Khi SpaceX lên sàn Nasdaq với mức định giá khoảng 1.770 tỷ USD, không chỉ các lãnh đạo hay kỹ sư công nghệ hưởng lợi. Hàng nghìn nhân viên từ thợ hàn, kỹ thuật viên đến công nhân sản xuất cũng bất ngờ trở thành những “triệu phú trên giấy”.
Juan Hernandez là một trong số đó. Năm 2015, khi gia nhập SpaceX ở vị trí thợ hàn, ông nhận mức lương 28 USD/giờ cùng khoản cổ phiếu trị giá 10.000 USD. Khi ấy, Hernandez không kỳ vọng quá nhiều bởi những công việc theo giờ trước đây chưa từng mang lại cho ông quyền sở hữu cổ phần doanh nghiệp.
Theo Fortune, trước thời điểm SpaceX giao dịch trên sàn, công ty định giá IPO ở mức 135 USD/cổ phiếu. Với 6.500 cổ phiếu nắm giữ, số cổ phần của Hernandez được định giá khoảng 880.000 USD.
Không chỉ kỹ sư, công nhân sản xuất cũng sở hữu cổ phần lớn
IPO SpaceX tạo khác biệt so với nhiều công ty công nghệ khi tài sản không chỉ tập trung vào nhóm sáng lập, lãnh đạo hay kỹ sư phần mềm. Theo phân tích của Hill.com được New York Times trích dẫn, khoảng 400 nhân viên SpaceX được dự báo sở hữu lượng cổ phần trị giá hơn 100 triệu USD.
Những người hưởng lợi gồm nhiều vị trí trực tiếp tạo ra sản phẩm như thợ hàn, thợ gia công, kỹ thuật viên và công nhân nhà máy – lực lượng tham gia chế tạo tên lửa và xây dựng cơ sở phóng.
Ruchir Shah, CEO của SkillCat, nền tảng đào tạo nghề trực tuyến, cho rằng việc nhóm lao động kỹ thuật được hưởng cổ phần phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của nhân lực sản xuất trong các doanh nghiệp công nghệ cao. “Những người này là một trong những lực lượng quan trọng nhất để SpaceX phát triển. Việc tìm được thợ hàn giỏi hay thợ gia công giỏi cũng khó, thậm chí còn khó hơn tìm một lập trình viên, bởi thị trường đang thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng”, Shah nói.
Theo bản cáo bạch IPO, SpaceX phân phối cổ phần cho nhân viên thông qua các chương trình quyền chọn cổ phiếu khi tuyển dụng, thăng chức, thưởng hiệu suất và chương trình mua cổ phiếu dành cho nhân viên. Khi còn là công ty tư nhân, SpaceX cũng tổ chức các đợt thanh khoản 2 lần mỗi năm, cho phép nhân viên bán một phần cổ phần đang nắm giữ.
Giá cổ phiếu giảm khiến tài sản triệu USD thay đổi nhanh chóng
Thương vụ IPO SpaceX huy động 75 tỷ USD, đưa công ty đạt mức định giá khoảng 1.770 tỷ USD, theo Nasdaq. Đây là thương vụ IPO lớn nhất lịch sử, gần gấp 3 lần kỷ lục trước đó của Saudi Aramco với 25,6 tỷ USD năm 2019. Nhưng diễn biến cổ phiếu sau IPO cho thấy giá trị tài sản của nhân viên có thể thay đổi rất nhanh.
Cổ phiếu SpaceX mở cửa ở mức 150 USD trong ngày giao dịch đầu tiên 12/6, tăng lên mức cao nhất 225,64 USD vào ngày 16/6 trước khi giảm trở lại. Theo dữ liệu từ TradingView, cổ phiếu SpaceX xuống mức thấp nhất lịch sử 145,07 USD vào ngày 10/7. Với Hernandez, 6.500 cổ phiếu từng có giá trị khoảng 1,05 triệu USD theo giá đóng cửa phiên đầu tiên 160,95 USD. Khi cổ phiếu giảm về mức đáy trên, giá trị số cổ phần này còn khoảng 942.500 USD.
Ngoài biến động giá, nhân viên SpaceX còn phải chờ các quy định mở khóa cổ phiếu trước khi có thể bán ra. Theo bản cáo bạch IPO, phần lớn người nội bộ chỉ được bán tối đa 20% lượng cổ phiếu sau báo cáo lợi nhuận quý đầu tiên. Các phần còn lại được mở khóa theo nhiều giai đoạn từ 70-135 ngày sau IPO, trong khi toàn bộ hạn chế còn lại được gỡ bỏ sau ngày thứ 180.
Bài toán mới của những người bất ngờ sở hữu tài sản lớn
Sự kiện SpaceX cũng đặt ra câu hỏi về cách quản lý tài sản khi người lao động trở thành cổ đông lớn của doanh nghiệp. Jason Schloetzer, phó giáo sư kế toán tại Trường Kinh doanh McDonough thuộc Đại học Georgetown, cho rằng cổ phần nhân viên tại SpaceX về bản chất là một khoản thù lao gắn với đầu tư mạo hiểm.
“Về bản chất, đây là khoản thù lao dựa trên vốn đầu tư mạo hiểm dành cho nhân viên của một công ty xây dựng tên lửa”, Schloetzer nói với Fortune. Theo ông, nhiều nhân viên tích lũy cổ phần thông qua chương trình mua cổ phiếu ưu đãi, tức sử dụng tiền lương để đầu tư vào công ty thay vì chỉ nhận cổ phần miễn phí.
Jamie Battmer, giám đốc đầu tư tại Creative Planning, nói với CNBC rằng cổ phiếu SpaceX chiếm tới 90% tổng tài sản ròng của nhiều nhân viên, khiến họ đối mặt với rủi ro tập trung lớn vào một loại tài sản.
Trong khi đó, nhà phân tích Nicolas Owens của Morningstar định giá hợp lý của SpaceX ở mức 63 USD/cổ phiếu, thấp hơn khoảng 53% so với giá IPO. Ông cho biết đánh giá này dựa trên các phép tính tài chính thay vì sự hoài nghi về doanh nghiệp.
Sự gia tăng tài sản nhanh chóng cũng tạo ra nhu cầu mới trong ngành quản lý tài sản. Hơn 100 nhân viên SpaceX đã phải hợp lực để đàm phán mức phí tư vấn ưu đãi, cho thấy áp lực quản lý khối tài sản khổng lồ từ “trên trời rơi xuống” là không hề nhỏ.
Ông Jason Van de Loo, CEO của Choreo, ví việc này giống như việc nhận một khoản thừa kế lớn trong chớp mắt. Trong khi đa số các nhà đầu tư phải mất hàng chục năm để tích lũy, thì nhân viên SpaceX đối mặt với thách thức phải đưa ra hàng loạt quyết định tài chính quan trọng chỉ trong thời gian ngắn.
Báo cáo giám sát đầu tiên của Cơ quan Hợp tác giữa các Cơ quan Quản lý Năng lượng EU (ACER) sau khi luật loại bỏ dần khí đốt Nga có hiệu lực cho thấy, lượng khí đốt Nga vào EU trong những tháng đầu năm 2026 không giảm như kỳ vọng mà còn tăng.
Cụ thể, nhập khẩu khí đốt qua đường ống tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) tăng 11%. Đáng chú ý, kể từ khi quy định mới bắt đầu được áp dụng vào tháng 3/2026, lượng LNG Nga nhập vào EU còn tăng mạnh hơn, lên tới 17%.
Theo lộ trình đã được thông qua, EU cấm ký mới các hợp đồng mua khí đốt với Nga từ tháng 3/2026. Tuy nhiên, các hợp đồng dài hạn ký trước thời điểm này vẫn được phép thực hiện đến khi hết hạn trong năm 2027 nhằm tránh gây xáo trộn thị trường.
Đối với LNG, EU sẽ áp dụng lệnh cấm hoàn toàn từ năm 2027. Riêng Hungary và Slovakia được hưởng cơ chế ngoại lệ, cho phép tiếp tục sử dụng khí đốt Nga trong trường hợp nguồn cung bị gián đoạn do hai quốc gia này không có đường biển và gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm nguồn thay thế.
Theo ACER, việc nhập khẩu tăng không phải dấu hiệu EU thay đổi chính sách, mà chủ yếu do các doanh nghiệp tranh thủ nhận hàng theo những hợp đồng còn hiệu lực trước khi các quy định siết chặt hơn được triển khai.
Hiện LNG Nga chủ yếu được đưa vào EU thông qua 4 quốc gia gồm Tây Ban Nha, Pháp, Bỉ và Hà Lan. Trong khi đó, khí đốt Nga vận chuyển bằng đường ống vẫn tập trung tại Hungary, Slovakia và Hy Lạp.
Tổng công suất của các hợp đồng còn được phép thực hiện vào khoảng 45-55 tỷ m3 mỗi năm, thấp hơn rất nhiều so với mức 150-157 tỷ m3 mà Nga từng xuất khẩu sang EU trước khi xung đột Ukraine bùng phát.
Theo ACER, các doanh nghiệp đang tận dụng tối đa khối lượng khí đốt còn được phép nhập khẩu trước khi các lệnh cấm có hiệu lực. Đồng thời, thị trường cũng phản ứng trước những bất ổn của nguồn cung LNG toàn cầu, đặc biệt sau khi xung đột tại Iran gây gián đoạn hoạt động giao dịch năng lượng ở Trung Đông.
Một yếu tố khác là lệnh cấm trung chuyển LNG Nga qua các cảng EU tới nước thứ ba. Trước đây, một phần LNG Nga chỉ đi qua các cảng châu Âu để xuất sang thị trường khác. Sau khi quy định này bị cấm, một phần lượng khí đã được giữ lại tiêu thụ ngay trong thị trường nội khối.
Ông Ronald Pinto, chuyên gia phân tích LNG tại Kpler, cũng cho biết nhập khẩu LNG Nga vào EU đã lập mức cao kỷ lục trong cả tháng 4 và tháng 5.
Theo ông, trong bối cảnh nguồn cung LNG toàn cầu gặp gián đoạn, các doanh nghiệp châu Âu đã tận dụng tối đa lượng LNG sẵn có từ các hợp đồng hiện hữu để đảm bảo an ninh năng lượng.
Dù vậy, ông Pinto lưu ý lượng khí đốt Nga qua đường ống đã giảm nhẹ sau đợt bảo trì đầu tháng 6, có thể phản ánh việc thị trường bắt đầu điều chỉnh trước thời hạn 17/6 - thời điểm EU cấm nhập khẩu khí đốt Nga theo các hợp đồng ngắn hạn.
Hiện khí đốt Nga chỉ còn đáp ứng khoảng 12% nhu cầu tiêu thụ của toàn EU, giảm mạnh so với giai đoạn trước xung đột Ukraine. Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc giữa các quốc gia thành viên rất khác nhau.
Hungary và Slovakia vẫn nhập khẩu phần lớn khí đốt từ Nga thông qua tuyến TurkStream. Trong năm 2024, khoảng 70-80% nhu cầu khí đốt của 2 quốc gia này đến từ Nga. Tại Hy Lạp, khí đốt Nga cũng chiếm khoảng 50-55% tổng lượng nhập khẩu.
Theo ACER, bài toán hiện nay không nằm ở tổng nguồn cung của EU mà ở khả năng vận chuyển khí đốt từ các nguồn thay thế tới các quốc gia Trung Âu không giáp biển.
Nhờ đa dạng hóa nguồn cung trong những năm qua, châu Âu đã ở vị thế vững vàng hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng năng lượng năm 2022. Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra một dạng phụ thuộc mới, khi EU ngày càng dựa nhiều hơn vào Mỹ, Algeria và Qatar.
Trong đó, nguồn cung từ Qatar đang chịu ảnh hưởng bởi tình hình địa chính trị tại Trung Đông. Đồng thời, các nhà cung cấp lớn cũng gây sức ép yêu cầu EU nới lỏng quy định về phát thải methane. Mỹ thậm chí cảnh báo dòng LNG sang châu Âu có thể suy giảm nếu các tiêu chuẩn môi trường hiện hành không được điều chỉnh.
Để giảm rủi ro, EU đang kỳ vọng bổ sung nguồn cung từ các dự án khai thác ngoài khơi Biển Đen của Romania, đồng thời mở rộng nhập khẩu thông qua Hành lang Khí đốt phía Nam từ Azerbaijan.
Theo ACER, tác động kinh tế thực sự của việc chấm dứt hoàn toàn khí đốt Nga sẽ chỉ được kiểm chứng vào năm 2027, khi EU chính thức cấm nhập khẩu LNG Nga từ tháng 1 và chấm dứt hoàn toàn khí đốt Nga qua đường ống từ tháng 9.
Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hà Nội Metro) vừa có báo cáo gửi Sở Xây dựng Hà Nội về tiến độ khảo sát, kiểm định chất lượng cũng như phương án sửa chữa, khắc phục các hạng mục có dấu hiệu mất an toàn trên tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông.
Theo Hà Nội Metro, sau cuộc họp với Sở Xây dựng ngày 12/6, doanh nghiệp đã làm việc với Viện Khoa học Công nghệ và Kinh tế xây dựng Hà Nội - đơn vị tư vấn được chỉ định thực hiện công tác kiểm định. Đến ngày 18/6, hai bên ký hợp đồng chính thức và Hà Nội Metro đã tạm ứng đầy đủ kinh phí từ nguồn tài chính của doanh nghiệp để bảo đảm quá trình triển khai không bị gián đoạn.
Trong các ngày 13/6 và 14/6, đơn vị tư vấn đã khảo sát sơ bộ toàn bộ 12 ga trên tuyến Cát Linh - Hà Đông. Ngày 18/6, tư vấn đã có báo cáo đánh giá an toàn ban đầu.
Tiếp đó, từ ngày 27 đến 30/6, đơn vị tư vấn tiếp tục khảo sát chuyên sâu tại toàn bộ 12 nhà ga, đồng thời xử lý ngay các vị trí xung yếu tại ga Yên Nghĩa và ga Văn Khê có dấu hiệu bong tróc, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn đối với người và phương tiện lưu thông phía dưới.
Trong quá trình tư vấn thực hiện khảo sát, kiểm định đánh giá chất lượng, Hà Nội Metro cho biết đã phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tối đa và tích cực trực tiếp đôn đốc tư vấn cần khẩn trương hơn nữa để sớm phát hành báo cáo kết quả trình cấp thẩm quyền đảm bảo tiến độ yêu cầu. Tuy nhiên, đây là công việc chuyên môn của tư vấn nên doanh nghiệp không thể làm gì hơn ngoài việc hỗ trợ, đôn đốc.
Do tiến độ thực hiện chậm hơn yêu cầu, ngày 29/6, Sở Xây dựng Hà Nội đã tổ chức họp kiểm điểm và ban hành Văn bản số 14186/SXD-ĐSĐT, yêu cầu đơn vị tư vấn hoàn thành báo cáo kiểm định, đồng thời đề xuất phương án xử lý gửi về Sở trước 16h ngày 1/7.
Hà Nội Metro ngay sau đó đã làm việc trực tiếp với lãnh đạo Viện Khoa học Công nghệ và Kinh tế xây dựng Hà Nội, đồng thời ban hành văn bản yêu cầu đơn vị tư vấn gửi báo cáo về doanh nghiệp trước 14h ngày 1/7 để kịp tổng hợp.
Tuy nhiên, đến 15h cùng ngày, Hà Nội Metro vẫn chưa nhận được báo cáo kết quả khảo sát, kiểm định chất lượng cũng như phương án xử lý từ đơn vị tư vấn. Doanh nghiệp cho biết đã nhiều lần liên hệ, trao đổi nhưng chưa nhận được phản hồi cụ thể.
Trước đó, một mảng vữa tại nhà ga Văn Khê bất ngờ rơi từ độ cao hàng chục mét xuống trúng xe buýt BRT đang lưu thông bên dưới, khiến hành khách trên xe và người đi đường được một phen hoảng hốt. UBND TP Hà Nội đã yêu cầu khẩn trương kiểm tra, rà soát toàn bộ các tuyến đường sắt đô thị đang khai thác, xử lý kịp thời các hạng mục hư hỏng, xuống cấp và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn.
Tính đến ngày 30-4, bức tranh lợi nhuận quý 1-2026 của ngành ngân hàng dần hé lộ khi nhiều nhà băng công bố báo cáo tài chính.
Đáng chú ý, nhóm đạt lợi nhuận trên 10.000 tỉ đồng tiếp tục mở rộng với sự góp mặt của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank, VCB) và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank, CTG).
Tại Vietcombank, lợi nhuận trước thuế quý 1 đạt gần 11.803 tỉ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ, bất chấp việc ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần đạt 17.651 tỉ đồng, tăng 29%, cùng với sự cải thiện ở mảng dịch vụ và hoạt động khác. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là chi phí dự phòng tăng gấp 7 lần, lên hơn 2.493 tỉ đồng, phản ánh áp lực chất lượng tài sản.
Tính đến cuối quý 1, tổng nợ xấu của Vietcombank tăng 12%, lên 10.868 tỉ đồng. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) chiếm tới 76% tổng nợ xấu, trong khi nợ nghi ngờ tăng đột biến gấp 7 lần đầu năm. Dù vậy, tỉ lệ nợ xấu trên dư nợ vẫn được kiểm soát ở mức 0,62%.
Trong khi đó VietinBank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận mạnh hơn, với lãi trước thuế đạt hơn 11.139 tỉ đồng, tăng 63% so với cùng kỳ. Hầu hết các mảng kinh doanh đều tăng trưởng, đặc biệt thu nhập lãi thuần tăng 25% lên 19.385 tỉ đồng, cùng với sự bứt phá của các nguồn thu ngoài lãi như kinh doanh ngoại hối và chứng khoán đầu tư.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của VietinBank giảm 5%, còn 7.700 tỉ đồng, qua đó hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng lợi nhuận. Đồng thời chất lượng tài sản được cải thiện khi tổng nợ xấu giảm 6% xuống còn 20.598 tỉ đồng, kéo tỉ lệ nợ xấu/dư nợ từ 1,1% xuống 1,02%.
Ngay phía sau là nhóm ngân hàng có lợi nhuận quanh ngưỡng 8.000-9.000 tỉ đồng, gồm Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) với lợi nhuận quý 1 đạt 9.628 tỉ đồng, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) báo lãi 8.870 tỉ đồng và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) lãi 8.572 tỉ đồng.
Ở chiều tích cực, một số ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận khá ấn tượng trong quý 1-2026, chủ yếu nhờ nền so sánh thấp của cùng kỳ và sự cải thiện ở cả nguồn thu lãi lẫn ngoài lãi.
Nổi bật trong nhóm là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 7.921 tỉ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ, nằm trong nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngân hàng quy mô lớn.
Ở nhóm quy mô vừa, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) là trường hợp tăng trưởng đột biến khi lợi nhuận trước thuế đạt 1.500 tỉ đồng, cao gấp gần 4 lần cùng kỳ.
Tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng tăng tới 136% lên 3.077 tỉ đồng, trong đó riêng lãi từ hoạt động khác đạt 1.355 tỉ đồng (gấp 7,9 lần) và lãi dịch vụ đạt 413 tỉ đồng (gấp 2,4 lần). Dù chi phí dự phòng tăng 151% lên 855 tỉ đồng, kết quả lợi nhuận vẫn tăng mạnh.
Một số ngân hàng quy mô nhỏ hơn cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao, như Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) với lợi nhuận khoảng 216 tỉ đồng, tăng 169%, hay Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex đạt 276 tỉ đồng, tăng 187% so với cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, không ít ngân hàng ghi nhận lợi nhuận sụt giảm trong quý 1-2026, chủ yếu do áp lực gia tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và sự suy yếu của nguồn thu cốt lõi.
Đáng chú ý, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) báo lãi trước thuế 2.106 tỉ đồng, giảm 43% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính đến từ chi phí dự phòng tăng vọt lên 2.023 tỉ đồng, cao gấp hơn 10 lần cùng kỳ, trong khi thu nhập lãi thuần cũng giảm 12%.
Dù vậy nếu loại trừ yếu tố dự phòng, nhiều mảng hoạt động của ngân hàng vẫn ghi nhận tăng trưởng tích cực như ngoại hối, chứng khoán đầu tư và hoạt động khác.
Tương tự, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế chỉ còn 1.388 tỉ đồng, giảm tới 68% so với cùng kỳ, là một trong những mức giảm sâu nhất toàn ngành.
Trong khi đó Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng báo lãi giảm mạnh 59%, xuống còn 338 tỉ đồng.