“Bác sĩ, tôi còn có thể đứng dậy được không?” – Đó là câu nói của người đàn ông họ Tề (53 tuổi) hỏi bác sĩ điều trị sau khi ông nhận kết quả xét nghiệm tại Khoa Chấn thương chỉnh hình của Bệnh viện Y học Cổ truyền và Tây y kết hợp tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).
Bốn tháng trước, ông Tề bắt đầu cảm thấy đau âm ỉ ở vùng ngực và lưng, nhưng nghĩ rằng đó chỉ là đau cơ lưng thông thường nên không để ý.
Một tuần trước, vào buổi sáng khi thức dậy, ông đột nhiên phát hiện đôi chân mất hết cảm giác, vùng thắt lưng đau dữ dội và hoàn toàn không thể đứng dậy được.
Sau khi chuyển đến Bệnh viện Y học Cổ truyền và Tây y kết hợp tỉnh Chiết Giang, đội ngũ bác sĩ Khoa Chấn thương chỉnh hình đã dựa vào đặc điểm hình ảnh học và tiến hành sinh thiết chọc dò đốt sống ngực, nhanh chóng xác định ông mắc bệnh lao cột sống vùng ngực. Các xét nghiệm chuyên sâu cho thấy, bệnh lao đã phá hủy thân đốt sống, chèn ép tủy sống, dẫn đến tình trạng liệt cấp tính.
Trước tình trạng của ông Tề vừa bị phá hủy cấu trúc cột sống, vừa nhiễm trùng, nhóm của bác sĩ Trịnh Kỳ – Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình – đã thực hiện ca phẫu thuật giúp bệnh nhân kiểm soát nhiễm trùng và phục hồi chức năng thần kinh.
Ngày thứ 6 sau phẫu thuật, chân ông Tề bắt đầu có phản ứng co rút tự chủ. Sức cơ hai chân đã hồi phục từ mức 0 (hoàn toàn mất vận động) lên mức 2 (có thể di chuyển chân trên mặt giường). Đến ngày thứ 10, sức cơ tiếp tục tăng lên mức 3 (có thể nâng chân khỏi mặt giường 2-3cm). Sau đó, chức năng vận động của ông đang tiếp tục được cải thiện.
“Chẩn đoán sớm và can thiệp phẫu thuật sớm có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiên lượng của bệnh nhân lao cột sống. Nếu chức năng thần kinh dần hồi phục và kết hợp dùng dụng cụ hỗ trợ, ông Tề hoàn toàn có khả năng đi lại được”, bác sĩ Trịnh cho biết.
Lao cột sống lả tình trạng nhiễm khuẩn ở đĩa đệm và đốt sống do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên.
Bệnh lao cột sống được gọi là bệnh thứ phát. Ban đầu một người có thể bị nhiễm lao do vi khuẩn lao trong môi trường hay lây từ người bệnh. Vi khuẩn lao xâm nhập vào đường hô hấp và phổi sau đó gây bệnh lao. Tiếp đến vi khuẩn lao từ phổi hoặc hệ tiêu hóa sẽ theo đường máu, bạch huyết và khu trú tại một bộ phận nào đó của hệ xương khớp. Chúng sẽ sinh sản và phát triển sau đó hình thành một vùng hoại tử bên ngoài có các tế bào khổng lồ, biểu mô và tế bào đơn nhân.
Vi khuẩn lao thường tấn công ở các xương khớp chịu trọng lực lớn của cơ thể như: cột sống, khớp gối, khớp háng… Khi lao tấn công vào cột sống thì được gọi là lao cột sống.
Ban đầu khi mắc bệnh lao xương khớp nói chung và lao cột sống nói riêng, người bệnh thường không có biểu hiện gì rõ rệt do vậy rất ít trường hợp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.
-Người bệnh có thể có lao sơ nhiễm trước đó, hoặc lao phổi.
-Người bệnh có thể có các triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc mạn tính của bệnh lao như triệu chứng sốt nhẹ về chiều và tối, sốt dai dẳng, người mệt mỏi, xanh xao, biếng ăn, sụt cân, hay bị đổ mồ hôi trộm.
-Sưng, đau mỏi và hạn chế về vận động vùng cột sống do bị tổn thương.
-Người bệnh gặp khó khăn khi vận động và thấy đau nhẹ các khớp, xương. Lao xương cột sống sẽ gây ra tình trạng khó cúi/ngửa người.
-Áp xe lạnh: bên trong ổ áp xe có mủ, tổ chức hoại tử bã đậu… Nếu khám lâm sàng có thể thấy là một khối bùng nhùng và nằm cạnh khớp, khi vỡ ra để lại lỗ dò.
-Ở giai đoạn muộn có thể gặp một số biểu hiện khác như: cứng vận động khớp, teo cơ, gù/vẹo/gấp khúc cột sống nếu bị lao cột sống.
Với bệnh nhân lao cột sống, phần xương cột sống bị vi khuẩn tấn công sẽ có biểu hiện sưng to nhưng không nóng, đỏ giống các bệnh lý viêm khớp cấp tính.
Bác sĩ Trịnh nhấn mạnh, bệnh lao cột sống giai đoạn đầu dễ bị nhầm với đau cơ lưng hoặc thoát vị đĩa đệm. Nếu đau lưng kéo dài trên một tháng, kèm theo sốt nhẹ vào buổi chiều, đổ mồ hôi trộm, sụt cân, tê bì hoặc yếu chi ngày càng nặng, cần kiểm tra sớm để phát hiện nhiễm lao. Nếu điều trị muộn, bệnh có thể gây liệt vĩnh viễn hoặc thậm chí lây lan toàn thân, nguy hiểm đến tính mạng.
Lee, 35 tuổi, nữ chuyên viên kinh doanh ở Singapore và chồng đều là tình đầu của nhau. Sau 13 năm chung sống, cô thường xuyên suy nghĩ về những phụ nữ từng xuất hiện trong cuộc đời chồng, từ bạn học trung học đến bạn gái thân thiết. Lee so sánh bản thân với họ và cho rằng chồng sẽ hạnh phúc hơn nếu chọn người khác. Dù chồng nhiều lần trấn an, Lee cho biết cô vẫn không thoát khỏi cảm giác bất an. Gần đây, cô biết tình trạng này gọi là hội chứng ghen tuông với quá khứ (retroactive jealousy).
Chuyên gia tâm lý Andrea Tan, Giám đốc Trung tâm tư vấn Andrea Tan Co tại Singapore, giải thích đây là sự ghen tuông nảy sinh từ lịch sử tình cảm của đối phương, bao gồm các mối tình cũ hoặc trải nghiệm tình dục trước đó. "Tình trạng này thường leo thang thành oán giận, vượt xa sự tò mò thông thường", bà Tan nói.
Anh Robert Chua, 30 tuổi, kể cách đây 10 năm, anh từng mệt mỏi vì bạn gái cũ liên tục ghen với quá khứ của mình. Khi Chua kể từng ngủ lại nhà một người bạn nữ để làm bài tập nhóm trước khi hai người yêu nhau, bạn gái anh phản ứng và cho rằng giữa họ có khuất tất.
Chua cho biết sự lo lắng của bạn gái bắt nguồn từ việc bị phản bội trong mối quan hệ trước. Mỗi lần cô nhắc lại chuyện cũ, hai người lại cãi vã. Để tránh xung đột, Chua né tránh nhắc đến bất kỳ người phụ nữ nào, ngoại trừ mẹ anh. Sự căng thẳng kéo dài khiến hai người quyết định chia tay.
Bà Tan Yi Shan, chuyên gia trị liệu tâm lý của Trung tâm J360 Psychology Singapore, cho biết người từng có vết thương tình cảm hoặc sang chấn dễ rơi vào vòng lặp suy nghĩ và hành vi khi gặp trải nghiệm mới gợi nhớ ký ức cũ. "Từ góc nhìn bên ngoài, sự đau khổ của người ghen tuông trông có vẻ phi lý", bà Shan nói.
Trong thời đại số, việc theo dõi người yêu cũ trên mạng xã hội dễ kích hoạt cơn ghen. Chuyên gia cho biết những phản ứng như chỉ trích, phòng thủ, khinh miệt và im lặng né tránh thường làm vấn đề kéo dài. Người ghen thường chất vấn, trong khi người còn lại thu mình rút lui.
Để cải thiện tình trạng, bà Tan Yi Shan khuyên không nên buộc người ghen thừa nhận sai, mà cần nói rõ tác động của việc này lên mối quan hệ. Người trong cuộc có thể thực hiện bài tập di chuyển mắt sang trái, phải, lên, xuống 10 đến 20 lần để giúp não chuyển hướng chú ý.
Khi mối quan hệ căng thẳng, việc trị liệu cá nhân hoặc cặp đôi là cần thiết. "Mục tiêu là hiểu rõ nhu cầu của bản thân để xây dựng quan hệ lành mạnh, đồng thời xử lý những niềm tin khiến bản thân luôn nghi ngờ", bà Shan nói.
Cá là thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt chứa nhiều protein chất lượng cao và omega-3 có lợi cho tim mạch, giúp giảm nguy cơ đột quỵ và các bệnh tim mạch. Tuy nhiên, nếu ăn không đúng cách, loại thực phẩm này cũng có thể trở thành "nguồn đưa độc tố vào cơ thể" mà nhiều người không để ý.
Theo chuyên gia dinh dưỡng Trương Ngữ Hy (Trung Quốc), cá vẫn rất tốt cho sức khỏe nhưng cần lựa chọn và chế biến đúng cách. Đáng chú ý, có 3 bộ phận của cá nên hạn chế ăn, thậm chí tránh ăn thường xuyên vì dễ tích tụ độc tố và kim loại nặng như thủy ngân, chì.
Da cá được nhiều người ưa thích nhờ chứa collagen và axit béo không bão hòa, tốt cho da và tim mạch. Tuy nhiên, đây cũng là "lớp lọc" hấp thụ nhiều chất ô nhiễm từ môi trường, đặc biệt là kim loại nặng.
Những loài cá lớn sống lâu trong tự nhiên càng có nguy cơ tích lũy độc tố cao hơn do nằm ở vị trí cao trong chuỗi thức ăn. Vì vậy, ăn da cá thường xuyên có thể vô tình nạp vào cơ thể lượng kim loại nặng đáng kể.
Đầu cá thường được dùng để nấu canh vì vị ngọt béo đặc trưng. Tuy nhiên, khu vực quanh mang cá lại là nơi dễ tích tụ "độc tố" và có nguy cơ chứa ký sinh trùng nếu không được làm sạch kỹ. Nếu chế biến không đảm bảo vệ sinh, đây có thể là nguồn gây hại tiềm ẩn cho sức khỏe.
Nội tạng cá
Nội tạng cá đôi khi được sử dụng trong một số món ăn, nhưng thực tế không mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng như nhiều người nghĩ. Ngược lại, đây lại là bộ phận dễ chứa kim loại nặng, độc tố và ký sinh trùng nhất. Việc ăn thường xuyên nội tạng cá có thể làm tăng nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Để giảm nguy cơ hấp thụ độc tố khi ăn cá, chuyên gia khuyến nghị một số cách đơn giản nhưng hiệu quả:
- Loại bỏ da cá: Lột da cá trước khi chế biến có thể giúp giảm đáng kể lượng kim loại nặng tồn dư.
- Ưu tiên cá nhỏ: Cá kích thước nhỏ thường tích lũy ít độc tố hơn so với cá lớn sống lâu năm.
- Chần sơ trước khi nấu: Trụng cá qua nước sôi giúp loại bỏ bớt máu thừa, mùi tanh và tạp chất.
Cá vẫn là nguồn thực phẩm rất tốt cho sức khỏe nếu được lựa chọn và chế biến đúng cách. Chỉ cần tránh những bộ phận dễ tích tụ độc tố và áp dụng các mẹo đơn giản trên, bạn hoàn toàn có thể yên tâm thưởng thức món cá thơm ngon mà vẫn bảo vệ sức khỏe lâu dài cho cả gia đình.
Để giảm rủi ro, khi mua cá cần chú ý:
- Quan sát mắt cá: Cá tươi có mắt trong, sáng, không lõm, không đỏ. Mắt mờ, lõm, đục là dấu hiệu cá đã để lâu.
- Xem mang cá: Mang cá tươi có màu đỏ hồng, khép chặt, ít nhớt và trong. Mang xám, nâu, lật ra ngoài là cá không còn tươi.
- Kiểm tra da và vảy: Da cá tươi sáng, sạch, vảy bám chắc. Da nhớt nhiều, xỉn màu, vảy bong tróc là cá đã hỏng.
- Cảm nhận độ đàn hồi: Cá tươi cầm lên chắc tay, thân cứng. Cá mềm nhũn, dính tay thường không còn tươi.
- Quan sát thịt cá: Khi mổ, thịt cá tươi bám chặt vào xương, máu đỏ tươi. Nếu thịt rời rạc, máu sẫm màu, cá có thể đã chết lâu.
Để đảm bảo an toàn thực phẩm và phòng tránh nguy cơ lây nhiễm ký sinh trùng từ cá, bạn cần thực hiện các biện pháp sau:
- Nấu chín cá hoàn toàn: Nấu chín cá là cách hiệu quả nhất để tiêu diệt ký sinh trùng. Hạn chế ăn cá sống hoặc chế biến chưa chín kỹ, đặc biệt là các món như sushi, sashimi, hoặc gỏi cá.
- Đông lạnh cá trước khi ăn sống: Nếu bạn muốn ăn các món cá sống, hãy đảm bảo rằng cá đã được đông lạnh ở nhiệt độ -20°C trong ít nhất 7 ngày để tiêu diệt ký sinh trùng. Đông lạnh là cách hiệu quả để làm suy yếu và tiêu diệt ký sinh trùng mà không làm mất đi hương vị tự nhiên của cá. Đây là cách thường được áp dụng để vô hiệu hóa giun ký sinh trong cá hồi.
- Bảo quản và vệ sinh cá đúng cách: Việc bảo quản cá trong tủ lạnh hoặc tủ đông giúp ngăn chặn sự phát triển của ký sinh trùng và vi khuẩn. Cá tươi nên được bảo quản ở nhiệt độ dưới 4°C và cá đông lạnh ở nhiệt độ -18°C.
Trước khi chế biến, rửa cá sạch dưới vòi nước lạnh để loại bỏ bụi bẩn và các chất cặn bã.
Sử dụng dao và thớt riêng khi chế biến cá sống để tránh lây nhiễm chéo vi khuẩn và ký sinh trùng.
Theo Hãng tin AFP ngày 8-4, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết nước này muốn tăng mạnh số lượng nữ quân nhân trong quân đội vào giữa những năm 2030, trong bối cảnh Nhật Bản ngày càng khó thuyết phục người trẻ nhập ngũ.
Nhật Bản đặt mục tiêu đưa tỉ lệ nữ quân nhân trong Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (SDF) lên 13% vào tháng 3-2036, tăng so với mức 9% hiện tại.
Chiến dịch tuyển quân này được triển khai sau khi Bộ Quốc phòng cam kết cải thiện điều kiện làm việc cho nữ quân nhân, sau vụ bê bối tấn công tình dục gây chấn động, trong đó một cựu nữ binh sĩ đã lên YouTube kể lại câu chuyện của mình sau khi cuộc điều tra nội bộ bị đình chỉ.
Cơ quan này cũng có kế hoạch "thúc đẩy sự tham gia tích cực của nữ quân nhân", đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của "cân bằng giữa công việc và cuộc sống".
Khi cơ hội dành cho nữ quân nhân tiếp tục được mở rộng, bộ đang cải thiện cơ sở vật chất, bao gồm xây dựng nhà vệ sinh, phòng tắm và khu vực riêng dành cho nữ tại các doanh trại, cũng như khoang sinh hoạt riêng trên tàu chiến.
Tokyo đang tăng chi tiêu quốc phòng và nỗ lực thu hút nhân tài vào lực lượng vũ trang. Tuy nhiên theo các quan chức và chuyên gia, tính chất nguy hiểm của công việc, mức lương thấp và tuổi nghỉ hưu sớm (khoảng 56 tuổi) đang khiến giới trẻ Nhật Bản e ngại.
Tỉ lệ sinh thấp, dân số thu hẹp và thị trường lao động thắt chặt cũng đang cản trở công tác tuyển quân, khiến 10% trong khoảng 250.000 vị trí của lực lượng này bị bỏ trống.
Mặc dù SDF sở hữu năng lực phòng thủ tinh nhuệ, lực lượng này đến nay vẫn phải tránh phát triển khả năng phản công, phản ánh hiến pháp hòa bình do Mỹ áp đặt, vốn cấm sử dụng vũ lực để giải quyết xung đột.
Không thành viên nào trong lực lượng hiện tại từng thiệt mạng hay gây thương vong trong chiến đấu, mà phần lớn tử nạn trong các cuộc huấn luyện quân sự.
Trong các nước thành viên NATO và đối tác, tỉ lệ nữ quân nhân trung bình cao hơn, chiếm hơn 12% lực lượng vũ trang vào năm 2022, tăng từ hơn 10% năm 2014, theo báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Nghị viện châu Âu.
Tại Mỹ, phụ nữ chiếm khoảng 18% tân binh tính đến năm 2023, theo số liệu từ Bộ Quốc phòng nước này.
Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho rằng việc tăng tỉ lệ nữ quân nhân trong SDF "sẽ góp phần đưa ra nhiều góc nhìn đa dạng hơn trong các nhiệm vụ như cứu trợ thiên tai và các hoạt động tiếp xúc trực tiếp với người dân".
Trên thực tế, phụ nữ hiếm khi giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao trong chính trị, kinh doanh, chính phủ lẫn quân đội Nhật Bản.