Tôi không đi cưới một người bạn cũ và cũng không gửi tiền mừng. Tôi đã không đi và lần này, tôi cũng không gửi tiền mừng. Quyết định đó không đến ngay, tôi để tấm thiệp cưới trên bàn làm việc mấy ngày liền, thi thoảng cầm lên rồi lại đặt xuống.
Tôi cũng không cân nhắc chuyện nên gửi bao nhiêu cho phải, mà vì lần đầu tiên tôi thấy mình không muốn làm theo cái cách vẫn quen làm, hễ được mời thì đi, không đi thì gửi.
Thiệp cưới đến vào một buổi chiều giữa tuần. Tôi nhớ lúc mở ra, mình đã phải nhìn lại cái tên thêm một lần nữa. Quen, nhưng không còn cảm giác gần, chúng tôi từng học chung đại học, từng có những buổi ngồi cà phê đến tối muộn chỉ để nói những chuyện chẳng đầu chẳng cuối.
Có lần hai đứa ngồi dưới mưa trước cổng ký túc xá chỉ vì không ai mang áo mưa, vậy mà vẫn thấy vui. Nhưng những chuyện như thế, đã cách đây rất lâu. Ra trường, mỗi người một hướng, ban đầu còn nhắn tin hỏi han, rồi dần dần chỉ còn chúc Tết, rồi đến cả chúc Tết cũng mất.
Nếu bây giờ vô tình gặp ngoài đường, có lẽ chúng tôi sẽ chỉ gật đầu, cười một cái cho phải phép. Vậy mà giờ đây, tôi lại có mặt trong danh sách khách mời của một ngày rất quan trọng.
Cầm tấm thiệp trên tay, tôi không thấy vui theo kiểu khi nhận tin cưới của một người thân quen. Tôi tự hỏi rằng nếu mình đến, mình sẽ ngồi ở đâu, nói chuyện với ai, và quan trọng hơn mình có thực sự thuộc về không khí đó không?
Mấy ngày sau đó, tôi hỏi ý kiến vài người. Gần như ai cũng có một câu trả lời rằng: “Dù sao cũng từng quen, nên đi cho phải phép” hoặc “Không đi thì gửi phong bì, coi như giữ mối”.
Nghe xong, tôi lại càng thấy khó xử. Vì tất cả đều hợp lý nhưng không có cái nào giống cảm giác thật của mình. Tôi từng đi nhiều đám cưới như vậy rồi. Ngồi cùng một bàn toàn người lạ, hỏi nhau vài câu xã giao, cười cho xong chuyện.
Đến lúc ra về, thậm chí không nhớ rõ mình đã chúc cô dâu chú rể câu gì. Có lần tôi đứng trước họ, nói vài lời mà chính mình cũng thấy nó rỗng. Và điều lạ là, lúc đó tôi vẫn nghĩ mình đang làm đúng.
Còn chuyện tiền mừng, nó không hẳn là sự tự nguyện, mà giống một cách để mình không bị áy náy, hoặc tệ hơn, không bị người khác đánh giá. Đi thì phải có phong bì, không đi thì càng nên gửi.
Nhưng lần này thì tôi tự hỏi nếu một mối quan hệ đã xa đến mức tôi không thực sự muốn có mặt trong ngày cưới của họ, thì việc gửi tiền có còn ý nghĩa gì không? Nó là một lời chúc, hay chỉ là một cách để tôi thấy mình “cũng không đến mức tệ?”. Câu hỏi đó khiến tôi khó chịu vì tôi không có câu trả lời ngay.
Cuối cùng, tôi quyết định không đi và cũng không gửi tiền mừng. Tôi chỉ nhắn vài câu chúc đơn giản, đủ để người nhận hiểu rằng tôi vẫn nhớ mối quan hệ, nhưng không còn ở trong vòng tròn gần gũi nữa. Gửi xong, tôi cũng không thấy nhẹ nhõm ngay. Vẫn có một chút lấn cấn, một chút sợ bị nghĩ là vô tâm.
Nhưng đồng thời, tôi nhận ra mình đang thành thật hơn với chính mình. Không phải lời mời nào cũng cần một sự có mặt và cũng không phải mối quan hệ nào cũng cần được giữ lại bằng những khoản tiền. Có những người từng rất quan trọng, nhưng chỉ trong một giai đoạn nào đó.
Sau này, mỗi người đi tiếp cuộc sống của mình, không ai sai, chỉ là không còn chung đường nữa. Có thể, ở góc nhìn của người khác, lựa chọn của tôi là thiếu tinh tế. Tôi cũng không chắc mình đúng. Nhưng ít nhất, lần này, tôi không còn cảm giác mình đang tham dự một điều gì đó chỉ vì nghĩa vụ. Với những người thật sự quan trọng, mình sẽ tự biết cách có mặt, không cần phải đắn đo nhiều đến thế.
Nhiều năm qua, người Việt vẫn có một "thước đo giá trị" rất đặc biệt với vàng. Từ giá nhà, giá đất, xe cộ cho đến một chiếc tivi hay chiếc nhẫn cưới, tất cả đều có thể được quy đổi thành "mấy chỉ", "mấy cây".
Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy nhiều người có một chiếc tivi mua bằng hai cây vàng ba mươi năm trước được đem ra tiếc nuối, dù ngày nay một chiếc tivi hiện đại hơn gấp nhiều lần còn chưa tới một chỉ vàng. Cách tư duy ấy đang âm thầm tạo ra một xã hội mà nhiều người dành cả đời để giữ tài sản nhưng lại không dám "sống".
Tôi nghĩ có lẽ đã đến lúc cần nghiên cứu một thước đo giá trị khác hiện đại hơn, nhân văn hơn, thay vì để vàng và đất trở thành chuẩn mực cao nhất của thành công. Đó phải là thước đo về chất lượng sống, khả năng sống khỏe, học tập tốt, được trải nghiệm, được sáng tạo và được tận hưởng thành quả lao động của chính mình.
Bởi nếu nhìn kỹ, nhiều người hiện nay tuy sở hữu hàng chục, hàng trăm lượng vàng nhưng cuộc sống lại rất nghèo nàn. Họ không dám chi tiêu cho sức khỏe, không dám đi du lịch, không dám đầu tư học hành cho bản thân hay con cái, không dám mở rộng kinh doanh vì sợ "mất vốn".
Họ vui khi vàng tăng giá nhưng lại không nhận ra rằng thứ quý nhất của đời người là thời gian thì đang hao hụt từng ngày. Đó chẳng khác nào hình ảnh "lão hà tiện" trong những câu chuyện ngụ ngôn ngày xưa, ôm hũ vàng đến cuối đời mà chưa từng thực sự sống.
Đáng nói hơn, tâm lý lấy vàng làm chuẩn giá trị còn tạo ra những méo mó. Người ta không còn nhìn đất như nơi để ở, để sản xuất hay tạo ra giá trị, mà chỉ nhìn xem "một mét vuông đổi được mấy chỉ vàng". Câu nói "tấc đất tấc vàng" của cha ông vốn mang ý nghĩa phải quý trọng đất đai vì đó là nơi nuôi sống con người, là nền tảng cư trú và sản xuất, nay lại bị hiểu lệch thành chuyện quy đổi đất sang vàng.
Chính vì vậy, mỗi khi giá vàng tăng thì nhiều người mặc định đất cũng phải tăng theo, bất kể khả năng khai thác thực tế hay thu nhập của xã hội ra sao. Khi tư duy ấy lan rộng, bất động sản sẽ rất khó giảm về giá trị hợp lý.
Kết quả là nguồn lực bị "đóng băng" thay vì chảy vào sản xuất, công nghệ, giáo dục hay các ngành tạo ra năng suất thực sự cho nền kinh tế. Một xã hội mà người ta kiếm lời từ việc ôm đất, ôm vàng dễ hơn từ lao động và sáng tạo thì rất khó.
Tôi nghĩ chúng ta nên kể nhiều hơn về những con người dám bán vàng để mở xưởng, mở công ty, học nghề, đầu tư công nghệ và cuối cùng tạo ra doanh nghiệp, công ăn việc làm và của cải cho xã hội. Xã hội cần tôn vinh những người làm cho đồng vốn quay vòng qua sản xuất và lao động, thay vì chỉ ca ngợi khả năng "giữ của".
Tôi cho rằng việc ôm vàng, ôm đất rồi sống kham khổ không còn là sự khôn ngoan của thời hiện đại mà nhiều khi chỉ là nỗi sợ hãi được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Một người có hàng chục lượng vàng nhưng không dám chăm sóc sức khỏe, không dám học thêm, không dám trải nghiệm cuộc sống thì chưa chắc đã giàu hơn người biết tạo ra giá trị mới và tận hưởng thành quả lao động của mình.
Đặc biệt, cần bao dung hơn với những người trẻ dám chi tiêu cho bản thân để học tập, du lịch, mở rộng hiểu biết hay thử sức kinh doanh. Với nhiều gia đình đã tích lũy được tài sản lớn, việc tiêu dùng hợp lý không còn chỉ là chuyện cá nhân mà còn là cách giúp dòng tiền lưu thông, tạo việc làm và thúc đẩy kinh tế.
Một người dám đầu tư vào tri thức, sức khỏe và năng lực lao động của bản thân thường tạo ra giá trị lâu dài lớn hơn nhiều so với người chỉ biết cất giữ vàng.
Tôi đọc bài viết Từ 25/5, chủ nhà trọ thu tiền điện sai có thể bị phạt đến 30 triệu đồng. Với tư cách là một chủ nhà trọ tôi, tôi có chia sẻ như sau:
Nhà tôi đang tính tiền điện cho người thuê giá 3.000 đồng một số điện - để được giá này thì nhà tôi có được cộng định mức điện chia cho số người tạm trú.
Nếu không có định mức điện được cấp nhà tôi phải bán giá cao hơn nhiều, từ 4000 đồng một số trở lên. Tại sao? Nếu lấy giá 3.000 đồng một số điện, nếu dùng có định mức, chủ nhà hằng tháng như nhà tôi có 5 phòng trọ sẽ dư ra tầm 200-300 nghìn đồng, nhiều người nghĩ chủ nhà trọ sẽ được dùng điện miễn phí?
Không phải, mỗi lần hỏng điện sửa gọi thợ sửa nhẹ thì 200 nghìn, còn nguyên ngày công là 500 nghìn đồng. Hỏng một cái công tơ điện phải tốn 300-400 nghìn đồng thay mới. Sẽ có nhiều người hỏi công tơ mấy năm mới hỏng, điều này đúng nếu dùng bình thường vài năm thậm chí lâu hơn mới hỏng.
Nhưng đặc thù nhà trọ nó nhiều cái khó nói lắm, có người đến thuê tháo kẹp chì ra để tác động - thời bố tôi còn sống, bố tôi già rồi lại mới làm nhà trọ không quán xuyến được : 3/5 phòng trọ tháo kẹp chì ăn cắp điện.
Nhà tôi bị hao hụt tiền điện từ 2014 đến tận 2016, sau khi kiểm tra mới biết được. Chuyện bị chỉnh sửa phải thay là rất bình thường. Giá 3.000 đồng một số điện, tôi đang tính nếu tính các lần sửa chữa thay thế trên năm thì nhà tôi còn lỗ cơ chứ không có lãi. Muốn lãi thì phải tính giá cao hơn.
Xung quanh khu tôi nhiều nhà tính giá cao hơn nhưng nhà tôi vẫn giữ giá từ lúc làm nhà trọ 2014 đến giờ.
Vì thế tôi nghĩ nếu các đơn vị điện lực muốn tính giá chuẩn theo hóa đơn thì nên tính các phòng cho thuê là khách hàng riêng lẻ, họ phải ký hợp đồng với từng phòng trọ, chịu trách nhiệm và chi phí đầu tư sửa chữa đến từng phòng trọ, thu thì đóng qua app nên rất tiện.
Bây giờ số hóa phòng trọ nào nợ tiền điện thì EVN cứ theo mã căn cước mà đòi. Được như thế tôi hoan nghênh nhiệt liệt, bớt luôn một khâu trung gian cho chúng tôi đỡ mệt, nhiều lúc phòng trọ dọn đi tiền sử dụng điện còn cao hơn tiền cọc, chẳng biết kêu ai.
Tất nhiên tôi sẽ nghiêm túc chấp hành quy định mới, tôi không tính giá điện 3.000 đồng một số nữa, tôi sẽ tính giá điện theo quy định, phần còn lại tôi sẽ thu vào một mục khác, ví dụ như "khấu hao thiết bị sử dụng điện" hoặc tính theo chi phí dịch vụ từng phòng.
Đây là nội dung thuộc Nghị định 133 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực mới được ban hành và có hiệu lực từ 25/5. Hiện nay, việc chủ nhà trọ thu tiền điện cao hơn mức quy định vẫn bị xử lý theo Nghị định 134/2013 (sửa đổi bởi Nghị định 17/2022). Tuy nhiên, mức phạt chỉ từ 7-10 triệu đồng, được nhiều chuyên gia cho là chưa đủ sức răn đe nên tình trạng chủ trọ tự ý nâng giá điện lên 4.000-5.000 đồng một kWh vẫn diễn ra phổ biến.
Văn hóa trà chiều ở nhiều công ty giờ đã thành một thói quen. Cứ khoảng 3-4 giờ chiều là nhóm chat công ty tôi lại xuất hiện menu của một quán nước nào đó, ai uống gì thì đặt chung. Một ly nước bây giờ phổ biến cũng 65.000-70.000 đồng, chưa tính phí giao hàng.
Không tham gia trà chiều ở công ty thì tối hoặc cuối tuần, nhiều bạn trẻ lại hẹn bạn bè ra quán cà phê, quán trà sữa. Một tháng cộng lại, khoản tiền dành cho đồ uống có thể lên đến vài triệu đồng.
Nhìn vào đó, không ít người lớn lắc đầu. Họ cho rằng chính những khoản chi kiểu này khiến người trẻ mãi không tích lũy được tiền.
Tôi thì không nghĩ như vậy. Ngoài câu chuyện về sức khỏe, tôi cũng đồng tình rằng ai cũng nên biết kiểm soát chi tiêu. Nhưng nếu cho rằng chỉ cần nhịn vài ly nước là sẽ có một món quà nào đó có phần khiên cưỡng.
Thế hệ ông bà từng đề cao tiết kiệm qua câu "nhịn thuốc mua trâu, nhịn trầu mua đất". Đến thế hệ chúng tôi mới đi làm, lương chưa đến một triệu đồng nhưng ly cà phê chỉ khoảng 2.000 đồng. Giá một ly cà phê khi ấy vẫn tăng theo thời gian, nhưng thu nhập và giá tài sản chưa tạo ra khoảng cách quá lớn.
Ngày nay thì khác. Một người trẻ có thể kiếm 10-15 triệu đồng mỗi tháng, và cao hơn. Nhưng ly cà phê rang xay rẻ nhất cũng khoảng 20.000 đồng, còn những đồ uống phổ biến ở thành phố đã lên 60.000-70.000 đồng. Quan trọng hơn, giá một căn chung cư đã tăng nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng thu nhập.
Nếu mỗi ngày tiết kiệm được 70.000 đồng tiền trà sữa, một năm cũng chỉ hơn 25 triệu đồng. Con số này gấp vài lần lương trung bình nhưng trước một căn hộ trị giá vài tỷ đồng, hay chỉ riêng khoản trả trước hàng trăm triệu đồng, thì số tiền ấy vẫn chỉ là một phần rất nhỏ.
Không ai phủ nhận việc nhiều bạn đang chi tiêu theo cảm hứng, thích là mua, thấy khuyến mãi là đặt, lương vừa về đã hết vì những khoản nhỏ cộng dồn. Thói quen ấy nếu kéo dài chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng tích lũy.
Nhưng cũng không nên biến trà sữa, cà phê, ăn uống bên ngoài thành "vật tế thần" cho mọi khó khăn tài chính của giới trẻ. Bởi có những người gần như không uống trà sữa, không mua cà phê, hiếm khi ăn ngoài nhưng vẫn rất khó mua nổi một căn hộ chung cư.