CNN ngày 2/4 dẫn ba nguồn tin am hiểu tình hình tiết lộ các đánh giá tình báo của Mỹ gần đây cho thấy Iran vẫn duy trì năng lực tiến công đáng kể, bất chấp những tuyên bố của giới chức Mỹ và Israel trong những tuần qua.
Theo đó, Iran vẫn còn khoảng một nửa số bệ phóng tên lửa và hàng nghìn máy bay không người lái (UAV) tự sát, tương đương khoảng 50% số UAV mà nước này sở hữu, bất chấp các đợt không kích hàng ngày của Mỹ – Israel. Đánh giá tình báo của Mỹ có thể tính cả những bệ phóng hiện không thể tiếp cận, như các khẩu đội bị vùi lấp dưới lòng đất sau không kích nhưng chưa bị phá hủy.
“Rõ ràng họ vẫn đủ sức gây tàn phá nghiêm trọng trên toàn khu vực”, một nguồn tin nhận định.
Ngoài ra, lượng lớn tên lửa hành trình chống hạm của Iran vẫn còn nguyên vẹn, phù hợp với thực tế là Mỹ không tập trung tấn công những khí tài phòng thủ bờ biển. Những loại tên lửa này là vũ khí then chốt giúp Iran kiểm soát hoạt động hàng hải tại eo biển Hormuz.
Đánh giá tình báo đưa ra bức tranh chi tiết và thận trọng hơn về năng lực của Iran, trái ngược những tuyên bố chiến thắng mà Tổng thống Donald Trump và quan chức Mỹ đưa ra. Trong bài phát biểu trước toàn quốc hôm 1/4, ông Trump tuyên bố năng lực phóng tên lửa và UAV của Iran đã bị “suy giảm đáng kể”, các nhà máy vũ khí và bệ phóng “đang bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại rất ít”.
Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan phụ trách hoạt động của quân đội Mỹ tại Trung Đông, tuyên bố các đơn vị nước này đã tấn công hơn 12.300 mục tiêu trong lãnh thổ Iran tính đến ngày 1/4.
Lầu Năm Góc nhiều lần nhấn mạnh sự sụt giảm về số tên lửa Iran phóng đi, thay vì lượng khí tài bị phá hủy. Trong cuộc họp báo ngày 19/3, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth khẳng định số tên lửa đạn đạo nhằm vào lực lượng Mỹ đã giảm 90% kể từ khi xung đột bắt đầu, những cuộc tập kích bằng UAV tự sát cũng giảm ở mức tương tự.
Dù vậy, Iran mỗi ngày vẫn tiến hành nhiều đợt tấn công bằng tên lửa và UAV nhằm vào Israel, các nước vùng Vịnh và căn cứ đồn trú của lực lượng Mỹ.
Quan chức quân sự Israel ước tính Iran còn 20-25% bệ phóng tên lửa đủ sức hoạt động. Con số thấp hơn nhiều so với đánh giá của tình báo Mỹ vì không tính các bệ bị vùi lấp hoặc không thể tiếp cận, theo nguồn tin am hiểu đánh giá tình báo Mỹ và một nguồn tin Israel.
Dù hải quân Iran chịu thiệt hại nặng nề, lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) vẫn còn khoảng một nửa năng lực chiến đấu, theo các nguồn tin. Một quan chức khác nhận định IRGC vẫn còn “hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tàu nhỏ và tàu mặt nước không người lái”.
Trong bài phát biểu toàn quốc, ông Trump nói chiến dịch của Mỹ có thể kết thúc trong 2-3 tuần tới. Tuy nhiên, một nguồn tin am hiểu báo cáo tình báo Mỹ nhận định mục tiêu này “không thực tế”, xét đến những năng lực mà Iran vẫn sở hữu.
“Rõ ràng vẫn còn nhiều năng lực tồn tại, bao gồm các lực lượng ủy nhiệm và UAV. Iran vài ngày gần đây đã cho thấy họ vẫn có khả năng tấn công hoạt động hàng hải tại eo biển”, Annika Ganzeveld, chuyên gia thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ, nhận xét.
Phản hồi về thông tin của CNN, phát ngôn viên Nhà Trắng Anna Kelly cho rằng “các nguồn tin ẩn danh đang cố công kích Tổng thống Trump và hạ thấp thành quả của quân đội Mỹ trong chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng”.
“Sự thật là các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo và UAV của Iran đã giảm 90%, hải quân của họ bị xóa sổ, 2/3 cơ sở sản xuất bị phá hủy hoặc hư hại. Mỹ cùng Israel đang nắm ưu thế áp đảo trên không. Iran đang bị hủy diệt về mặt quân sự và tình hình của họ ngày càng tồi tệ”, bà cho hay.
Người phát ngôn Lầu Năm Góc Sean Parnell cũng phủ nhận thông tin. “Quân đội Mỹ đã giáng những đòn trí mạng vào Iran. Chúng tôi đang đi trước tiến độ trong việc hoàn thành các mục tiêu quân sự, gồm phá hủy kho tên lửa và hải quân Iran, xóa sổ lực lượng ủy nhiệm và bảo đảm họ không bao giờ có được vũ khí hạt nhân”, ông nói.
Vụ cháy bùng phát hôm nay tại khu vực đặt máy phát điện của nhà máy điện hạt nhân Barakah ở vùng Al Dhafra thuộc Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), sau khi khu vực này trúng đòn tập kích bằng máy bay không người lái. Địa điểm xảy ra hỏa hoạn nằm gần vành đai an ninh vòng trong của nhà máy.
Cơ quan Quản lý Hạt nhân Liên bang (FANR) của UAE khẳng định sự việc không ảnh hưởng đến mức độ an toàn của nhà máy điện, cũng không tác động đến những hệ thống thiết yếu, toàn bộ tổ máy đều hoạt động bình thường. Không có thương vong trong vụ tập kích, nhưng chưa rõ ngọn lửa đã được khống chế hay chưa.
UAE chưa cáo buộc bên nào đứng sau vụ tấn công, cũng chưa có cá nhân hay tổ chức nào nhận trách nhiệm về sự việc.
Nhà máy điện hạt nhân Barakah có trị giá 20 tỷ USD, là dự án hợp tác giữa UAE và Hàn Quốc, bắt đầu hoạt động từ năm 2020. Đây là nhà máy điện hạt nhân đầu tiên và duy nhất trên bán đảo Arab, cung cấp khoảng 1/4 nhu cầu điện cho UAE.
Cuộc tập kích ngày 17/5 đánh dấu lần đầu nhà máy Barakah bị nhắm mục tiêu từ khi xung đột Trung Đông bùng phát cuối tháng 2. Sự việc xảy ra giữa lúc căng thẳng giữa UAE và Iran đang ở mức cao.
Iran đã tập trung phần lớn hỏa lực đáp trả nhằm vào UAE với hơn 2.800 tên lửa và UAV, nhiều hơn mọi quốc gia liên quan, kể cả Israel. Các cuộc tập kích gây thiệt hại nặng nề cho giao thông hàng không, du lịch và thị trường bất động sản của UAE, dẫn đến nhiều đợt sa thải và cho nghỉ việc có thời hạn.
Giới chức vùng Vịnh cho biết hành động của Iran đã thúc đẩy UAE thay đổi cơ bản chiến lược, chuyển sang coi Iran là "thế lực bất hảo, tìm cách phá hoại mô hình kinh tế - xã hội của UAE, vốn dựa trên nhân tài nước ngoài và danh tiếng về sự an toàn, ổn định".
Iran vẫn gần như đóng cửa hoàn toàn eo biển Hormuz, tuyến đường biển trọng yếu tại khu vực. Mỹ đang phong tỏa các cảng biển Iran để đáp trả, trong khi đàm phán hòa bình giữa hai bên không đạt được tiến triển mới.
Một số cuộc giao tranh và tập kích đã nổ ra xung quanh eo biển Hormuz trong vài tuần qua, làm dấy lên lo ngại xung đột quy mô lớn có thể bùng phát trở lại nếu lệnh ngừng bắn hiện tại giữa Iran và Mỹ sụp đổ.
Năm 2026 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ hai nước khi kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026). Tuy nhiên, mối liên kết giữa hai quốc gia không đơn thuần bắt đầu từ những văn kiện ngoại giao ký kết năm 1976 mà là một dòng chảy liên tục bắt nguồn từ sự tương đồng văn hóa sâu sắc, những tương tác lịch sử qua nhiều thế kỷ, đặc biệt là dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Một minh chứng sống động cho sự gắn kết giữa hai nước là quãng thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng tại Thái Lan vào cuối những năm 1920. Theo nghiên cứu của tiến sĩ Thanyathip Sripana tại Viện Nghiên cứu châu Á thuộc Đại học Chulalongkorn (Thái Lan) và là chuyên gia hàng đầu về quan hệ Thái - Việt, Bác Hồ - khi đó là Nguyễn Ái Quốc - đến Bangkok vào khoảng tháng 7.1928, sau đó hoạt động chủ yếu ở vùng đông bắc Thái Lan. Để che giấu thân phận, người sử dụng nhiều bí danh, tiêu biểu là Thầu Chín. Tại đây, Người học tiếng Thái, hòa nhập cộng đồng, tổ chức cộng đồng Việt kiều, xây dựng cơ sở cách mạng, thành lập báo Thân Ái và đào tạo cán bộ.
Theo tờ The Nation, trong gần 2 năm hoạt động tại Thái Lan, Bác Hồ đã đi qua nhiều địa phương. Cuối năm 1929, Người rời Thái Lan sang Hồng Kông và trở lại vào tháng 3.1930 để gặp gỡ cán bộ Việt Nam, sau đó đến Bangkok trước khi rời khỏi Thái Lan. Dù thời gian sống và hoạt động ở Thái Lan không dài, nhưng tình cảm chân thành và sự hỗ trợ của người dân Thái Lan đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với Bác Hồ. Người đặc biệt căn dặn kiều bào Việt Nam cần chăm chỉ lao động, sống trung thực, tuân thủ pháp luật và tôn trọng phong tục tập quán Thái Lan, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng đoàn kết giữa cộng đồng người Việt và người dân Thái địa phương, đồng thời khẳng định mối quan hệ gắn bó gần gũi giữa hai dân tộc.
Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem là chiếc cầu nối quan trọng gắn liền tình hữu nghị giữa Việt Nam và Thái Lan. Ngày nay, nhiều di tích tưởng niệm Người đã được xây dựng ở Thái Lan như các Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tỉnh Nakhon Phanom và tỉnh Udon Thani, Bảo tàng Bản Đông Hồ Chí Minh tại tỉnh Phichit. Đây là những cơ sở nhằm lưu giữ ký ức lịch sử và trở thành điểm đến du lịch nổi tiếng, nơi cộng đồng Việt kiều tổ chức các sự kiện văn hóa, giúp giáo dục thế hệ trẻ hai nước về tinh thần hữu nghị, hợp tác.
Nằm hai bên bờ sông Mê Kông, Việt Nam và Thái Lan là những quốc gia gắn bó với nền văn minh lúa nước, đều có những lễ hội truyền thống dựa trên nông nghiệp. Sự giao thoa này được thể hiện rõ nét tại vùng đông bắc Thái Lan, nơi điều kiện địa lý tương đồng đã tạo điều kiện cho các làn sóng di cư và trao đổi thương mại diễn ra tự nhiên từ hàng trăm năm trước.
Theo nghiên cứu của tiến sĩ Thanyathip Sripana, có những bằng chứng về sự có mặt của người Việt từ thời Ayutthaya vào thế kỷ 17. Sự di cư của người Việt sang Thái Lan kéo dài qua nhiều thế hệ và thời kỳ lịch sử bằng cả đường bộ và đường biển. Từ cuối thế kỷ 19, nhiều người Việt yêu nước đã di cư tới vùng đông bắc Thái Lan để xây dựng căn cứ địa kháng chiến chống Pháp.
Bà Thanyathip cho biết người Việt sinh sống ở đông bắc Thái Lan vẫn gìn giữ những bản sắc văn hóa Việt Nam như phong tục cưới hỏi, lễ tết, hội hè, trong khi những người Việt trở về Việt Nam những năm 60 của thế kỷ trước thường gặp nhau để ôn lại những kỷ niệm sống trên vùng Isan. Giờ đây, tại mỗi tỉnh của vùng đông bắc Thái Lan, vẫn còn những công trình tưởng niệm như tháp đồng hồ, tháp chuông, cổng đền, chùa… do kiều bào Việt Nam xây dựng nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với mảnh đất đã chở che, nuôi dưỡng họ.
Trong bài viết trên The Nation, các nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử thuộc Đại học Lampang Rajabhat (Thái Lan) nhận định cộng đồng người Việt và người gốc Việt tại Thái Lan hiện đóng vai trò cầu nối quan trọng trong quan hệ Việt - Thái trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội và ngoại giao nhân dân. Qua nhiều thế hệ, cộng đồng này đã hòa nhập sâu vào xã hội Thái Lan nhưng vẫn gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam.
Trong kinh tế, họ góp phần thúc đẩy thương mại, đầu tư và hợp tác song phương. Trong văn hóa, cộng đồng người Việt giúp bảo tồn và quảng bá văn hóa Việt Nam thông qua các lễ hội, dạy tiếng Việt và duy trì phong tục truyền thống.
Bên cạnh đó, người Việt tại Thái Lan tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tuân thủ pháp luật sở tại và có nhiều đóng góp trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, chính trị và văn hóa. Đặc biệt, cộng đồng này là cầu nối hữu nghị quan trọng, góp phần tăng cường giao lưu nhân dân và củng cố quan hệ truyền thống giữa hai nước trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Kể từ khi Alberta gia nhập liên bang Canada năm 1905, tâm lý bất mãn đối với các nhà lãnh đạo chính trị ở miền đông, cụ thể là ở Ontario và Quebec, đã nhiều lần thúc đẩy các phong trào ly khai bên lề trong suốt thế kỷ qua.
Đến thập niên 1980, sự phẫn nộ đối với chính quyền liên bang tại Ottawa tăng mạnh sau khi thủ tướng lúc đó là ông Pierre Trudeau triển khai kế hoạch mở rộng quyền kiểm soát đối với ngành dầu mỏ và Alberta đặc biệt bị ảnh hưởng. Và năm 2015, con trai ông Pierre Trudeau là ông Justin Trudeau đắc cử thủ tướng với chương trình nghị sự chú trọng ứng phó biến đổi khí hậu, và một lần nữa vấp phải phản đối từ nhiều người dân ở Alberta.
Trước việc nhóm ly khai tiến gần hơn bao giờ hết đến ngưỡng kích hoạt trưng cầu dân ý, cựu Phó thủ hiến Alberta Thomas Lukaszuk, người dẫn đầu phong trào "Alberta mãi là Canada" gọi những gì diễn ra là một dạng "phản quốc".
Ông Lukaszuk cho rằng phong trào ly khai gần đây được tiếp sức bởi Thủ hiến theo đường lối cánh hữu Danielle Smith, người muốn xích gần quan hệ với đảng Cộng hòa của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Theo ông, sự ủng hộ ngầm từ Washington, bao gồm một số cuộc gặp giữa phe ly khai với Bộ Ngoại giao Mỹ, cũng góp phần đẩy mạnh phong trào này trong vài tháng qua.
Hồi tháng 1, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cũng có phát ngôn "gây bão" khi nói rằng Alberta và Mỹ sẽ là "những đối tác tự nhiên".
Về khả năng Alberta ly khai khỏi Canada có thể được đưa ra bỏ phiếu trên toàn tỉnh bang sớm nhất là vào tháng 10 năm nay, nhưng cần tiến hành các bước xác thực về chữ ký kiến nghị.