Làm việc tại một trung tâm hỗ trợ bạo lực gia đình, Lan, 36 tuổi, từng đồng hành với nhiều phụ nữ và trẻ em vượt qua sang chấn. Mười giờ mỗi ngày, chuyên gia ngồi lắng nghe những điều không thể nói với ai khác. Một người phụ nữ với vết bầm chưa kịp tan. Một đứa trẻ không còn dám ngủ một mình. Trường hơn khác đang nghĩ đến chuyện “kết thúc tất cả” vì không thể chịu đựng những đau khổ dày vò.
Trong giai đoạn thiếu nhân sự, Lan tiếp nhận đến 10 ca trị liệu liên tiếp mỗi ngày. Những câu chuyện chất chồng không có lối thoát. Chị bắt đầu sợ đám đông, mất ngủ, thường xuyên gặp ác mộng mang hình ảnh của thân chủ. Lo âu kéo dài suốt hai năm. Người phụ nữ tự áp dụng mọi phương pháp từng hướng dẫn người khác đọc sách, chánh niệm, thiết lập ranh giới cảm xúc nhưng không có gì hiệu quả.
“Càng cố tự chữa, tôi càng thấy bất lực”, chị kể.
Những gì chuyên gia tâm lý trải qua được khoa học gọi tên là kiệt sức vì thấu cảm, hay “compassion fatigue”. Đây không phải trạng thái tâm lý mơ hồ. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Traumatology chỉ ra hơn 50% chuyên gia làm việc với nạn nhân sang chấn có biểu hiện của kiệt sức thấu cảm ở mức độ trung bình đến nặng. Với những người làm việc trong lĩnh vực bạo lực gia đình hoặc chăm sóc tâm thần cường độ cao, tỷ lệ này còn cao hơn đáng kể.
Theo Bộ Y tế, khoảng 15 triệu người Việt Nam đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến. Trầm cảm cùng chứng lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong khi đó, cả nước chỉ có khoảng 1.000 bác sĩ tâm thần. Tỷ lệ gần một bác sĩ trên 100.000 dân này thấp hơn nhiều so với mức trung bình 3,96 mà Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận năm 2022.
Sự thiếu hụt nhân lực y khoa tuyến trên vô tình đẩy các chuyên gia tâm lý trở thành cửa ngõ tiếp nhận bệnh nhân. Khối lượng công việc khổng lồ dẫn đến hội chứng kiệt sức vì thấu cảm. Báo cáo từ Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) chỉ ra thực trạng đáng báo động khi có tới 45% chuyên gia trị liệu từng trải qua các triệu chứng kiệt sức nghề nghiệp, một con số cho thấy nguy cơ đứt gãy của hệ thống phòng vệ tuyến đầu.
“Khoảng trống nhân lực đó dồn gánh nặng xuống tầng chuyên gia tâm lý và tham vấn viên ở tuyến tiếp cận ban đầu. Họ trở thành ‘cửa ngõ’ đầu tiên mà người dân tìm đến khi gặp khủng hoảng tinh thần, nhưng lại là nhóm ít được bảo vệ nhất trong hệ thống”, TS.BS Ngô Thị Thanh Hương, cố vấn cao cấp và đồng sáng lập dự án Safe and Sound thuộc Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, nói.
Áp lực đó còn đi kèm rủi ro chuyên môn. TS Hương chỉ ra rằng nhiều ca ban đầu trông như stress thông thường hoặc kém thích nghi, nhưng thực chất đang ở giai đoạn sớm của rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu nặng, thậm chí loạn thần.
“Nếu thiếu kiến thức nền tảng về tâm thần, người làm chuyên môn rất dễ bỏ sót tín hiệu quan trọng hoặc đánh giá thấp mức độ nguy cơ”, bà nói. Sai lầm đó không chỉ ảnh hưởng đến thân chủ mà còn tích lũy thành gánh nặng tâm lý ngược chiều lên chính người trị liệu.
Một vấn đề khác là sự thiếu thống nhất ngôn ngữ chuyên môn giữa tâm lý học và tâm thần học, làm giảm hiệu quả phối hợp ở các ca cần kết hợp trị liệu tâm lý và dùng thuốc. ThS.BS Nguyễn Văn Công, Viện trưởng Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, cho rằng xu hướng đào tạo hiện nay cần dịch chuyển mạnh hơn theo hướng thực hành, tăng phân tích ca bệnh và phối hợp đa chuyên khoa, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn lâm sàng. Ông cho rằng người làm tâm lý tuyến đầu không chỉ cần kiến thức nền mà còn phải biết khi nào cần chuyển tuyến và cách phối hợp với bác sĩ tâm thần trong từng tình huống cụ thể.
Nhưng tất cả giải pháp hệ thống đó đều có một điều kiện tiên quyết là bản thân người làm nghề phải còn đủ sức để ở lại. Chị Lan cuối cùng đã tìm đến một đồng nghiệp để được trị liệu. Ngày đầu tiên ngồi ở vị trí của người cần được hỗ trợ, chị bật khóc. Không phải vì đau, mà vì nhẹ nhõm khi được tháo bỏ “chiếc mặt nạ” của người luôn phải mạnh mẽ.
Sau thời gian nghỉ ngơi, thiết lập lại ranh giới công việc và tiếp tục trị liệu, chị dần lấy lại thăng bằng để trở về với nghề. Với Lan, bài học không nằm ở kỹ thuật hay lý thuyết nào.
“Người làm công tác hỗ trợ tâm lý chỉ có thể đi đường dài cùng người khác khi biết chăm sóc chính sức khỏe tinh thần của mình”, chuyên gia tâm sự.
Thuốc amivantamab, một phương pháp điều trị ung thư trúng đích bằng hình thức tiêm dưới da, đã mở ra hy vọng mới khi giúp thu nhỏ khối u ở hơn một phần ba số bệnh nhân mắc ung thư đầu và cổ tái phát hoặc di căn, nhóm vốn đã kháng các phác đồ điều trị tiêu chuẩn, theo Viện Nghiên cứu Ung thư London (ICR).
Trước đó, amivantamab, do tập đoàn Johnson & Johnson phát triển, là phương pháp điều trị thuộc nhóm kháng thể đơn dòng đặc hiệu kép. Loại thuốc này hiện đã được cấp phép để điều trị cho nhiều phân nhóm ung thư phổi ở các bước điều trị khác nhau.
Các nhà khoa học thiết kế loại protein nhân tạo này hoạt động như một chiếc còng số 8, tự động dò tìm và khóa chặt cùng lúc hai mục tiêu then chốt trên bề mặt tế bào ung thư. Mục tiêu thứ nhất là EGFR, một loại protein đóng vai trò như động cơ thúc đẩy khối u tăng sinh đột biến. Mục tiêu thứ hai là MET, con đường truyền tín hiệu bí mật giúp tế bào ác tính lẩn trốn và chống lại các loại thuốc hóa trị, miễn dịch thông thường.
Ngay khi khóa chặt hai tín hiệu sinh tồn này khiến tế bào ung thư kiệt quệ, amivantamab tiếp tục phát huy tác dụng sinh học thứ ba. Thuốc đóng vai trò như một hồi chuông báo động, kích hoạt hệ thống miễn dịch của cơ thể. Các tế bào bạch cầu ngay lập tức nhận diện tín hiệu, di chuyển đến khu vực có khối u và trực tiếp tiêu diệt các mầm bệnh đang suy yếu.
Đội ngũ y tế tiêm trực tiếp một lượng nhỏ amivantamab vào lớp mô dưới da bệnh nhân thay vì truyền dịch pha loãng qua đường tĩnh mạch. Phương pháp đưa thuốc mới này giúp các hoạt chất thâm nhập nhanh chóng vào cơ thể, phát huy tác dụng bao vây khối u chỉ trong thời gian ngắn. Bệnh nhân hoàn toàn có thể hoàn thành quy trình tiêm tại phòng khám ngoại trú và về nhà ngay, tránh được tâm lý mệt mỏi khi phải lưu trú dài ngày tại bệnh viện. Những bệnh nhân được điều trị bằng amivantamab có thời gian sống thêm trung vị là 12,5 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị.
Các kết quả mới từ thử nghiệm lâm sàng pha Ib/II mang tên OrigAMI-4, do các nhà khoa học ICR thực hiện, được báo cáo hôm 31/5 tại Hội nghị Thường niên của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Mỹ (ASCO) và xuất bản trên Tạp chí Ung thư Lâm sàng (JCO), xác nhận tình trạng thu nhỏ khối u ở 42% số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc amivantamab.
Các nhà khoa học cho biết kết quả này là bằng chứng vững chắc để tiếp tục phát triển amivantamab thành một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn cho ung thư đầu và cổ. Đây là căn bệnh đang ảnh hưởng đến khoảng 12.800 người tại Anh mỗi năm và cũng là loại ung thư phổ biến thứ 6 trên thế giới.
Thử nghiệm được triển khai tại 55 bệnh viện ở 11 quốc gia, tập trung vào những người mắc ung thư đầu và cổ. Ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ là căn bệnh ác tính tiến triển rất nhanh, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Các triệu chứng như đau đớn và nuốt nghẹn khiến bệnh nhân gặp nhiều khó khăn khi ăn uống, giao tiếp, từ đó không đảm bảo được dinh dưỡng cho cơ thể. Một số dạng ung thư đầu cổ gồm các khối u ở khoang miệng, thanh quản và các phần của họng, nằm trong số những loại khó chữa nhất, thường có kết quả điều trị xấu và luôn đòi hỏi những bài thuốc mới hiệu quả hơn. Tính chung trong các loại ung thư đầu cổ, có tới một nửa số bệnh nhân sẽ bị tái phát hoặc di căn, ngay cả khi bệnh đã được phát hiện và điều trị từ giai đoạn sớm.
Một khi bệnh tái phát hoặc di căn, tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ còn khoảng 15%. Đối với những bệnh nhân phải chuyển sang phác đồ điều trị tiếp theo, các loại thuốc hiện tại đem lại lợi ích rất hạn chế khi tỷ lệ đáp ứng với thuốc hiếm khi vượt quá 24% và hiếm người đạt được kết quả sạch bóng khối u hoàn toàn.
Nhóm một của nghiên cứu OrigAMI-4 gồm 102 bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ tái phát hoặc di căn, có khối u vẫn tiếp tục phát triển bất chấp trước đó đã được điều trị bằng liệu pháp miễn dịch và hóa trị dựa trên nền platinum.
Trong quá trình thử nghiệm, các bác sĩ ghi nhận khối u đã thu nhỏ ở 43 bệnh nhân. Trong đó, 15 người đáp ứng hoàn toàn, nghĩa là khối u biến mất trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, và 28 người bệnh đạt đáp ứng một phần khi khối u thu nhỏ đáng kể.
Chuyên gia nhận định nếu những kết quả khả quan từ nghiên cứu trên tiếp tục được khẳng định trong các thử nghiệm quy mô lớn hơn như thử nghiệm lâm sàng pha 3 OrigAMI-5 đang diễn ra, phương pháp điều trị này sẽ sớm được phê duyệt, đem lại cơ hội sống cho hàng chục nghìn người khác trên toàn thế giới mỗi năm.
Tối 4.5, Bệnh viện Trường ĐH Y Dược Huế cho biết, ê kíp tạo hình thẩm mỹ thuộc Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình của bệnh viện đã khởi động quy trình báo động đỏ phẫu thuật khẩn cấp, nối lại bàn chân đứt lìa cho một bệnh nhân nam đến từ Quảng Trị.
Bệnh nhân là ông Trần Ngọc T. (69 tuổi, ở xã Quảng Ninh, Quảng Trị), bị máy cắt cỏ cắt lìa chân khi đang phát cỏ ở vườn nhà.
Bệnh nhân được đưa vào Huế nhập viện sau 3 giờ 30 phút bàn chân bị tai nạn cắt lìa. Sau khi khởi động quy trình báo động đỏ, ca phẫu thuật đã được tiến hành sau 30 phút nhập viện (4 giờ từ khi xảy ra tai nạn).
Ca phẫu thuật do ê kíp phẫu thuật, gồm: Tiến sĩ - bác sĩ Lê Hồng Phúc, thạc sĩ - bác sĩ Nguyễn Bá Lưu, đơn vị Tạo hình thẩm mỹ thuộc Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình của bệnh viện, cùng ê kíp gây mê hồi sức thuộc Trung tâm Cấp cứu và Đột quỵ của bệnh viện thực hiện với thời gian 4 tiếng đồng hồ.
Theo đó, ê kíp phẫu thuật đã khẩn trương xử trí theo quy trình nối chi đứt rời. Sau khi làm sạch vết thương, các bác sĩ tiến hành cố định nhanh xương chày và xương mác bằng đinh Kirschner. Tiếp đó, các cấu trúc quan trọng được nối lại gồm bó mạch, thần kinh chày trước và chày sau, tĩnh mạch hiển lớn. Các nhóm cơ vùng trước và sau cũng được khâu phục hồi hoàn chỉnh, giúp tái lập chức năng cho chi bị tổn thương.
Sau ca phẫu thuật chân bệnh nhân đã hồng ấm và được tiếp tục theo dõi sát trong những giờ tới.
Theo tiến sĩ - bác sĩ Hồng Phúc cho biết, ca phẫu thuật được tiến hành thuận lợi nhờ sự phối hợp nhịp nhàng của ê kíp cấp cứu, đặc biệt là đội ngũ gây mê hồi sức đã triển khai nhanh giúp hạn chế được thời gian thiếu máu nóng.
Theo bác sĩ Lê Hồng Phúc, đối với các ca phẫu thuật nối chi đứt lìa như trường hợp trên, việc nối thần kinh chày sau rất quan trọng, vì liên quan cảm giác bàn chân.
Qua trường hợp tai nạn nguy hiểm này, bác sĩ Lê Hồng Phúc khuyến cáo các loại máy cắt cỏ có lưỡi bằng sắt rất nguy hiểm nếu để xảy ra tai nạn. Người dân khi dùng máy hết sức cẩn thận và có giải pháp bảo vệ trong quá trình lao động để tránh tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Trà, đặc biệt là trà xanh, trà đen, chứa nhiều polyphenol và catechin - những hợp chất có đặc tính chống oxy hóa và chống viêm. Các chất này có thể giúp bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương do stress oxy hóa, đồng thời hỗ trợ duy trì hoạt động ổn định của các enzyme gan.
Liều lượng, thời điểm uống trà ảnh hưởng đến gan
Yếu tố quyết định không phải là có uống trà hay không mà là lượng dùng và tần suất sử dụng.
Đại học Khoa học Y khoa Kermanshah (Iran) thực hiện nghiên cứu tác động của trà với gan trên 2.530 người từ 2015 đến 2023. Kết quả cho thấy những người uống dưới 4 tách trà mỗi ngày có xu hướng có chỉ số gan khỏe mạnh hơn so với nhóm uống quá nhiều hoặc không uống.
Thời điểm uống trà cũng đóng vai trò đáng kể. Uống trà cùng hoặc sau bữa ăn giúp làm chậm quá trình hấp thụ caffeine và các hợp chất hoạt tính, từ đó giảm áp lực lên gan. Ngược lại, uống trà khi bụng đói, đặc biệt là trà đậm, có thể khiến cơ thể hấp thụ nhanh các chất này, gây "quá tải" tạm thời cho hệ chuyển hóa.
Thói quen pha trà quá lâu hoặc sử dụng trà có độ đậm cao cũng làm tăng lượng hợp chất hoạt tính đi vào cơ thể, từ đó gia tăng nguy cơ ảnh hưởng đến gan.
Uống trà quá đậm có thể bất lợi
Lợi ích của trà không kéo dài nếu sử dụng quá mức. Uống quá nhiều hoặc dùng trà quá đậm có thể gây tác dụng ngược. Khi cơ thể hấp thụ lượng lớn catechin và caffeine, gan phải hoạt động nhiều hơn để xử lý, thải độc. Điều này có thể làm gia tăng gánh nặng lên quá trình chuyển hóa, nhất là khi diễn ra thường xuyên.
Chất chống oxy hóa polyphenol khi nạp ở liều cao có thể ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzyme gan tham gia quá trình thải độc. Ở một số trường hợp, thói quen uống trà đậm kéo dài còn liên quan tăng men gan nhẹ.
Cách uống trà có lợi cho gan
Theo các chuyên gia, trà không gây hại nếu được sử dụng có kiểm soát. Thời điểm lý tưởng để uống trà là sau bữa ăn khoảng 30-45 phút, khi quá trình tiêu hóa đã bắt đầu. Điều này không chỉ giúp giảm kích thích dạ dày mà còn hạn chế ảnh hưởng đến việc hấp thụ dưỡng chất.
Thưởng thức một vài tách trà mỗi ngày (2-3 tách), với độ đậm vừa phải sau bữa ăn, là lựa chọn phù hợp để vừa tận hưởng lợi ích của trà, vừa bảo vệ chức năng gan. Thêm một lượng nhỏ sữa có thể giúp giảm độ axit của trà, nhưng nên hạn chế đường hoặc chất tạo ngọt để tránh tác động tiêu cực đến chuyển hóa.
Các loại trà thảo mộc hoặc trà detox cần được sử dụng thận trọng. Một số thành phần trong các loại trà này có thể tương tác với thuốc hoặc ảnh hưởng đến men gan nếu dùng thường xuyên.