Với nhiều người, ngày mới chỉ thực sự bắt đầu sau một ly cà phê. Có người uống cà phê để tỉnh táo trước giờ làm việc, có người dùng như một thói quen khó bỏ sau bữa sáng, cũng có người uống thêm vào buổi chiều để chống lại cảm giác uể oải.
Cà phê chứa caffeine cùng nhiều hợp chất hoạt tính sinh học và chất chống oxy hóa. Khi dùng điều độ, thức uống này có thể giúp tăng sự tỉnh táo, cải thiện tốc độ phản ứng, hỗ trợ chuyển hóa và mang lại một số lợi ích cho sức khỏe tim mạch.
Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), với hầu hết người trưởng thành, khoảng 400mg caffeine mỗi ngày là mức không dẫn đến tác động tiêu cực. Tuy nhiên, độ nhạy với caffeine ở mỗi người rất khác nhau. Có người uống một ly vẫn ngủ bình thường, nhưng cũng có người chỉ cần nửa ly vào buổi chiều đã mất ngủ cả đêm.
Không nên uống cà phê tùy hứng
Theo Health Today, một trong những sai lầm phổ biến là uống cà phê quá muộn trong ngày. Nhiều người cho rằng chỉ cần không uống sát giờ ngủ là được, nhưng caffeine có thể lưu lại trong cơ thể nhiều giờ sau khi uống.
Vì vậy, một ly cà phê vào cuối buổi chiều có thể là nguyên nhân khiến bạn khó đi vào giấc ngủ, ngủ chập chờn hoặc thức dậy trong trạng thái mệt mỏi vào sáng hôm sau. Tình trạng này lặp lại trong thời gian dài có thể khiến cơ thể rơi vào vòng luẩn quẩn: thiếu ngủ, mệt mỏi, lại tiếp tục cần cà phê để tỉnh táo.
Nghiên cứu công bố trên European Heart Journal cho thấy, người uống cà phê vào buổi sáng có xu hướng giảm nguy cơ tử vong do tim mạch và tử vong nói chung so với nhóm uống rải rác cả ngày.
Điều này không có nghĩa cà phê là “thuốc bảo vệ tim mạch”, mà cho thấy thời điểm sử dụng có thể ảnh hưởng đến lợi ích sức khỏe. Với đa số người trưởng thành khỏe mạnh, uống cà phê vào buổi sáng hoặc trước đầu giờ chiều sẽ hợp lý hơn so với uống muộn.
Các chuyên gia cũng khuyến cáo không nên uống cà phê khi bụng đói, nhất là vào buổi sáng. Caffeine có thể kích thích tiết axit dạ dày. Với người có sẵn viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản hoặc hay đầy bụng, ợ nóng, thói quen này có thể làm triệu chứng nặng hơn.
Không ít người sau khi uống cà phê lúc đói cảm thấy cồn cào, run tay, hồi hộp, choáng váng hoặc buồn nôn. Đây là tín hiệu cơ thể đang phản ứng không tốt, không nên xem nhẹ.
Nhóm người cần đặc biệt thận trọng
Không phải ai cũng phù hợp với caffeine. Người bị rối loạn giấc ngủ, mất ngủ mạn tính, lo âu, dễ hồi hộp hoặc từng có cơn hoảng sợ nên hạn chế cà phê, đặc biệt là cà phê đặc.
Caffeine kích thích hệ thần kinh trung ương, giúp tỉnh táo nhưng cũng có thể làm tăng cảm giác bồn chồn, tim đập nhanh, khó thư giãn. Với người vốn đã căng thẳng, việc uống thêm nhiều cà phê đôi khi không giúp làm việc hiệu quả hơn, mà chỉ khiến cơ thể “gồng” trong trạng thái kích thích kéo dài.
Người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp hoặc rối loạn nhịp tim cũng nên theo dõi phản ứng sau khi uống. Nếu sau mỗi ly cà phê xuất hiện cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, đau tức ngực, chóng mặt hoặc huyết áp tăng rõ, cần giảm lượng dùng và trao đổi với bác sĩ.
Phụ nữ mang thai là nhóm cần chú ý hơn. Theo Trường Sản phụ khoa Mỹ, mức tiêu thụ caffeine dưới 200mg mỗi ngày thường được xem là mức vừa phải trong thai kỳ. Lượng caffeine này không chỉ đến từ cà phê mà còn có trong trà, nước tăng lực, chocolate và một số đồ uống khác.
Ngoài ra, người đang dùng thuốc điều trị cũng không nên chủ quan. Caffeine có thể ảnh hưởng đến tác dụng hoặc chuyển hóa của một số loại thuốc. Nếu có bệnh nền và uống cà phê hằng ngày, nên hỏi ý kiến bác sĩ để biết mức phù hợp.
Một vấn đề khác ít được để ý là lượng đường sữa trong cà phê. Cà phê đen nguyên chất gần như rất ít năng lượng. Tuy nhiên, khi thêm nhiều sữa đặc, đường, kem béo, siro hoặc topping, ly cà phê có thể trở thành nguồn nạp calo đáng kể.
Với người đang kiểm soát cân nặng, mỡ máu, gan nhiễm mỡ hoặc đường huyết, thói quen uống cà phê sữa ngọt mỗi ngày có thể âm thầm làm tăng tổng năng lượng nạp vào. Khi đó, thứ gây hại không chỉ là caffeine, mà là cách pha chế.
Để uống cà phê lành mạnh hơn, nên ưu tiên cà phê đen hoặc giảm dần lượng đường sữa. Có thể dùng thêm một ít sữa tươi không đường nếu khó uống cà phê đen. Một số người thích thêm quế, cacao nguyên chất hoặc gừng để tạo hương vị, nhưng cần dùng ở mức vừa phải, tránh xem đây là cách “bù” cho việc uống quá nhiều cà phê.
Ngày 2/4, các bác sĩ Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, cho biết cặp song sinh hồi phục thần kỳ, ngày xuất viện mỗi bé nặng 3 kg, sức khỏe ổn định.
Sản phụ nhập viện ở tuần thai 27 trong tình trạng cổ tử cung tụt, hở hình chữ Y, dấu hiệu đe dọa sinh non cực độ. Sau 13 ngày giữ thai, sản phụ chuyển dạ. Bé gái 950g và bé trai 900g, sức khỏe yếu, da mỏng như giấy và các cơ quan nội tạng đều chưa hoàn thiện.
Hai bé được chuyển thẳng lên Khoa Sơ sinh. Theo bác sĩ, phổi của hai bé chưa đủ trưởng thành để tự lấy oxy từ khí trời, phải bơm thuốc hỗ trợ nở phổi và thở máy liên tục. Bé gái mắc bệnh màng trong độ IV (mức độ nặng nhất) kèm rối loạn đông máu nặng phải truyền huyết tương tươi kèm thiếu máu và nhiễm trùng sơ sinh. Bé trai bị bệnh màng trong độ III và nhiễm trùng sớm. Cả hai không nuôi ăn bằng đường miệng mà phải duy trì sự sống qua từng giọt dịch truyền tĩnh mạch.
Sau hai tháng, hai bé tiến triển tích cực, được ghép mẹ. Bé gái nặng 1,8 kg; bé trai là 1,75 kg. Hiện, cả hai bé đều đã đạt mốc 3kg, hồng hào và khỏe mạnh.
Sinh non là trẻ chào đời trước 37 tuần. Khi trẻ sinh ra từ 28 đến trước 32 tuần được tính là mốc sinh rất non với nhiều nguy cơ về sức khỏe như hạ thân nhiệt, suy hô hấp, rối loạn chuyển hóa, nhiễm trùng sơ sinh, vàng da, thiếu máu, xuất huyết não, viêm ruột hoại tử, vấn đề về thính giác và thị giác...
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính trên toàn cầu có khoảng 15 triệu trẻ sinh non ra đời, tỷ lệ 1/10 trẻ sơ sinh. Đây được xem là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ dưới 5 tuổi. Khoảng một triệu trẻ sinh non tử vong do các biến chứng. Nhiều trẻ sống sót nhưng phải đối mặt với tình trạng khuyết tật suốt đời, bao gồm khuyết tật thần kinh, tim mạch, thị giác, thính giác.
Tại Việt Nam, các tài liệu báo cáo chung cho thấy tình trạng sinh non ngày càng tăng. Trung bình cả nước, tỷ lệ sinh non khoảng 7% ca sinh, mỗi năm khoảng 100.000-110.000 trẻ sinh non ra đời.
Trường hợp sinh non kèm nhiều bệnh lý, tai biến, càng đe dọa sức khỏe của hai mẹ con. Bác sĩ khuyến cáo thai phụ xuất hiện các dấu hiệu bất thường, nhất là trong ba tháng cuối thai kỳ, cần được theo dõi sát tại cơ sở y tế.
Cơ thể chúng ta có một hàng rào bảo vệ rất nghiêm ngặt, gọi là hệ miễn dịch. Khi vi rút Ebola này lọt được vào bên trong, nó không giống như những con vi rút thông thường khác.
Nó khôn lanh ở chỗ là tấn công ngay vào chính các tế bào bảo vệ của mình, rồi biến các tế bào đó thành "ổ đẻ" để nó nhân bản ra khắp cơ thể.
Sự nguy hiểm lớn nhất của nó là làm cho các mạch máu của mình bị viêm và tổn thương nặng. Khi mạch máu không còn nguyên vẹn, máu sẽ bị tràn ra ngoài, dẫn đến hiện tượng xuất huyết (chảy máu) bên trong cơ thể và các cơ quan nội tạng bị suy yếu đi, dẫn đến tử vong mà tỉ lệ lên tới 50%.
Nhiều người sợ rằng chỉ cần đứng gần, thở chung một bầu không khí là lây. Bà con yên tâm, vi rút Ebola không lây qua không khí như bệnh cúm hay COVID-19. Nó chỉ lây khi có sự "tiếp xúc trực tiếp", bao gồm:
Qua dịch cơ thể: Mình phải chạm trực tiếp (qua vết thương hở trên da, hoặc qua mắt, mũi, miệng) vào máu, chất nôn, mồ hôi, nước tiểu hoặc nước bọt của người đang đổ bệnh.
Qua đồ đạc bị nhiễm mầm bệnh: Dùng chung đồ dùng cá nhân, chăn màn, quần áo dính dịch tiết của người bệnh.
Qua việc xử lý người quá cố: Ở một số nơi bên châu Phi, người ta có tục lệ chạm tay vào thi thể người mất khi khâm liệm, đây là đường lây rất mạnh vì lúc này lượng vi rút trong cơ thể người mất là cao nhất.
Qua động vật hoang dã: Săn bắt, làm thịt hoặc ăn thịt những con vật sống trong rừng bị nhiễm bệnh như dơi, khỉ, vượn.
Khi vi rút vào người, nó không phát bệnh ngay mà từ từ ủ bệnh từ vài ngày cho đến 3 tuần. Lúc phát ra, bệnh tiến triển khá nhanh theo ba giai đoạn:
Giai đoạn khởi bệnh: Người bệnh sốt cao đột ngột, nhức đầu như búa bổ, đau nhức mình mẩy, ê ẩm các khớp xương và đau họng. Giai đoạn này rất dễ lầm với sốt xuất huyết hay sốt rét thông thường của mình.
Giai đoạn toàn phát: Bắt đầu có triệu chứng ói mửa, tiêu chảy liên tục làm cơ thể mất nước, khô kiệt.
Giai đoạn nặng: Trên da xuất hiện các vết bầm tím, người bệnh bị chảy máu cam, chảy máu chân răng hoặc ói ra máu, đi cầu ra máu.
Phòng ngừa trong tầm tay: Cứ "ăn chín, uống sôi", tuyệt đối không ăn thịt động vật hoang dã, thịt lạ không rõ nguồn. Giữ sạch đôi bàn tay. Không dùng chung đồ cá nhân. Hạn chế tiếp xúc nguồn nghi ngờ.
Áp lực công việc, kỳ vọng xã hội hay thiếu điểm tựa tâm lý đang khiến nhiều người trẻ rơi vào trạng thái kiệt sức, stress kéo dài. Thế nhưng thay vì tìm đến sự trợ giúp chăm sóc sức khỏe tâm thần, không ít người trẻ loay hoay với những cách tự "chữa lành".
Người trẻ cần chăm sóc sức khỏe tinh thần như thế nào cho tốt?
Sau gần một năm làm việc tại một công ty truyền thông, Linh (24 tuổi) quyết định nghỉ việc khi liên tục rơi vào trạng thái mất ngủ, lo âu vì áp lực deadline. Cô dành hai tháng đi du lịch, hạn chế tiếp xúc công việc với hy vọng "lấy lại năng lượng".
Thế nhưng khi quay trở lại, cảm giác mệt mỏi vẫn không biến mất. Thậm chí cô gái trẻ còn lo lắng hơn về tài chính và tương lai khi phải loay hoay đi tìm việc mới. "Khi mới nghỉ việc, tôi thấy vô cùng thoải mái như đã trút bỏ được "gánh nặng". Nhưng sau khi trở lại, đi xin việc tôi lại lo lắng bởi biết đâu tôi lại gặp công việc như trước đó", Linh bộc bạch.
Không riêng Linh, nhiều người trẻ hiện nay đang lựa chọn "rút lui" như một cách tự cứu mình. Trang (25 tuổi), nhân viên ngân hàng, từng xin nghỉ phép năm ngày để "thở" sau áp lực doanh số. Nhưng khi trở lại, khối lượng công việc dồn lại khiến cô càng căng thẳng hơn. Thậm chí việc nghỉ phép quá nhiều khiến cô bị doanh nghiệp đánh giá thiếu trách nhiệm, ảnh hưởng đến sự phát triển công việc sau này.
Với những người trẻ, khi "chuyển giao" từ môi trường học tập sang môi trường làm việc không phải điều dễ dàng. Đặc biệt trong môi trường công sở, những nhân viên văn phòng trong mọi lĩnh vực đều phải chịu áp lực về tiến độ công việc, chỉ tiêu doanh số… khiến họ vừa chịu áp lực về thể chất vừa âm thầm tác động lên sức khỏe tâm thần.
Thế nhưng điều đáng lo ngại là không phải ai gặp vấn đề tâm lý cũng dễ nhận ra. Nhiều người cho rằng đó chỉ là cảm xúc nhất thời, công việc không phù hợp… và tự tìm cách "chữa lành". Từ việc nghỉ phép, nghỉ việc, đi du lịch… đến tham gia những khóa học "chữa lành" mà trì hoãn việc tìm đến sự hỗ trợ của chuyên gia, chăm sóc sức khỏe tâm thần.
Thực tế tại nhiều doanh nghiệp hiện nay, các chương trình chăm sóc sức khỏe đối với nhân viên vẫn chủ yếu tập trung vào khám sức khỏe thể chất định kỳ theo quy định của Luật Lao động. Trong khi đó sức khỏe tâm thần gần như chưa được chú ý đúng mức.
Theo số liệu của Bộ Y tế, tỉ lệ mắc các bệnh rối loạn tâm thần phổ biến như trầm cảm, lo âu, rối loạn cảm xúc... tại nước ta chiếm gần 15% dân số nhưng phần lớn không được điều trị.
Theo bác sĩ Lê Công Thiện - Viện sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai, đa phần người lao động vẫn chú trọng đến sức khỏe thể chất hơn sức khỏe tâm thần. Trong khi đó áp lực công việc, học tập và cuộc sống đang khiến các vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng, đặc biệt ở người trẻ. "Nếu các vấn đề sức khỏe tâm thần không được quan tâm đúng mức sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động, giảm khả năng tạo ra của cải vật chất cho xã hội", bác sĩ Thiện chia sẻ.
Trước thực trạng đó, mới đây Bộ Y tế đã lấy ý kiến dự thảo thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Trong đó, thông tư đề xuất đưa các yếu tố nguy cơ như áp lực học tập, áp lực công việc, stress kéo dài... vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần. Dự thảo cũng đề xuất việc giám sát sẽ được triển khai theo hai hình thức chính gồm giám sát thường xuyên và điều tra định kỳ. Theo kế hoạch, cứ năm năm sẽ tổ chức các cuộc điều tra quy mô quốc gia và chuyên đề, điều tra chuyên đề định kỳ về sức khỏe tâm thần…
Hoạt động giám sát không chỉ diễn ra tại các cơ sở y tế mà còn thực hiện tại các cơ sở giáo dục như trường học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Giám sát tại nơi làm việc, khu công nghiệp và các cơ sở lao động tập trung nhằm phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động. Theo các chuyên gia, đây là bước đi cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh áp lực công việc ngày càng tăng cao.
Để phòng ngừa các rối loạn tâm thần liên quan đến áp lực công việc, chuyên gia tâm lý Nguyễn Ngọc Hoàng - thành viên Hội Tâm lý học Việt Nam - cho rằng mỗi cá nhân không chỉ cần nhận diện sớm căng thẳng mà quan trọng hơn là phải chủ động điều chỉnh cách làm việc và lối sống hằng ngày.
Trước hết cần thiết lập ranh giới giữa công việc và đời sống cá nhân. Theo chuyên gia, nhiều người trẻ hiện nay rơi vào trạng thái "luôn trong giờ làm việc" do thói quen kiểm tra email, tin nhắn ngoài giờ. Điều này khiến não bộ không có thời gian phục hồi, dẫn đến căng thẳng kéo dài.
Việc đặt ra những nguyên tắc rõ ràng, như không xử lý công việc sau một khung giờ nhất định, tắt thông báo công việc khi nghỉ ngơi giúp tạo khoảng "ngắt kết nối" cần thiết để tái tạo năng lượng tinh thần.
Bên cạnh đó, người lao động cũng cần phân bổ thời gian hợp lý giữa làm việc và nghỉ ngơi. Làm việc liên tục trong thời gian dài không đồng nghĩa với hiệu quả cao, ngược lại còn làm suy giảm khả năng tập trung và tăng nguy cơ kiệt sức. Vì vậy nên chia nhỏ thời gian làm việc, xen kẽ các khoảng nghỉ ngắn để não bộ được "reset", từ đó duy trì hiệu suất ổn định hơn.
Người lao động cũng cần học cách từ chối những yêu cầu vượt quá khả năng. Trong môi trường công sở, nhiều người trẻ có xu hướng nhận thêm việc để thể hiện năng lực hoặc vì ngại từ chối. Tuy nhiên việc ôm đồm quá nhiều nhiệm vụ dễ dẫn đến quá tải, mất kiểm soát và gia tăng áp lực. Việc từ chối một cách khéo léo, có lý do rõ ràng không chỉ giúp cá nhân giữ được cân bằng mà còn thể hiện sự chuyên nghiệp trong quản lý công việc.
Một giải pháp khác mà chuyên gia này khuyến cáo là hãy chia nhỏ mục tiêu công việc. Khi đối diện với khối lượng công việc lớn, cá nhân dễ rơi vào trạng thái áp lực, lo âu. Việc tách mục tiêu lớn thành các bước nhỏ, cụ thể sẽ giúp tạo cảm giác kiểm soát, đồng thời mỗi lần hoàn thành một phần việc cũng mang lại động lực tích cực, giảm gánh nặng tâm lý.