Sở Xây dựng Hà Nội đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của HĐND về thí điểm quản lý, sử dụng vỉa hè, lòng đường để kinh doanh, phát triển kinh tế đô thị, kinh tế đêm. Hoàn Kiếm là một trong hai phường được đề xuất thí điểm giai đoạn đầu, với mức thuê dự kiến 45.000 đồng mỗi m2 một tháng.
Nhà mặt tiền của chị Thương nằm trên phố Hàng Bồ, phường Hoàn Kiếm, cạnh con ngõ hẹp với chục hộ gia đình sinh sống. Chính sách dự kiến cho thuê vỉa hè mở ra cơ hội kinh doanh trên “đất vàng” chỉ với 100.000-200.000 đồng mỗi tháng cho không gian 2-4 m2, nhưng chị băn khoăn “cơ hội này dành cho ai”.
“Tôi muốn nới thêm chỗ ngồi cho quán, người ở nơi khác tới thuê, họ lại tính mở bán bún, phở. Cơ quan chức năng giải quyết mâu thuẫn này ra sao?”, chị đặt vấn đề.
Tương tự, gia đình bà Xuân đang cho thuê cửa hàng bán đồ lưu niệm trên phố Hàng Gai. Bà ủng hộ việc thành phố cho thuê vỉa hè để kinh doanh, song băn khoăn về tiêu chí xác định hộ nào được thuê, kinh doanh mặt hàng gì, thế nào.
Bà Xuân lo ngại sẽ phát sinh cảnh “khách Tây vào mua đồ lưu niệm, phải bước qua gánh bún riêu”. Bởi lẽ, kinh doanh hàng ẩm thực vỉa hè sẽ phát sinh các công đoạn nấu nướng, dọn rửa, xả thải… dễ gây nguy cơ ô nhiễm và mất mỹ quan đường phố.
Ngoài phần diện tích trên vỉa hè, hộ kinh doanh cũng có thể được thuê một phần lòng đường để buôn bán, làm nơi đỗ xe. Theo chị Thương, thực tế không gian đỗ xe dễ nảy sinh xung đột kiểu “khách anh, khách tôi” giữa chủ cửa hàng mặt phố và người thuê vỉa hè. Chị cho hay quy ước “ngầm hiểu” của giới buôn bán là chủ xe không dừng, đỗ trước mặt bằng kinh doanh nếu không mua hàng.
“Một số người vẫn đỗ, với lập luận ‘vỉa hè này của nhà anh, chị à’. Người kinh doanh sẽ có tiếng nói hơn khi họ được thuê vỉa hè một cách chính thống”, chị Thương nêu.
Để tránh mâu thuẫn với người thuê vỉa hè, một số chủ nhà phố cho biết họ sẽ đăng ký thuê từ chính quyền, rồi cân nhắc nhượng lại. Việc này sẽ giúp họ kiểm soát tốt hơn người thuê lẫn hoạt động kinh doanh trước cửa nhà. Và việc hợp pháp hóa quyền thuê vỉa hè được kỳ vọng sẽ chấm dứt tình trạng đỗ xe tùy tiện trước cửa hàng.
Ở khía cạnh này, PGS. TS Lưu Đức Hải, nguyên Cục trưởng Phát triển Đô thị (Bộ Xây dựng), cho rằng nhà quản lý nên ưu tiên sinh kế tại chỗ. Bên cạnh cấp phép cho chính hộ dân sở hữu nhà mặt phố, cơ quan chức năng có thể cân nhắc cho phép hộ nghèo, lao động tự do kinh doanh lâu năm tại khu vực được thuê vỉa hè, lòng đường… tránh tình trạng đầu cơ không gian công cộng.
“Việc xác định người được thuê cần minh bạch, triệt tiêu cơ chế “xin – cho” và tạo sự đồng thuận trong xã hội”, ông góp ý.
Hộ kinh doanh chỉ được thuê vỉa hè có trả phí khi ít nhất 50% hộ gia đình, kinh doanh có quyền sử dụng nhà ở đồng thuận. Chị Thương cho rằng tỷ lệ trên khó đạt, bởi người kinh doanh nhìn vào lợi ích. Dù phí không cao, việc thêm một khoản chi chưa rõ hiệu quả sẽ khiến họ chần chừ. Thêm vào đó, nếu không đạt tỷ lệ đồng thuận cần thiết (50%), vỉa hè đơn giản là được lập lại trật tự cũ. “Việc không ai được thuê sẽ công bằng với tất cả, không còn tị nạnh hay tranh cãi”, chị nói.
Theo kết quả khảo sát hơn 3.000 độc giả của VnExpress đầu tuần này, hơn 60% người dân không ủng hộ việc cho thuê vỉa hè. PGS. TS Lưu Đức Hải cho rằng sự e ngại của người dân đến từ thực trạng “đâu lại vào đấy” sau mỗi đợt ra quân lập lại trật tự đô thị của nhà chức trách.
“Người dân không phản đối một đô thị sống động. Họ phản đối sự nhếch nhác, mất vệ sinh và vô trật tự”, ông Hải nhận định.
Ông đề xuất việc cho thuê cần đi kèm loạt tiêu chí. Trong đó, không gian an toàn cho người đi bộ là “lằn ranh đỏ”, không được phép nhân nhượng. Các tiêu chí như vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, mỹ quan đường phố cần được đảm bảo, như người thuê phải dọn dẹp sạch sẽ, trả lại mặt bằng thông thoáng ngay sau khi hết thời gian được phép hoạt động trong ngày.
Bên cạnh đó, nguyên Cục trưởng Phát triển Đô thị khuyến nghị cơ quan chức năng ứng dụng công nghệ trong quản lý cho thuê. Chẳng hạn, mỗi vị trí vỉa hè cho thuê có thể được cấp một mã QR công khai tại cửa hàng. Người dân hoặc lực lượng chức năng chỉ cần quét mã là biết rõ người thuê cùng thông tin diện tích, ngành hàng và thời hạn thuê kinh doanh.
Kết thúc tuần giao dịch từ ngày 25/5 đến ngày 30/5, giá vàng miếng SJC được các doanh nghiệp lớn niêm yết tại 156-159 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Đầu tuần, mặt hàng này được niêm yết tại 159-162 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).
Như vậy, sau một tuần giao dịch, giá cả 2 chiều mua và bán đều giảm 3 triệu đồng/lượng. Chênh lệch 2 chiều mua và bán là 3 triệu đồng/lượng.
Trước đó, mặt hàng này cũng từng “khởi động” năm 2026 quanh vùng giá 156-159 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra) - tức ngang với hiện tại rồi vọt tăng để lập đỉnh lịch sử 191,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra vào cuối tháng 1. Sau đó, giá vàng miếng liên tục có những đợt tăng - giảm mạnh lên tới cả triệu đồng trong tháng 2 và tháng 3 trước khi đi vào chu kỳ giảm sâu kéo dài từ tháng 4 tới nay.
Như vậy, so với mức đỉnh lịch sử mà mặt hàng này từng thiết lập được, vàng miếng đã giảm 32,3 triệu đồng/lượng, tương ứng mức giảm ròng 18%. Đồng thời, người mua vàng miếng ở vùng đỉnh lịch sử hiện đã lỗ tới hơn 35 triệu đồng/lượng do chênh lệch từ giá mua vào rồi bán ra.
Thị trường vàng thế giới tuần trước cũng chứng kiến những biến động mạnh khi căng thẳng Trung Đông, đồng USD, lợi suất trái phiếu Mỹ và lo ngại lạm phát liên tục giằng co tác động lên tâm lý giới đầu tư.
Đầu tuần, giá vàng thế giới tăng vọt nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn trước lo ngại xung đột Mỹ - Iran leo thang, có lúc vượt 4.580 USD/ounce. Tuy nhiên, đà tăng nhanh chóng suy yếu khi đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao.
Giữa tuần, giá vàng giảm sâu, mất mốc 4.500 USD/ounce và có lúc lùi về 4.365 USD/ounce trong bối cảnh lo ngại lạm phát gia tăng có thể khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) kéo dài chính sách lãi suất cao.
Cuối tuần, tín hiệu hạ nhiệt căng thẳng Mỹ - Iran cùng đà giảm của giá dầu và lợi suất trái phiếu Mỹ đã hỗ trợ vàng phục hồi. Chốt tuần, giá vàng giao ngay dao động quanh 4.540 USD/ounce.
Ông Marc Chandler, Giám đốc điều hành Bannockburn Global Forex, nhận định việc kéo dài lệnh ngừng bắn được xem là yếu tố tích cực đối với vàng vì nó loại bỏ một nguồn áp lực thanh khoản tiềm tàng từ các nước xuất khẩu dầu mỏ, đồng thời giảm nhu cầu huy động thanh khoản của một số quốc gia nhập khẩu dầu. Nếu giá vàng vượt được vùng 4.585 USD/ounce, triển vọng kỹ thuật sẽ trở nên tích cực hơn.
Cùng quan điểm, ông Rich Checkan, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Asset Strategies International, cho rằng nếu Mỹ và Iran tiến gần hơn tới một thỏa thuận ngừng bắn, giá vàng có thể tiếp tục tăng.
Trong khi đó, ông Naeem Aslam, Giám đốc đầu tư của Zaye Capital Markets, cho rằng vàng đang duy trì vị thế vững chắc nhưng vẫn rất nhạy cảm với các yếu tố tác động từ thị trường.
Ông nhận định: “Thị trường hiện phải cân bằng giữa 2 tín hiệu trái chiều: căng thẳng địa chính trị liên quan đến Iran giảm bớt, nhưng áp lực lạm phát vẫn ở mức cao”. Tuy nhiên, ông Aslam cho rằng yếu tố địa chính trị vẫn tiếp tục hỗ trợ giá vàng.
Ông Alex Kuptsikevich, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại FxPro, dự báo giá vàng sẽ giảm trong tuần tới.
Ông lưu ý rằng đợt phục hồi hiện nay từ vùng 4.400 USD/ounce lên trên 4.500 USD/ounce có sự khác biệt đáng kể so với đợt tăng hồi tháng 3. Vàng hiện không còn trong trạng thái quá bán nghiêm trọng và điều kiện thị trường nhìn chung đã cân bằng hơn nhiều. Nếu giá phá vỡ ngưỡng hiện tại, thị trường có thể mở ra khả năng giảm về vùng 4.000-4.100 USD/ounce.
Tuy nhiên, nếu áp lực bán gia tăng mạnh, mức giảm thậm chí có thể sâu hơn, xuống vùng 3.400 USD/ounce.
Trong khi đó, Lukman Otunuga, Giám đốc phân tích thị trường tại FXTM, cho rằng vàng hiện chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi đồng USD và kỳ vọng lãi suất hơn là các yếu tố địa chính trị.
“Trong bối cảnh dầu Brent đang hướng tới tháng giảm mạnh nhất kể từ năm 2020, đà suy yếu tiếp theo của thị trường dầu mỏ có thể giúp hạ nhiệt lo ngại lạm phát”, ông nêu ý kiến. Nếu điều đó kéo đồng USD đi xuống, vàng có thể nhận thêm động lực tăng giá trong tuần này.
Nghị định nhằm quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực.
Theo đó, nhiều ý kiến đánh giá việc sửa đổi nghị định là cần thiết nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn triển khai các dự án điện khí LNG, đồng thời bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Điện lực năm 2024.
Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là hoàn thiện cơ chế “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Theo Bộ Công Thương, trong quá trình triển khai các nghị định liên quan, nhiều chủ đầu tư đã phản ánh khó khăn trong việc thu xếp tài chính cho dự án.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cơ chế đảm bảo dòng tiền ổn định, trong khi các dự án điện khí LNG có tổng mức đầu tư lớn, phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Vì vậy các nhà đầu tư đã kiến nghị một số cơ chế như áp dụng giá điện hai thành phần, cơ chế bao tiêu sản lượng điện, kéo dài thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng, cũng như nâng tỉ lệ sản lượng điện tối thiểu lên mức cao hơn.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đề xuất nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời kéo dài thời gian áp dụng tối đa từ 10 năm lên 15 năm.
Theo lý giải của cơ quan soạn thảo, mức điều chỉnh này nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong việc thu xếp vốn, đồng thời vẫn bảo đảm cân đối lợi ích giữa các bên và phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện.
Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cho rằng mức 75% vẫn chưa đủ hấp dẫn để bảo đảm tính khả thi tài chính của dự án, đề xuất nâng lên 85-95% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20-25 năm.
Trước các đề xuất nâng mạnh tỉ lệ Qc, Bộ Công Thương cho biết đã tiến hành tính toán, đánh giá trên nhiều kịch bản phụ tải điện khác nhau, từ cơ sở đến cao và cao đặc biệt.
Kết quả cho thấy, nếu tỉ lệ Qc tăng lên từ 80% trở lên, có thể xuất hiện tình trạng “over contract”, tức sản lượng điện hợp đồng cao hơn nhu cầu huy động thực tế của hệ thống. Khi đó dù không phát điện, bên mua điện vẫn phải thanh toán theo hợp đồng, dẫn đến gia tăng chi phí toàn hệ thống.
Đặc biệt trong bối cảnh giá điện từ các nhà máy LNG thường cao hơn so với nhiều nguồn điện khác, việc tăng nghĩa vụ thanh toán hợp đồng có thể gây áp lực lên giá điện bình quân và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Vì vậy Bộ Công Thương đã đề xuất Qc chỉ tăng từ 65% lên 75%.
Bên cạnh đó, dự thảo tiếp tục giữ nguyên nguyên tắc để các bên mua và bán điện tự thỏa thuận mức sản lượng cụ thể trong hợp đồng, trên cơ sở tuân thủ mức tối thiểu theo quy định. Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương phát triển thị trường điện cạnh tranh và hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động kinh doanh.
Ngoài vấn đề sản lượng điện hợp đồng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đưa ra nhiều kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện (PPA), tỉ giá, lạm phát, cũng như cơ chế bao tiêu nhiên liệu LNG.
Một số ý kiến đề xuất cho phép chuyển ngang toàn bộ chi phí nhiên liệu vào giá điện, hoặc bổ sung cơ chế thanh toán trong trường hợp không huy động đủ sản lượng. Tuy nhiên Bộ Công Thương cho rằng các nội dung này không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định lần này.
"Làm nông kiểu nhỏ lẻ không thể đi xa", ông Võ Quan Huy - Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An, người có hơn nửa thế kỷ gắn bó với ruộng đồng, nói tại hội thảo "Nông nghiệp thông minh" ngày 17/4 ở TP HCM. Theo ông, vòng lặp "được mùa mất giá", trồng - chặt lặp đi lặp lại nhiều năm qua, suy cho cùng vẫn bắt nguồn từ quy mô sản xuất manh mún.
Từ trải nghiệm thực tế, ông Huy cho rằng khi đất đai bị chia cắt, mọi nỗ lực hiện đại hóa đều trở nên nửa vời. Hạ tầng không thể làm đồng bộ, cơ giới hóa bị đội chi phí, còn công nghệ nếu có cũng khó phát huy hiệu quả. Chỉ khi diện tích đất tích tụ đủ lớn, doanh nghiệp mới có thể đầu tư bài bản cho thủy lợi, tự động hóa và tối ưu chi phí.
Câu chuyện của ông Huy phản ánh một điểm nghẽn kéo dài của nông nghiệp Việt Nam. Áp lực từ thị trường xuất khẩu ngày càng lớn khi tiêu chuẩn liên tục siết chặt, buộc ngành không thể tiếp tục dựa vào cách làm cũ. Bài toán giờ đây không còn là tăng sản lượng, mà là tạo ra sản phẩm có thể bán được với giá trị cao và ổn định.
Trong quá trình đó, dữ liệu trở thành nền tảng. PGS TS Đỗ Văn Hùng ví dữ liệu là "hệ mạch" của nông nghiệp số, nhưng thực tế tại Việt Nam vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa có chuẩn chung. Khoảng trống này khiến nhiều mô hình ứng dụng công nghệ chưa thể phát huy hết hiệu quả, dù tiềm năng rất lớn.
Quay lại với bài toán của doanh nghiệp, ông Huy cho rằng nếu đất đai là "phần xác" thì khoa học công nghệ chính là "phần hồn". Từ giống cấy mô, hệ thống cảm biến IoT đến trí tuệ nhân tạo, công nghệ giúp kiểm soát quy trình sản xuất theo thời gian thực, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm và hạn chế sai số.
Khi chuyển sang quản trị bằng dữ liệu, cách làm nông thay đổi rõ rệt. Doanh nghiệp không còn sản xuất theo cảm tính mà tính toán từng khâu để tối ưu chi phí, giữ giá thành ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đây cũng là điều kiện để tạo ra giá trị lớn hơn thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
Xu hướng này đang lan sang nhiều lĩnh vực. Việc đưa AI, robot và các hệ thống tự động xuống đồng ruộng không chỉ giúp tiết kiệm nhân công, mà còn chuẩn hóa quy trình, giảm rủi ro và nâng cao năng suất. Trong chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản, công nghệ còn giúp kiểm soát chất lượng đồng đều - yếu tố then chốt khi tiếp cận các thị trường khó tính.
Dù vậy, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt nhiều lực cản. Đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng việc ứng dụng công nghệ cao chưa đồng đều, do thiếu nguồn lực, thể chế chưa hoàn thiện và đặc biệt là sản xuất còn nhỏ lẻ. Đây là vòng lặp khiến nông dân khó tiếp cận công nghệ, còn công nghệ lại khó lan rộng.
Trong bối cảnh đó, chuyển sang kinh tế nông nghiệp xanh, dựa trên dữ liệu và công nghệ, không còn là lựa chọn mà là hướng đi bắt buộc. Khi các thị trường lớn ngày càng siết tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc và chất lượng, những mô hình sản xuất manh mún sẽ dần mất lợi thế.
Nông nghiệp vẫn là trụ đỡ của nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu hơn 70 tỷ USD năm 2025. Nhưng để giữ được vị thế này, ngành không thể tiếp tục đi theo lối cũ. Khi đất đai được tích tụ, dữ liệu được kết nối và công nghệ trở thành nền tảng vận hành, câu chuyện "triệu USD" sẽ không còn là ngoại lệ, mà có thể trở thành hướng đi phổ biến của nông nghiệp Việt Nam.