằm trong bộ nhớ dài hạn.
Thực tế, học sinh sợ Hóa không phải vì ghét môn học này, mà vì các em bị kiệt sức trước những ma trận số liệu đa chiều. Khi Hóa học vượt ra khỏi không gian ba chiều quen thuộc, nó không còn là câu chuyện về sự kỳ diệu của vật chất, mà trở thành một cuộc chạy đua giải toán khô khan, nơi ống nghiệm và bản chất Hóa học chỉ còn là những cái tên xa lạ.
Hóa học là khoa học về cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, từ phản ứng cơ bản trong phòng thí nghiệm đến những ứng dụng thực tiễn sâu rộng trong đời sống. Khi môn học bị "Toán hóa" quá mức, học sinh dễ bị cuốn vào các bài toán dài, phức tạp, và quên đi bản chất thực sự của hóa học: hiểu cấu tạo phân tử, dự đoán tính chất, và giải thích các hiện tượng hóa học.
Trong thực tiễn, những kiến thức cơ bản này vô cùng quan trọng: hiểu tính chất acid - base giúp kiểm soát pH trong xử lý nước; nắm cấu tạo và phản ứng hữu cơ là nền tảng để sản xuất thuốc, polymer, hoặc vật liệu mới; dự đoán tương tác hóa học giúp thiết kế thực phẩm, mỹ phẩm hay chất tẩy rửa an toàn. Khi học sinh chỉ biết "giải bài toán" mà không hiểu cơ chế, các em sẽ khó áp dụng hóa học vào các tình huống thực tế, từ phòng thí nghiệm đến đời sống hằng ngày.
Để khắc phục, chúng ta cần tái cân bằng cách dạy Hóa học đúng bản chất: giảm tải các bài toán rườm rà, nhấn mạnh cơ chế, nguyên lý và tư duy phân tích, kết hợp lý thuyết với thực hành và ứng dụng thực tiễn. Khi học sinh nắm vững nền tảng, các em không chỉ giải được bài toán, mà còn có khả năng vận dụng hóa học một cách sáng tạo, từ việc kiểm soát pH, thiết kế phản ứng hóa học, đến phát triển vật liệu và dược phẩm. Như vậy, Hóa học không còn là những con số trên giấy, mà là công cụ để hiểu và tác động lên thế giới xung quanh, đúng với bản chất khoa học của nó.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không có những bài tập nặng tính toán, chúng ta sẽ không thể phân loại được học sinh khá, giỏi. Tôi không đồng tình. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang nhầm lẫn giữa năng lực giải Toán và tư duy Hóa học, và từ đó chọn cách dễ nhất: dùng độ phức tạp của Toán học để làm thước đo cho môn Hóa.
Thực chất, một học sinh giỏi Hóa không phải là người giải nhanh những hệ phương trình nhiều ẩn, mà là người hiểu sâu bản chất và có khả năng suy luận từ nguyên lý. Việc phân loại hoàn toàn có thể thực hiện bằng những tiêu chí đúng bản chất hơn: tư duy biện luận dựa trên cơ chế; khả năng thiết lập mô hình và chứng minh; năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một thang đo sai sẽ cho kết quả sai. Nếu tiếp tục dùng độ rối của phép tính để đánh giá năng lực, chúng ta sẽ chỉ tạo ra những "thợ giải" thành thạo con số nhưng thiếu hụt tư duy khoa học. Điều cần hướng tới là những học sinh có khả năng hiểu sâu và suy luận trong thế giới vật chất ba chiều - nơi Hóa học thực sự tồn tại, chứ không phải những người chỉ giỏi thao tác trong "không gian đa chiều" của các phương trình.
Nguyễn Vũ Hoàng'Học Toán vất vả vì nặng công thức, ít tư duy'
Tích phân, đạo hàm 'khó nuốt'
Vật vã học Toán rồi quên sạch
Kỹ sư 20 năm kinh nghiệm chịu thua bài Toán tích phân lớp 12
Giá trị tích phân, đạo hàm nhìn từ chuyện Steve Jobs học thư pháp
Nhân viên bán hàng chê phí công học tích phân, đạo hàm
Nguồn: https://vnexpress.net/hoc-sinh-viet-danh-vat-mon-hoa-vi-tinh-toan-qua-nhieu-5061151.html

