Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) mới đây đã điều chỉnh giảm mạnh lãi suất tiền gửi trực tuyến ở nhiều kỳ hạn 1-12 tháng trên ứng dụng ACB One.
Theo biểu lãi suất mới, kỳ hạn 1-3 tháng chỉ còn 4,5-4,7%/năm, thay vì mức tối đa 4,75%/năm trước đó. Lãi suất kỳ hạn 6-12 tháng giảm xuống còn 4,9-5,7%/năm. Biểu lãi suất này áp dụng cho tiền gửi online dưới 200 triệu đồng, trong khi khách gửi số tiền lớn được cộng thêm lãi suất theo bậc thang.
Với khoản tiền gửi từ 5 tỷ đồng trở lên, lãi suất online cao nhất ACB niêm yết là 5,9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Trong khi đó, lãi suất tại quầy phổ biến ở mức 4-5,4%/năm, còn mức 7%/năm chỉ áp dụng cho khách hàng gửi từ 200 tỷ đồng kỳ hạn 13 tháng.
Từ đầu tháng đến nay, thị trường ghi nhận một số ngân hàng điều chỉnh lãi suất gửi tiền như Sacombank, Saigonbank, OCB và ACB. Trong đó, Saigonbank giảm lãi suất ở hầu hết các kỳ hạn nhưng tăng lãi suất kỳ hạn 13 tháng lên 7,9%/năm; Sacombank sau khi tăng lãi suất đã điều chỉnh giảm trở lại; còn OCB tăng lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 1-36 tháng.
Theo biểu lãi suất các ngân hàng niêm yết ngày 21/5, ở nhóm kỳ hạn ngắn 1 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến tại các ngân hàng hiện dao động khá mạnh, từ 1,6%/năm đến 4,75%/năm.
Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank cùng niêm yết mức 4,75%/năm. Đây cũng là mức lãi suất cao phổ biến ở nhiều ngân hàng tư nhân như OCB, Sacombank hay MSB. Trong khi đó, SCB tiếp tục duy trì mức thấp nhất thị trường với chỉ 1,6%/năm.
Ở kỳ hạn 3 tháng, xu hướng tương tự tiếp tục được duy trì khi nhiều ngân hàng niêm yết quanh vùng 4,65-4,75%/năm. Các ngân hàng như LPBank, PGBank, NCB hay OCB đều áp dụng mức 4,75%/năm. Riêng ACB sau đợt điều chỉnh gần đây chỉ còn niêm yết 4,7%/năm cho kỳ hạn này. SCB tiếp tục nằm ở nhóm thấp nhất với 1,9%/năm.
Bước sang kỳ hạn 6 tháng, chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng bắt đầu nới rộng. Dẫn đầu thị trường là MBV với mức 7,2%/năm, theo sau là LPBank và PGBank cùng niêm yết 6,9%/năm, trong khi nhóm Big 4 dao động quanh 5,8-6,6%/năm.
Tại kỳ hạn 9 tháng, cuộc đua lãi suất tiếp tục tập trung ở nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ. MBV vẫn dẫn đầu với mức 7,2%/năm, tiếp đến là LPBank và PGBank cùng ở mức 6,9%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, VietinBank và Vietcombank đồng loạt niêm yết 6,6%/năm. Một số ngân hàng như HDBank hay KienlongBank giữ lãi suất quanh vùng 4,8-5,2%/năm.
Ở kỳ hạn 12 tháng, mức lãi suất từ 6,5-7%/năm đang trở nên phổ biến hơn tại nhiều ngân hàng tư nhân. MBV tiếp tục dẫn đầu với 7,2%/năm, trong khi LPBank, PGBank và VIB cùng niêm yết 7%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh giữ mặt bằng quanh 5,9-6,8%/năm.
Với kỳ hạn dài 18 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nghiêng về nhóm ngân hàng tư nhân quy mô nhỏ và vừa. MBV giữ vị trí cao nhất với 7,2%/năm, trong khi LPBank niêm yết 7,1%/năm. Nhóm Big 4 duy trì quanh 5,9-6,8%/năm. Một số ngân hàng như Techcombank, TPBank hay VPBank áp dụng lãi suất từ 5,85-6,25%/năm cho kỳ hạn này. Trong khi đó, SCB vẫn duy trì mức thấp nhất thị trường với 3,9%/năm.
Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Đại Quang Minh vừa tiếp tục nâng vốn điều lệ từ 26.100 tỷ đồng lên 32.000 tỷ đồng, tương đương mức tăng hơn 22% so với trước.
Toàn bộ vốn điều lệ được góp bằng đồng Việt Nam, với mệnh giá mỗi cổ phần giữ nguyên ở mức 10.000 đồng. Cơ cấu nguồn vốn vẫn là 100% vốn tư nhân, không có vốn ngân sách nhà nước hay vốn nước ngoài.
Đây là lần thứ 4 kể từ đầu năm 2026, công ty này tăng vốn điều lệ. Gần nhất vào ngày 14/4, doanh nghiệp gây chú ý khi nâng vốn lên 26.100 tỷ đồng (tương đương gần 1 tỷ USD).
Trước đó, doanh nghiệp tham gia làm dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đã hai lần điều chỉnh quy mô vốn, từ 18.200 tỷ đồng lên 19.158 tỷ đồng (ngày 16/1), rồi tăng tiếp lên 19.388 tỷ đồng vào tháng 3.
Trong năm 2025, công ty này đã 3 lần điều chỉnh vốn điều lệ. Cụ thể, cuối tháng 1/2025 vốn tăng từ 10.920 tỷ đồng lên 14.520 tỷ đồng; đến tháng 6/2025 đạt 16.620 tỷ đồng và tiếp tục lên 18.200 tỷ đồng vào tháng 7/2025.
Đại Quang Minh được thành lập năm 2011 để triển khai dự án Khu đô thị Sala với quy mô 257ha tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm (TPHCM). Hiện nay, doanh nghiệp giữ vai trò là một trong những đơn vị nòng cốt thuộc Thaco do tỷ phú Trần Bá Dương đứng đầu, phụ trách mảng phát triển bất động sản và hạ tầng của tập đoàn.
Gần đây, ông Trần Đăng Khoa (còn được gọi là Khoa "Khàn") bất ngờ xuất hiện với vai trò Chủ tịch HĐQT Đại Quang Minh, thay cho ông Trần Bá Dương đã đảm nhận vị trí này nhiều năm qua. Hiện, đây là đơn vị đứng đầu liên danh đề xuất siêu dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Trong hồ sơ đề xuất chấp thuận chủ trương trình UBND TP Hà Nội vào tháng 4, liên danh nhà đầu tư chỉ còn 3 doanh nghiệp gồm Địa ốc Đại Quang Minh, Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải (Thaco) và Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát.
Ở đề xuất mới, đáng chú ý liên danh nhà đầu tư muốn hoán đổi 12 khu đất có tổng diện tích hơn 5.073ha. Trong đó, quỹ đất đối ứng tại các khu đất phát triển đô thị nằm trong phạm vi dự án hơn 2.800ha.
Giá trị quỹ đất thanh toán sơ bộ dự kiến 420.950 tỷ đồng nhưng tổng mức đầu tư dự án khoảng 714.256 tỷ đồng (tương đương mức chênh lệch hơn 293.300 tỷ đồng). Do đó, liên danh nhà đầu tư đề xuất bổ sung quỹ đất đối ứng nằm ngoài phạm vi phân khu sông Hồng khoảng 2.265ha thuộc các xã Ô Diên, Liên Minh và Đan Phượng (Hà Nội).
Về quy mô, theo đề xuất của liên danh, dự án có tổng diện tích nghiên cứu khoảng 11.481ha, trải dọc hai bên sông Hồng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Dự án được đề xuất gồm 17 hợp phần, trong đó có hai nhóm chính là trục đại lộ cảnh quan và các khu chức năng phụ trợ.
Cũng trong tháng 5, Đại Quang Minh đồng thời được chấp thuận thay đổi ngành nghề kinh doanh, nâng tổng số lĩnh vực hoạt động từ 52 lên 83 ngành, bổ sung thêm hơn 30 nhóm ngành mới.
Chính phủ ban hành nghị quyết về cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Việc cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Cắt giảm những ngành, nghề không thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật Đầu tư.
- Cắt giảm những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh có thể nghiên cứu quản lý thông qua tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề để quản lý theo phương thức hậu kiểm.
- Cắt giảm, sửa đổi những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh không rõ ràng hoặc có tính chất tương tự nhau, đã được kiểm soát thông qua hoạt động quản lý khác hoặc những ngành, nghề mà từ khi được quy định cho đến nay vẫn chưa ban hành được điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc đã không còn quy định điều kiện đầu tư kinh doanh.
Nghị quyết của Chính phủ cũng ban hành danh mục 142 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Trước đó, phụ lục IV Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định có 198 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề đối với những ngành, nghề được cắt giảm tại nghị quyết này (trong trường hợp cần thiết).
Từ đó xây dựng quy trình, thủ tục để quản lý theo phương thức hậu kiểm trước ngày 1-7. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm phối hợp với các bộ, ngành để ban hành các quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của nghị quyết này.
Việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề trong trường hợp này được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức, người tham gia xây dựng, ban hành nghị quyết này được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo quy định tại khoản 7 Điều 6 Nghị quyết số 206/2025/QH15.
Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư đã được cắt giảm theo quy định của nghị quyết này, tổ chức, cá nhân được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép hoặc hình thức văn bản cho phép đầu tư, kinh doanh khác đã cấp đến hết thời hạn của văn bản, giấy tờ đó.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2026 đến hết ngày 28-2-2027.
Thông tin được ông Đỗ Văn Năm, thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), chia sẻ tại hội thảo "An ninh năng lượng đến năm 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng" do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) tổ chức ngày 17/7 tại TP HCM.
Đơn vị hiện cung cấp điện cho 17 tỉnh, thành phía Bắc (trừ Hà Nội), phục vụ khoảng 11,6 triệu khách hàng và có tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm, công suất phụ tải lớn nhất trong 5 tổng công ty phân phối điện của EVN.
Năm 2025, điện thương phẩm đạt khoảng 106 tỷ kWh, tăng 7,31%. Dự kiến đến năm 2030, sản lượng sẽ vượt 160 tỷ kWh, công suất phụ tải cực đại khoảng 32.800 MW. Riêng cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm nay, phụ tải khu vực đã lên 20.400 MW, có thời điểm chạm 21.500 MW. Vì vậy, mỗi năm miền Bắc cần bổ sung khoảng 1.800-2.000 MW công suất phủ đỉnh để đáp ứng nhu cầu vào giờ cao điểm.
Theo ông Năm, động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự mở rộng nhanh của các khu công nghiệp và dòng vốn FDI vào các trung tâm công nghiệp phía Bắc. Sự hiện diện của các tập đoàn sản xuất lớn như Samsung, Toyota, Honda cùng hệ thống doanh nghiệp vệ tinh đang kéo nhu cầu điện công nghiệp tăng nhanh. Hiện nhóm công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 60-65% điện thương phẩm của khu vực, trong khi điện sinh hoạt chiếm khoảng 30-31%.
Áp lực không chỉ đến từ sản lượng điện mà còn từ thời gian xuất hiện phụ tải cao điểm. Trong các đợt nắng nóng, nhu cầu thường tăng mạnh từ khoảng 17h30 đến 22h, tạo sức ép lên cả hệ thống truyền tải và phân phối.
Để đáp ứng tốc độ tăng trưởng này, EVNNPC đã triển khai 537 dự án lưới điện 110 kV, bổ sung khoảng 21.000 MVA công suất trạm biến áp và xây dựng gần 6.800 km đường dây.
Bên cạnh mở rộng lưới điện, đơn vị đang tăng cường các giải pháp giảm áp lực vào giờ cao điểm. Chương trình điều chỉnh phụ tải (Demand Response - DR) được triển khai với các khách hàng lớn trong lĩnh vực xi măng, thép, điện tử nhằm dịch chuyển sản xuất sang thời điểm phù hợp hơn. Trong các đợt nắng nóng gần đây, giải pháp này giúp giảm 800-1.200 MW phụ tải cho hệ thống.
EVNNPC cũng đang lắp đặt hơn 500 MW hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) tại các trạm biến áp 110 kV, dự kiến vận hành vào cuối tháng 10, đồng thời khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại các khu công nghiệp.
Theo ông Trần Quốc Tâm, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP HCM, BESS là một trong những giải pháp quan trọng giúp tích trữ điện khi dư thừa, bổ sung công suất vào giờ cao điểm và tăng tính linh hoạt cho hệ thống khi tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo ngày càng tăng.
Tuy nhiên, theo ông Năm, đầu tư hạ tầng sẽ khó đáp ứng kịp nhu cầu nếu các điểm nghẽn về cơ chế chưa được tháo gỡ. Một số dự án điện khí LNG, nhiệt điện và lưới truyền tải vẫn mất nhiều thời gian chuẩn bị do liên quan đồng thời đến nhiều quy định pháp luật.
Ông kiến nghị sớm hoàn thiện khung pháp lý để rút ngắn thời gian triển khai dự án, đồng thời tiếp tục cải cách thị trường điện theo hướng phân định rõ vai trò giữa phát điện, truyền tải và phân phối. Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng truyền tải, trong khi khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển nguồn điện và bán lẻ điện.
Ở góc độ vĩ mô, PGS TS Võ Xuân Vinh cho rằng Việt Nam đang đối mặt với "thách thức kép" khi vừa phải bảo đảm năng lượng cho tăng trưởng kinh tế, vừa thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, trong bối cảnh hơn một nửa sản lượng điện hiện vẫn đến từ nhiên liệu hóa thạch.
Theo ông Vinh, sức ép lên hệ thống năng lượng sẽ tiếp tục gia tăng bởi chuyển dịch năng lượng, biến động địa chính trị và sự phát triển nhanh của AI, trung tâm dữ liệu. Đến năm 2030, nhu cầu điện Việt Nam có thể tiến gần 1.000 tỷ kWh, trong khi một trung tâm dữ liệu quy mô lớn có thể tiêu thụ lượng điện tương đương một tỉnh.
Ông cho rằng bài toán an ninh năng lượng không chỉ nằm ở việc phát triển thêm nguồn điện mà còn cần đầu tư đồng bộ vào lưới truyền tải, hệ thống lưu trữ, cải cách thị trường điện và huy động hiệu quả nguồn lực xã hội.
Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng nhanh từ công nghiệp, FDI, AI và các trung tâm dữ liệu, bảo đảm nguồn cung sẽ không còn là nhiệm vụ riêng của ngành điện mà đòi hỏi sự phối hợp từ cơ chế chính sách, đầu tư hạ tầng đến đổi mới công nghệ.