Nhiều năm qua, người Việt vẫn có một “thước đo giá trị” rất đặc biệt với vàng. Từ giá nhà, giá đất, xe cộ cho đến một chiếc tivi hay chiếc nhẫn cưới, tất cả đều có thể được quy đổi thành “mấy chỉ”, “mấy cây”.
Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy nhiều người có một chiếc tivi mua bằng hai cây vàng ba mươi năm trước được đem ra tiếc nuối, dù ngày nay một chiếc tivi hiện đại hơn gấp nhiều lần còn chưa tới một chỉ vàng. Cách tư duy ấy đang âm thầm tạo ra một xã hội mà nhiều người dành cả đời để giữ tài sản nhưng lại không dám “sống”.
Tôi nghĩ có lẽ đã đến lúc cần nghiên cứu một thước đo giá trị khác hiện đại hơn, nhân văn hơn, thay vì để vàng và đất trở thành chuẩn mực cao nhất của thành công. Đó phải là thước đo về chất lượng sống, khả năng sống khỏe, học tập tốt, được trải nghiệm, được sáng tạo và được tận hưởng thành quả lao động của chính mình.
Bởi nếu nhìn kỹ, nhiều người hiện nay tuy sở hữu hàng chục, hàng trăm lượng vàng nhưng cuộc sống lại rất nghèo nàn. Họ không dám chi tiêu cho sức khỏe, không dám đi du lịch, không dám đầu tư học hành cho bản thân hay con cái, không dám mở rộng kinh doanh vì sợ “mất vốn”.
Họ vui khi vàng tăng giá nhưng lại không nhận ra rằng thứ quý nhất của đời người là thời gian thì đang hao hụt từng ngày. Đó chẳng khác nào hình ảnh “lão hà tiện” trong những câu chuyện ngụ ngôn ngày xưa, ôm hũ vàng đến cuối đời mà chưa từng thực sự sống.
Đáng nói hơn, tâm lý lấy vàng làm chuẩn giá trị còn tạo ra những méo mó. Người ta không còn nhìn đất như nơi để ở, để sản xuất hay tạo ra giá trị, mà chỉ nhìn xem “một mét vuông đổi được mấy chỉ vàng”. Câu nói “tấc đất tấc vàng” của cha ông vốn mang ý nghĩa phải quý trọng đất đai vì đó là nơi nuôi sống con người, là nền tảng cư trú và sản xuất, nay lại bị hiểu lệch thành chuyện quy đổi đất sang vàng.
Chính vì vậy, mỗi khi giá vàng tăng thì nhiều người mặc định đất cũng phải tăng theo, bất kể khả năng khai thác thực tế hay thu nhập của xã hội ra sao. Khi tư duy ấy lan rộng, bất động sản sẽ rất khó giảm về giá trị hợp lý.
Kết quả là nguồn lực bị “đóng băng” thay vì chảy vào sản xuất, công nghệ, giáo dục hay các ngành tạo ra năng suất thực sự cho nền kinh tế. Một xã hội mà người ta kiếm lời từ việc ôm đất, ôm vàng dễ hơn từ lao động và sáng tạo thì rất khó.
Tôi nghĩ chúng ta nên kể nhiều hơn về những con người dám bán vàng để mở xưởng, mở công ty, học nghề, đầu tư công nghệ và cuối cùng tạo ra doanh nghiệp, công ăn việc làm và của cải cho xã hội. Xã hội cần tôn vinh những người làm cho đồng vốn quay vòng qua sản xuất và lao động, thay vì chỉ ca ngợi khả năng “giữ của”.
Tôi cho rằng việc ôm vàng, ôm đất rồi sống kham khổ không còn là sự khôn ngoan của thời hiện đại mà nhiều khi chỉ là nỗi sợ hãi được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Một người có hàng chục lượng vàng nhưng không dám chăm sóc sức khỏe, không dám học thêm, không dám trải nghiệm cuộc sống thì chưa chắc đã giàu hơn người biết tạo ra giá trị mới và tận hưởng thành quả lao động của mình.
Đặc biệt, cần bao dung hơn với những người trẻ dám chi tiêu cho bản thân để học tập, du lịch, mở rộng hiểu biết hay thử sức kinh doanh. Với nhiều gia đình đã tích lũy được tài sản lớn, việc tiêu dùng hợp lý không còn chỉ là chuyện cá nhân mà còn là cách giúp dòng tiền lưu thông, tạo việc làm và thúc đẩy kinh tế.
Một người dám đầu tư vào tri thức, sức khỏe và năng lực lao động của bản thân thường tạo ra giá trị lâu dài lớn hơn nhiều so với người chỉ biết cất giữ vàng.
"Tôi từng rất háo hức khi dọn về ở nhà ba lầu, có sân vườn trồng cây, có chỗ đậu ôtô. Nhưng sau niềm vui, sự phấn khích ban đầu là chuỗi ngày leo cầu thang, ăn cơm ở lầu một, đi ngủ ở lầu ba, đi lên tới nơi thì không còn muốn đi xuống nữa vì phải leo quá xa và quá mệt. Thậm chí, bản thân tôi mới chưa tới 40 tuổi đã bị tràn dịch khớp. Sau một năm rưỡi, tôi quyết định mua một căn chung cư để chuyển lên đó ở.
Dù ở chung cư chật chội một chút nhưng thú thật tôi cảm thấy nhẹ nhàng hơn nhiều. Căn hộ có ban công nên tôi có thể ngắm cảnh từ tầng cao, không còn bị muỗi đốt. Mỗi loại hình nhà ở đều có ưu - nhược điểm riêng, nhưng với tôi, quyết định cho thuê nhà đất và lên ở chung cư là hoàn toàn đúng đắn. Nếu có ngày dọn về nhà đất, tôi nhất định phải lắp thêm cái thang máy cho đỡ cực".
Đó là chia sẻ của độc giả Raphhoang về lựa chọn loại hình nhà ở cho tuổi già của bản thân. Khi còn trẻ, nhiều người chọn nơi ở dựa trên công việc, trường học hay khoảng cách đi lại. Nhưng càng lớn tuổi, đặc biệt khi nghĩ đến chuyện dưỡng già, tiêu chí về chỗ ở lại thay đổi rất nhiều. Có người muốn sống trong nhà mặt đất để có khoảng sân nhỏ trồng cây, nuôi thú cưng, đi lại tự do và giữ cảm giác quen thuộc của nhiều thế hệ trước. Nhưng cũng không ít người lớn tuổi bắt đầu nghiêng về chung cư vì sự tiện lợi: có thang máy, bảo vệ, siêu thị, công viên, bệnh viện và hàng xóm ở gần khi cần hỗ trợ.
>> Băn khoăn khi bán chung cư để mua nhà mặt đất 18 tỷ dưỡng già
Từng trải nghiệm cả hai loại hình nhà ở, bạn đọc Dzungtranhung nêu quan điểm: Tôi từng sống trong một căn hộ 140 m2 tại quận trung tâm, và hiện ở nhà mặt đất (khu compound, cách căn hộ cũ 5 km). Đến giờ, tôi đang thấy hối tiếc vì đã bán căn hộ cũ đi, để chuyển xuống nhà đất. Tôi nhận thấy ở chung cư có đầy đủ cơ sở vật chất khép kín (bể bơi, phòng tập thể chất, phòng xông hơi, khuôn viên đi bộ, tập thể dục...). Quan trọng nhất là nhà không có muỗi và côn trùng - những thứ mà ở nhà mặt đất khó có thể tránh. Tôi cũng đang tìm mua căn hộ khác để vài năm nữa dọn lên đó dưỡng già".
Cùng chung suy nghĩ, độc giả Ohuynhthuy bình luận: "Tôi vừa dọn lên chung cư được mấy tháng. Theo ý kiến cá nhân tôi, tuổi già ở chung cư là khỏe nhất. Mọi thứ đã có ban quản lý lo hết. Phí quản lý cũng chỉ là một phần nhỏ, vì khi ở nhà mặt đất bạn phải tự bỏ tiền ra lo từ cái máy bơm đến an ninh. Chưa kể, tuổi già ập đến mà ở nhà nhiều tầng là không khả thi. Ở chung cư, tôi né được cảnh chó đánh dấu lãnh thổ trước cửa nhà, hay hàng xóm hát hò tận đêm khuya... Chưa kể những tiện ích như hồ bơi, phòng gym ngay dưới chân chung cư cũng là điều mà nếu ở nhà mặt đất tôi không thể có được. Tôi sẽ tiếp tục ở chung cư cho tới già".
Trong khi đó, lựa chọn ở nhà mặt đất, bạn đọc Nguyenthanhphat phân tích: "Vợ chồng tôi hiện 43 tuổi và đang sống trong nhà mặt đất với không gian rộng rãi, có sân thượng, ban công để trồng cây theo sở thích, nuôi vài bể cá kiểng. May mắn hơn là phía sau nhà tôi còn có một công viên nhỏ, mỗi ngày được nhìn cây cối, chim chóc và nhiều loài động vật sống khá tự nhiên. Thật sự sau khoảng 5 năm, chất lượng sống và sức khỏe của cả gia đình tôi cải thiện rất rõ. Vì vậy, tôi vẫn khuyên nên mua nhà đất để nâng chất lượng sống, nhất là ở tuổi trung niên trở đi".
Văn phòng công ty của tôi nằm ở trung tâm thành phố. Dọc tuyến đường dài hơn một km có rất nhiều tòa nhà văn phòng. Bên cạnh đó cũng có nhiều quán cơm, quán cà phê phục vụ đông đảo nhân viên văn phòng.
Tháng trước có một quán cơm văn phòng khai trương, tôi và nhiều đồng nghiệp gọi vui là quán "bình ổn giá": Suất cơm một món giá 40.000 đồng, có trà đá, trái cây... rất đông khách tới ăn.
Suốt chục năm làm việc ở đây, tôi thấy có nhiều quán khai trương rồi đóng cửa. Giá một phần ăn từ 35.000 - 45.000 rồi tăng lên 50.000 đồng theo thời gian. Nhưng kỳ lạ là, dù mặt bằng giá thay đổi, số phận của nhiều quán vẫn giống nhau: mở ra vài tháng, rồi vắng khách dần và biến mất.
Duy chỉ có một quán bún chả và một quán cà phê trụ lại, dù giá của họ không hề rẻ. Ban đầu, tôi cũng nghĩ đơn giản: Giá rẻ thì đông khách, đông khách thì sống được. Nhưng dường như hai quán kia đã đi ngược lại điều này?
Ngày nay, không khó để bắt gặp cảnh một hành khách trên phương tiện công cộng thản nhiên bật loa ngoài để "cày" TikTok với các bản nhạc EDM giật cục liên tục, hay một người khách tại quán cà phê vô tư mở video Youtube với âm lượng cực đại, hoặc một người nhà bệnh nhân bật loa ngoài nói chuyện oang oang trong hành lang bệnh viện.
Những người ấy, dù vô tình hay hữu ý, đều đang biến không gian chung thành phòng khách của riêng mình, bất chấp sự chịu đựng của những người xung quanh. Sau tiếng ồn từ karaoke và loa kéo, thì tiếng ồn phát ra từ những chiếc điện thoại cá nhân đã và đang trở thành một vấn nạn thực sự.
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ, nơi chiếc điện thoại là vật bất ly thân. Nhưng dường như, cùng với sự tiện lợi của công nghệ, khái niệm về "không gian chung’", về "việc tránh làm phiền người khác" và về "phép lịch sự" lại có vẻ đang dần trở nên mờ nhạt.
Nhiều người có thể biện minh rằng: "Tôi có quyền dùng điện thoại". Đúng, không ai có thể tước đi quyền sử dụng thiết bị của bạn. Nhưng, quyền tự do cá nhân chỉ thực sự văn minh khi nó không xâm phạm đến không gian riêng tư, sự nghỉ ngơi và nhu cầu tĩnh lặng của người khác.
Khi bạn bật loa ngoài ở nơi công cộng, bạn không chỉ đang nghe một mình, mà bạn đang ép cả những người xung quanh - những người vốn không có nhu cầu nghe thứ bạn đang nghe - phải "thưởng thức" cùng bạn. Đó là sự chịu đựng bất đắc dĩ khi không gian vốn của chung lại bị chiếm dụng bởi sự ồn ào của một số ít người.
Đã có nhiều lần tôi tự hỏi: Tại sao một số người lại khó chấp nhận việc đeo tai nghe - một thiết bị nhỏ bé nhưng chứa đựng sự tử tế tối thiểu? Phải chăng sự tiện lợi cá nhân đã lấn át đi ý thức cộng đồng?
Để thay đổi thực trạng này, tôi cho rằng cần bắt đầu từ những thay đổi nhỏ nhưng quyết liệt:
Xây dựng "văn hóa tai nghe": Đây cần trở thành một quy tắc ứng xử cơ bản, giống như việc không chen lấn hay không xả rác. Mỗi người hãy tự giác sử dụng tai nghe khi xem video, nghe nhạc hay gọi điện ở nơi công cộng. Đó là biểu hiện của cư xử văn minh.
Sự chung tay của các cơ sở dịch vụ: Các quán cà phê, đơn vị vận tải công cộng hay các đơn vị cung cấp phòng chờ nên mạnh dạn đặt những tấm biển nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng rõ ràng: "Vui lòng sử dụng tai nghe", "Vui lòng giữ yên lặng" hoặc in rõ các lời nhắc nhở này trên vé hoặc menu.
Ngoài ra, có thể in poster hoặc chiếu các đoạn clip nhắc nhở về việc không làm ồn trên các màn hình công cộng như cách các hãng hàng không nhắc nhở về quy tắc an toàn đầu các chuyến bay.
Khi người dùng mua dịch vụ, họ đã chấp nhận quy tắc này. Nhân viên phục vụ khi nhắc nhở không còn là "người đi dạy đời", mà chỉ đơn thuần là "người thực thi nội quy". Điều này có thể bảo vệ nhân viên khỏi sự phản kháng của khách hàng.
Dù sao, đừng ngại nhắc nhở khách hàng ồn ào, vì chính những người khách văn minh khác sẽ ủng hộ bạn.
- Chia vùng: Tại các không gian công cộng nhất định, hãy chia thành các khu vực khác nhau: vùng Yên tĩnh (Quiet Zone) là vùng tập trung, yêu cầu tuyệt đối tai nghe và vùng Giao lưu (Social Zone) là vùng có thể thoải mái trò chuyện.
Khi một người chọn ngồi vào khu vực Yên tĩnh, họ đã tự ký một "hợp đồng ngầm" là họ sẽ tôn trọng không gian chung. Khi đó, nếu họ bật loa ngoài hoặc gây ồn ào, những người xung quanh có quyền nhắc nhở cực kỳ hợp lý dựa trên quy định của khu vực đó, không còn là sự can thiệp cá nhân có thể dẫn tới gây gổ nữa.
- Sự dũng cảm lên tiếng: Nếu chúng ta cứ im lặng chịu đựng, hành vi này sẽ trở thành bình thường mới. Một ánh mắt ngạc nhiên hoặc một lời nhắc nhở lịch sự: "Bạn có thể vặn nhỏ âm lượng được không?", đôi khi đã đủ để người kia giật mình nhận ra hành vi của họ đang gây phiền toái.