Xóm cắt lưới, phá dây thừng nằm sâu trong con đường nhỏ ngoằn ngoèo. Những người cắt lưới chọn vạt đất trống che bạt để hành nghề. Một nhóm người khác chọn sân nhà để ngồi phá dây thừng. Phần lớn họ từng là ngư dân lênh đênh ngoài khơi, nay “ngán” đi biển nên chọn nghề này, cùng một số phụ nữ địa phương. Tất cả đều miệt mài ngồi “giải phẫu” lưới và dây thừng để mưu sinh.
Trong túp lều dã chiến phủ tấm bạt nhựa che nắng, ông Cúc (tên thường gọi Tư Cúc) ngồi giữa những cuộn lưới chất ngổn ngang. Người đàn ông này thoăn thoắt đưa kéo cắt dọc theo biên lưới, tách phần dây và phần lưới ra thành 2 loại riêng biệt. “Lúc mới làm, tay phồng rộp hết, giờ quen rồi”, ông vừa cười vừa giơ bàn tay chai sần để chứng minh.
Quê ở Lâm Đồng, ông Cúc vào Long Hải lập nghiệp với nghề đánh cá. Vài năm gần đây, ông rời ghe, vào bờ cắt lưới cho người chuyên thu gom lưới, dây thừng cũ về tái chế. “Đi biển giờ cũng khó kiếm ăn hơn trước, sóng gió mà cá cũng ít. Làm nghề cắt lưới nếu siêng năng cũng kiếm trên dưới chục triệu đồng mỗi tháng”, ông nói, mắt vẫn không rời đường kéo.
Công việc cắt lưới tưởng đơn giản nhưng lại đòi hỏi sự kiên nhẫn và sức bền. Người thợ phải tỉ mỉ cắt từng đường sát mép lưới. Lưới sau khi cắt sẽ được những ông chủ bán cho người nuôi hàu, còn dây biên được gom lại bán riêng.
Trong khi đó, chị Hồng Chi đang ra sức kéo đống lưới lớn về lều rồi phăng từng mảng ra ngồi cắt. Tay chị di chuyển cây kéo rất nhanh, thành thạo dù sợi lưới không hề nhỏ. “Lưới cũ bỏ hầm bà lằng cả đống, mình phải kéo ra loại lưới cần cắt. Cắt xong thì phân loại lưới riêng, dây thừng riêng theo lớp lang. Việc này cũng mệt chứ không phải chơi. Mỗi ngày tôi cắt chừng 300 kg lưới”, chị Chi cho biết.
Chị Chi làm nghề này đã 9 năm. Trước đó, chị làm đủ thứ việc lặt vặt. Chồng chị làm thợ hồ, thu nhập bấp bênh. Hai đứa con, một đã tốt nghiệp đại học, một đang học lớp 9 là động lực để chị bám trụ với công việc này. “Mình không có gì để lại cho con, chỉ mong con có cái chữ, nên phải ráng”, chị nói, giọng chậm lại. Chị kể những ngày đầu dù có đeo găng, nhưng tay chị cũng bị phồng rộp; nhưng rồi qua thời gian, tay chai lại, động tác cũng thuần thục hơn. “Cái nghề này ai mới vô làm tay cũng phồng và mỏi”, chị Chi chia sẻ.
Những người làm nghề thường ngồi thành từng nhóm nhỏ, mỗi người một góc. Không có tiếng nói chuyện rôm rả, chỉ có âm thanh của kéo cắt, của lưới sột soạt. Công việc lặp đi lặp lại, nhưng ai cũng chăm chú, bởi mỗi đường cắt là một phần thu nhập thêm của gia đình. “Lao động phổ thông ở vùng này mà kiếm được chục triệu một tháng là không dễ. Vậy mà làm ở đây, được chủ thương và trả công xứng đáng nên sống được”, ông Tư Cúc tâm tình.
Anh Lê Văn Sị mới vào nghề vài ngày. Trước đây, anh đi biển thuê, thu nhập bấp bênh. “Giờ làm cái này gần nhà, có việc làm hoài, đỡ hơn”, anh cho hay. Trông anh vẫn còn vụng về, những đường cắt chưa nhanh, nhưng thu nhập mỗi ngày cũng trên dưới 300.000 đồng. Giữa cái nắng miền biển, dưới những túp lều phủ bạt là những phận người mưu sinh. Đàn ông không còn đối mặt với biển khơi, phụ nữ ngồi một chỗ cũng có thể “cắt ra tiền” nên hầu như ai cũng vui.
Cách đó không xa, một nhóm đàn ông đang ngồi quanh những cuộn dây thừng to như bắp tay, bắp đùi người lớn. Những sợi dây thừng cũ, sậm màu, xơ xác bên ngoài, nhưng bên trong là những sợi nhỏ còn mới. Anh Nguyễn Văn Lý từng có hơn 20 năm đi biển ở địa phương này. Những năm tháng lênh đênh trên biển đã in hằn lên gương mặt rám nắng và đôi bàn tay thô ráp. Nhưng giờ, anh chọn ở lại bờ. “Đi biển tháng có tháng không. Giờ làm nghề này tuy thu nhập không cao đột biến nhưng ổn định”, anh nhìn nhận.
Những người làm nghề phá dây thừng như anh Lý phải dùng chân ghì, tay kéo để tách từng dây nhỏ. Những cuộn dây thừng sau khi được “giải phẫu” sẽ được phân loại, bó lại thành từng lọn. Một số được bán trực tiếp, số khác còn tốt được bện thành dây thừng mới để bán cho ngư dân. Một vòng đời khép kín từ cũ thành mới, từ bỏ đi thành giá trị.
Bên cạnh anh Lý, anh Phạm Văn Tuấn (thường gọi là Lượm) cũng đang thoăn thoắt cuộn lại những sợi dây đã tách. “Tui nghỉ đi biển hơn chục năm rồi. Làm cái này đỡ sóng gió, ngồi trong mát, cũng có đồng ra đồng vô”, anh cười hiền, đôi mắt ánh lên sự bình thản. Những đôi tay từng kéo lưới, buộc dây trên biển, giờ làm công việc tương tự nhưng trong một không gian khác ít sóng gió hơn, nhưng cũng kiếm được khoản tiền trang trải cuộc sống.
Một người thợ lớn tuổi dí dỏm: “Hồi xưa tụi tui làm ra lưới, giờ lại đi phá lưới”. Câu nói nghe qua tưởng đùa, nhưng lại phản ánh một thực tế: khi nguồn lợi thủy sản giảm, khi chi phí ra khơi tăng cao, hoặc tuổi tác không còn cho phép, nhiều ngư dân buộc phải tìm hướng đi khác. Và nghề cắt lưới, phá dây thừng, dù “ngược đời” lại trở thành “cứu tinh” của một số người.
Chiều xuống, ánh nắng vàng đổ dài trên những cuộn lưới và dây thừng. Tiếng kéo cắt vẫn đều đặn như chưa từng có sự ngắt quãng. Những con người ở đây không nói nhiều về tương lai, họ chỉ lặng lẽ làm việc, từng chút một để mưu sinh. Ở làng biển Long Hải, không phải ai cũng còn ra khơi. Nhưng họ vẫn sống theo một cách khác âm thầm, bền bỉ và đầy nghị lực như thế.
Tại phiên họp thứ nhất Đại hội Công đoàn khóa 14 ngày 3/6, ông Nguyễn Xuân Hùng, Phó chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, cho biết dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công đoàn Việt Nam dự kiến giảm mức đóng đoàn phí xuống còn 0,5% mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
Hiện nay lao động, đoàn viên hàng tháng phải đóng công đoàn phí; doanh nghiệp phải trích 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để đóng kinh phí công đoàn. Công đoàn Việt Nam đang đề xuất sửa đổi một số đối tượng đóng 2% để đảm bảo đồng bộ, thống nhất với Luật Công đoàn năm 2024.
Điều lệ sửa đổi đồng thời bổ sung quy định hàng năm Tổng liên đoàn Lao động báo cáo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dự toán và quyết toán tài chính công đoàn; quy định về mô hình tổ chức đặc thù gồm Công đoàn tập đoàn kinh tế, tổng công ty trực thuộc Tổng liên đoàn, Công đoàn xã, phường, đặc khu.
Sau tinh gọn bộ máy, từ 1/6/2025, công đoàn cơ sở cơ quan hành chính, doanh nghiệp hưởng 100% lương ngân sách, lực lượng vũ trang dừng thu công đoàn phí, kinh phí công đoàn. Đoàn viên, lao động công đoàn đang làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp tự chủ, doanh nghiệp ngoài công lập vẫn thuộc nhóm đóng công đoàn phí.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 14 nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra từ ngày 3 đến 5/6. Giai đoạn 2023-2026, các cấp công đoàn đã chi hơn 27.200 tỷ đồng cho các hoạt động chăm lo, hỗ trợ người lao động; phát triển mới trên 2,2 triệu đoàn viên và ghi nhận các sáng kiến làm lợi hơn 40.000 tỷ đồng.
Khoảng 7h, tại dốc Cao Pha trên quốc lộ 6 qua xã Mường Bú, khối đá lớn bất ngờ sạt từ sườn núi xuống mặt đường. Khối đá vỡ thành nhiều mảnh, trong đó một mảnh lớn đè bẹp đầu ôtô.
Trên xe chỉ có tài xế. Người này bị thương nhẹ, đã được đưa đến cơ sở y tế điều trị. Sự cố khiến giao thông trên quốc lộ 6 nối Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc ùn tắc kéo dài cả hai chiều.
Lãnh đạo xã Mường Bú cho biết hiện địa bàn mưa to, xã đang huy động máy móc, thiết bị phá đá để giải phóng hiện trường, sớm thông tuyến quốc lộ 6. Do khối đá quá lớn, việc xử lý gặp nhiều khó khăn.
Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai cho biết mưa lớn ba ngày qua do ảnh hưởng của rãnh áp thấp đã khiến 3 ngôi nhà đổ sập, 24 nhà khác hư hỏng. Ngoài ra, 40 ha lúa, hoa màu, 76 ha ao cá và 17 gia súc tại Lai Châu bị thiệt hại.
Về giao thông, nhiều điểm trên quốc lộ 279 (Điện Biên), quốc lộ 4D (Lai Châu) cùng các tuyến đường tỉnh, đường liên xã, liên thôn ở hai địa phương bị sạt lở, gây gián đoạn lưu thông. Chính quyền đã huy động lực lượng, phương tiện khắc phục các điểm sạt lở, hỗ trợ người dân ổn định đời sống.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, từ 7h ngày 8/7 đến 7h ngày 9/7, nhiều nơi ở miền núi Bắc Bộ có mưa to. Lượng mưa lớn nhất ghi nhận tại An Phú (Lào Cai) 181 mm; Mường Giôn (Sơn La) 162 mm; Mường Mùn (Điện Biên) 147 mm; Pắc Ma (Sơn La) 146 mm; Huội Quảng (Lai Châu) 145 mm; Khâu Tinh (Tuyên Quang) 140 mm và Chi Lăng (Lạng Sơn) 101 mm.
Mô hình độ ẩm đất cho thấy nhiều khu vực tại Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn đã gần bão hòa hoặc đạt trạng thái bão hòa. Trong 3-6 giờ tới, khu vực này tiếp tục có mưa phổ biến 20-50 mm, có nơi trên 90 mm.
Cơ quan khí tượng cảnh báo trong 6 giờ tới, nguy cơ xảy ra lũ quét trên các sông, suối nhỏ và sạt lở đất trên sườn dốc ở mức cấp 1 tại hàng trăm xã, phường thuộc 7 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn.
Lũ quét, sạt lở đất có thể đe dọa tính mạng người dân, gây chia cắt giao thông, phá hủy nhà cửa và công trình hạ tầng. Cơ quan khí tượng khuyến cáo người dân hạn chế di chuyển qua các tuyến đường đèo dốc, khu vực taluy cao trong thời gian mưa lớn; chính quyền địa phương tiếp tục rà soát các điểm xung yếu để chủ động sơ tán người dân và triển khai các biện pháp ứng phó.
Bà Trần Ngọc Sen (76 tuổi, khối phố Bàn Thạch, P.Hương Trà, TP.Đà Nẵng) trước đây làm giấy tờ phải đi nhiều lần, có khi thiếu giấy tờ lại phải về bổ sung. Nay cán bộ hướng dẫn rất kỹ, hồ sơ gần như hoàn chỉnh ngay từ đầu. Bà kể, có những thủ tục chỉ cần đi một lần là xong. "Người dân đánh giá rất cao cách làm việc của chính quyền mới khi tinh gọn, hiệu quả và gần dân hơn", bà nói.
Với P.Hương Trà, địa bàn đồng bằng với mật độ dân cư đông, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai trong bối cảnh khối lượng công việc tăng cao, trong khi cơ sở vật chất và dữ liệu chưa đồng bộ hoàn toàn. Đây là thách thức không nhỏ đối với đội ngũ cán bộ, công chức.
Áp lực công việc rất lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, nhưng cán bộ phường luôn nỗ lực hết mình để không làm gián đoạn quá trình giải quyết thủ tục. Minh chứng rõ ràng nhất là chỉ sau gần 1 tháng vận hành chính thức, phường đã trao 35 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người dân. Đến nay, số trường hợp được cấp giấy lần đầu đã gần chạm mốc 100.
Quy trình xử lý hồ sơ cũng trở nên minh bạch, rõ ràng hơn. Người dân có thể theo dõi tiến độ giải quyết thông qua hệ thống số hóa hoặc được hướng dẫn cụ thể ngay tại bộ phận tiếp nhận. Cũng đã có sự thay đổi lớn trong mối quan hệ giữa chính quyền và người dân: trước đây người dân đôi khi e ngại khi tiếp cận cơ quan công quyền (do khoảng cách về thủ tục), nay sự gần gũi đã được cải thiện rõ rệt.
Mô hình 1 cửa điện tử đang là điểm sáng tại P.Hương Trà khi hầu hết các thủ tục đều được tiếp nhận và xử lý trên phần mềm, giúp giảm thiểu giấy tờ, tiết kiệm thời gian và hạn chế sai sót. "Tôi nộp hồ sơ qua mạng, thanh toán cũng trực tuyến nên không cần phải nghỉ làm để đi lại. Có vướng mắc thì gọi điện hoặc nhắn tin là được cán bộ hỗ trợ ngay. Chính quyền bây giờ rất gần gũi, không còn cảm giác xa cách như trước", anh Nguyễn Văn Nhật (36 tuổi, ở P.Hương Trà), chủ một hộ kinh doanh nhỏ, chia sẻ.
Nếu Hương Trà là câu chuyện của một phường đồng bằng với áp lực lớn về khối lượng công việc, thì Trà Tân lại là hình ảnh của một xã miền núi nỗ lực vượt khó để đưa dịch vụ công đến gần hơn với người dân.
Xã Trà Tân chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, nên hình ảnh cán bộ "cầm tay chỉ việc" không còn xa lạ do phần lớn người dân còn lúng túng trong việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Cán bộ phải dành nhiều thời gian để hướng dẫn từng bước, là yếu tố then chốt giúp nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến. Ông Hồ Văn Bảy (53 tuổi, ở xã Trà Tân) cho hay: "Nhà tôi ở xa trung tâm, trước đây mỗi lần đi làm giấy tờ là cả ngày. Giờ xã giải quyết được nhiều việc ngay tại chỗ, đỡ vất vả hơn rất nhiều. Ngoài ra, cán bộ thì nhiệt tình, hỏi gì cũng được giải thích rõ ràng".
Những ngày đầu áp dụng mô hình mới, cán bộ vùng cao Trà Tân gặp một số khó khăn do khối lượng công việc tăng lên. Tuy nhiên, nhờ được tập huấn và hướng dẫn kịp thời, mọi việc dần đi vào ổn định. Theo bà Hồ Thị Minh Diệu, Phó giám đốc Trung tâm phục vụ hành chính công xã Trà Tân, hiện nay quy trình đã rõ ràng hơn, trách nhiệm cũng cụ thể hơn, nên công việc trôi chảy hơn trước. "Nhiều người dân chưa quen với công nghệ, chúng tôi phải hướng dẫn từ việc tạo tài khoản, nộp hồ sơ đến thanh toán trực tuyến. Dù vất vả hơn, nhưng đổi lại người dân dần quen và chủ động", bà Diệu nói.
Dù điều kiện khác nhau, nhưng phường đồng bằng (Hương Trà) và xã miền núi (Trà Tân) đều có điểm chung: sự thay đổi trong tư duy phục vụ. Chính quyền không còn đứng trên, mà đã "đi cùng" người dân, hướng đến một mục tiêu là làm sao để người dân hài lòng.
Ông Trần Trung Hậu, Chủ tịch UBND P.Hương Trà, cho biết khi người dân đến làm thủ tục, cán bộ địa phương có thể xử lý nhanh chóng, không phải chờ xin ý kiến cấp trên quá nhiều như trước do có sự phân cấp mạnh hơn cho cơ sở. Trách nhiệm của từng cán bộ và niềm tin từ phía người dân cũng được nâng lên. "Cải cách hành chính không chỉ là cắt giảm thủ tục mà còn là thay đổi tư duy phục vụ. Cán bộ phải coi người dân là trung tâm, là đối tượng được phục vụ, từ đó điều chỉnh cách làm việc sao cho hiệu quả và thân thiện hơn", ông Hậu khẳng định.
Theo ông Hậu, địa phương đang nỗ lực xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ. Ở đó, 1 cửa không chỉ là mô hình mà là cam kết; trực tuyến không chỉ là công nghệ mà là công cụ để rút ngắn khoảng cách; gần dân không chỉ là khẩu hiệu mà là hành động cụ thể mỗi ngày. "Chúng tôi luôn tâm niệm rằng, mỗi hồ sơ không chỉ là một thủ tục mà là quyền lợi của người dân. Giải quyết nhanh, đúng và thuận tiện chính là cách tốt nhất để phục vụ nhân dân", ông Hậu nhấn mạnh.
Việc phân cấp mạnh cho cơ sở có ý nghĩa rất lớn đối với địa bàn miền núi như Trà Tân. Ông Lê Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã Trà Tân, cho rằng cải cách hành chính ở miền núi không chỉ dừng ở việc tinh giản thủ tục mà còn phải gắn với điều kiện cụ thể của địa phương. Ví dụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin cần có sự linh hoạt, kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp để phù hợp với trình độ tiếp cận của người dân. "Lãnh đạo xã luôn yêu cầu cán bộ phải gần dân, hiểu dân và hỗ trợ đến nơi đến chốn", ông Chiến nói. (còn tiếp)