Trong đuối nước, điều cần làm sớm nhất là giúp trẻ có oxy trở lại. “5 nhịp thở vàng” để cứu trẻ đuối nước ra sao?
Trẻ biết bơi vẫn có thể đuối nước. Nhiều trường hợp đuối nước nếu được sơ cứu đúng ngay từ những phút đầu tiên, trẻ vẫn còn cơ hội sống.
Nhiều phụ huynh nghĩ rằng con đã học bơi thì sẽ an toàn. Nhưng bơi trong hồ bơi và bơi ở sông, ao, kênh rạch hay bơi biển là những chuyện rất khác nhau. Dưới lòng sông có thể có dòng chảy xiết, hố sâu, vùng nước xoáy hoặc khu vực sạt lở mà trẻ không nhận biết được.
Nước lạnh dễ gây chuột rút, đặc biệt khi trẻ hoảng loạn cố bơi ngược dòng để vào bờ sẽ nhanh chóng kiệt sức. Khi bị sặc nước và mất bình tĩnh, trẻ có thể chìm rất nhanh dù trước đó bơi khá giỏi.
Một sai lầm rất nguy hiểm hiện nay là nhiều người vẫn “xóc nước”, vác ngược trẻ chạy vòng vòng với hy vọng nước trong phổi chảy ra ngoài. Thực tế cách làm này không đúng theo hướng dẫn hồi sức hiện nay. Phần nước chảy ra chủ yếu là từ dạ dày chứ không phải từ phổi.
Việc xóc nước còn làm tăng nguy cơ trào ngược dịch vào đường thở khiến trẻ ngạt nặng hơn. Quan trọng nhất, nó làm mất “thời gian vàng” để cấp cứu hô hấp. Não thiếu oxy kéo dài chỉ vài phút đã có thể tổn thương nặng nề.
Trong đuối nước, điều cần làm sớm nhất là giúp trẻ có oxy trở lại. Đầu tiên phải thổi ngạt. Theo CDC và Hiệp hội Tim mạch Mỹ, cấp cứu đuối nước mới nhất, cùng với phác đồ 5 nhịp thở của của Hội đồng Hồi sức châu Âu đã đưa kỹ thuật thổi ngạt trở lại vị trí ưu tiên hàng đầu khi cấp cứu đuối nước, thay vì lạm dụng phác đồ “chỉ ép tim” vốn chỉ dành cho người bị đột quỵ tim thông thường.
Khác với nhiều trường hợp ngừng tim ở người lớn do bệnh tim, đuối nước là tình trạng cơ thể bị thiếu oxy trước rồi tim mới ngừng đập sau. Vì vậy trong hồi sức đuối nước, việc thổi ngạt sớm đóng vai trò rất quan trọng.
Ngay khi đưa trẻ lên bờ, hãy nhanh chóng gọi người hỗ trợ gọi cấp cứu 115, đồng thời bắt đầu sơ cứu ngay tại chỗ.
Kỹ thuật thổi ngạt “5 nhịp thở vàng” ban đầu trong đuối nước cần làm đúng và bình tĩnh. Gồm bốn bước:
Bước 1: Đặt trẻ nằm ngửa trên nền cứng, đầu và thân mình nằm thẳng.
Người cấp cứu quỳ bên cạnh đầu trẻ. Nếu quần áo ướt quá dày che kín ngực thì có thể nhanh chóng nới lỏng để dễ quan sát lồng ngực.
Bước 2: Khai thông đường thở.
Một tay đặt lên trán trẻ rồi nhẹ nhàng ngửa đầu ra sau. Tay còn lại dùng hai ngón nâng cằm lên. Động tác này giúp lưỡi không tụt ra phía sau bít kín khí quản. Không nên gập cổ trẻ về phía trước vì sẽ làm đường thở hẹp lại.
Nếu nhìn thấy bùn đất, rong rêu, thức ăn hoặc đờm nhớt trong miệng thì nhanh chóng lấy ra bằng ngón tay quấn khăn sạch. Không cố móc sâu nếu không nhìn thấy dị vật vì có thể làm tắc nghẽn nặng hơn.
Bước 3: Thổi ngạt.
Với trẻ trên 1 tuổi: Một tay vẫn giữ trán để đầu hơi ngửa ra sau. Dùng ngón cái và ngón trỏ của tay đó bịt kín hai lỗ mũi trẻ. Người cấp cứu hít một hơi bình thường, không cần quá sâu. Áp kín miệng mình phủ trọn miệng trẻ để không bị rò hơi ra ngoài.
Với trẻ dưới 1 tuổi: Không cần bịt mũi riêng. Miệng người cấp cứu sẽ bao trùm cùng lúc cả mũi và miệng trẻ vì khuôn mặt trẻ còn nhỏ.
Cách thổi: Thổi chậm và đều trong khoảng 1 giây cho mỗi hơi. Không thổi quá mạnh. Mắt phải nhìn vào lồng ngực trẻ. Dấu hiệu quan trọng nhất cho thấy thổi đúng là lồng ngực trẻ nhô lên nhẹ nhàng theo hơi thổi.
Nếu lồng ngực không nhô lên: Bà con mình cần chỉnh lại tư thế ngửa đầu nâng cằm, kiểm tra miệng có dị vật không rồi thổi lại.
Sau mỗi hơi: Nhấc miệng ra, thả tay bịt mũi (nếu là trẻ lớn), để lồng ngực tự xẹp xuống rồi mới tiếp tục hơi kế tiếp.
Người cấp cứu lặp lại đủ năm lần thổi ngạt liên tục như vậy.
Điều cần tránh: Không xóc nước. Không ép bụng. Không thổi quá mạnh hoặc quá nhanh. Không mất thời gian tìm cách “làm nước chảy ra”.
Chỉ cần thổi vừa đủ để lồng ngực nhô lên là đạt yêu cầu.
Sau năm nhịp thở đầu tiên: Nếu trẻ bắt đầu ho, tự thở hoặc cử động, tiếp tục theo dõi và nhanh chóng đưa đến bệnh viện.
Bước 4: Ép tim.
Nếu trẻ vẫn bất tỉnh, không tự thở, bắt đầu ép tim ngoài lồng ngực theo chu kỳ 30 ép tim + 2 thổi ngạt và gọi 115 càng sớm càng tốt.
Điều quan trọng nhất trong cấp cứu đuối nước là oxy phải đưa đến não càng sớm càng tốt. Nhiều trường hợp chỉ nhờ vài hơi thở đúng cách trong những phút đầu mà trẻ có thể giữ lại được sự sống.
Cần kiên trì thực hiện liên tục cho đến khi nhân viên y tế đến nơi hoặc trẻ có dấu hiệu hồi phục.
Ngay cả khi trẻ đã tỉnh lại sau đuối nước, vẫn phải đưa đến cơ sở y tế để theo dõi vì có thể xuất hiện suy hô hấp hoặc phù phổi muộn sau đó.
Tuy nhiên, không ít người vẫn băn khoăn về thời điểm ăn cá để đạt hiệu quả cao nhất cho sức khỏe.
Thực tế cho thấy lợi ích của omega-3 không đến từ một bữa ăn cụ thể mà phụ thuộc vào thói quen duy trì lâu dài, theo trang sức khỏe Health.
Bà Jillian Kubala, chuyên gia dinh dưỡng tại Mỹ, cho biết khi cơ thể được bổ sung đều đặn, omega-3 sẽ tích lũy và phát huy tác dụng rõ rệt trong việc bảo vệ tim, ổn định huyết áp và cải thiện tuần hoàn.
Omega-3 tích lũy dần trong cơ thể theo thời gian. Cơ thể giữ mức ổn định khi duy trì ăn cá béo hoặc bổ sung omega-3 thường xuyên. Dưỡng chất này không tạo tác động tức thì như một số chất ảnh hưởng đến giấc ngủ hay tâm trạng.
Việc bổ sung omega-3 lâu dài giúp giảm triglyceride, cải thiện cholesterol và giảm viêm. Hiệu quả này chỉ rõ khi duy trì đều đặn trong chế độ ăn tốt cho tim.
Omega-3 gồm EPA và DHA giúp kiểm soát phản ứng viêm trong cơ thể. Hai hoạt chất này còn hỗ trợ chức năng mạch máu, giúp lưu thông ổn định.
Omega-3 tham gia điều hòa mỡ máu, gồm triglyceride và cholesterol. Nhờ đó, nguy cơ xơ vữa động mạch giảm rõ rệt. Tình trạng tích tụ mảng bám trong động mạch được kiểm soát tốt hơn.
Mức omega-3 cao còn giúp kiểm soát huyết áp tốt hơn. Đây là yếu tố quan trọng giúp giảm nguy cơ bệnh tim.
Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến nghị ăn cá, đặc biệt là cá béo, ít nhất 2 lần mỗi tuần để bảo vệ tim mạch.
Cá hồi chứa nhiều EPA và DHA. Loại cá này giúp giảm mỡ máu, giảm viêm và hỗ trợ tuần hoàn. Cá hồi còn cung cấp protein, kali, vitamin B12 và selen.
Cá mòi giàu omega-3 và ít tích lũy thủy ngân. Loại cá này phù hợp để ăn thường xuyên trong tuần.
Cá hồi vân cung cấp vitamin D, hỗ trợ kiểm soát huyết áp và chức năng mạch máu. Hàm lượng thủy ngân trong cá ở mức thấp.
Cá trích cung cấp vitamin B12, giúp kiểm soát homocysteine trong cơ thể. Nồng độ chất này cao làm tăng nguy cơ tim mạch.
Cá cơm giàu omega-3 và cung cấp thêm canxi. Dưỡng chất này hỗ trợ co bóp tim và hoạt động mạch máu.
Bước sang độ tuổi 50, nhiều người đối mặt với tình trạng tăng cân mất kiểm soát. Bên cạnh sự suy giảm tự nhiên của quá trình trao đổi chất, áp lực cuộc sống tích tụ cũng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến thói quen ăn uống vô độ. Trong bài viết trên trang cá nhân hôm 16/6, bác sĩ gia đình Hsu Shu-hua, chuyên gia trong lĩnh vực điều trị béo phì và kiểm soát cân nặng tại Đài Loan (Trung Quốc), chia sẻ trường hợp lâm sàng của Zhang, nữ doanh nhân 50 tuổi, chịu áp lực công việc đè nặng trong thời gian dài, đặc biệt là sau khi đại dịch làm đảo lộn cuộc sống, khiến cân nặng của bà tăng vọt lên 80,4 kg.
Tình trạng béo phì kết hợp với việc lười vận động đã tạo áp lực lớn lên khớp gối, gây ra những cơn đau nhức dai dẳng. Không chỉ vậy, căng thẳng kéo dài khiến bà mất kiểm soát hành vi ăn uống, khẩu phần ăn mỗi ngày tăng lên đáng kể dẫn đến cân nặng liên tục lập đỉnh. Tuy nhiên, sau khi được điều chỉnh chế độ ăn y khoa và lối sống khoa học, bà Zhang đã giảm gần 13 kg chỉ trong vòng 16 tuần, tỷ lệ mỡ cơ thể giảm sâu và lượng mỡ nội tạng cũng giảm được gần một nửa.
Bác sĩ Hsu Shu-hua phân tích tình trạng của bệnh nhân được phân loại y khoa là "béo phì nội tạng do căng thẳng", bắt nguồn từ môi trường làm việc áp lực cao kéo dài khiến nồng độ hormone cortisol luôn ở mức báo động. Loại hormone này có xu hướng thúc đẩy tích tụ mỡ thừa tập trung tại vùng bụng và xung quanh các cơ quan nội tạng. Việc dư thừa mỡ nội tạng không chỉ kích hoạt các phản ứng viêm mạn tính mà còn làm gián đoạn chức năng hoạt động của insulin, từ đó dễ dẫn đến hiện tượng kháng leptin. Một khi cơ thể rơi vào trạng thái kháng leptin, não bộ sẽ khó tiếp nhận tín hiệu no, khiến cảm giác thèm ăn tăng lên và các mô mỡ trở nên cứng đầu, khó đào thải hơn.
Chuyên gia cảnh báo việc ép cân bằng cách nhịn ăn cực đoan khi đang bị đau gối và hạn chế đi lại sẽ phản tác dụng. Khi chịu áp lực kép từ cơn đau và sự thiếu hụt dinh dưỡng, cơ thể sẽ tự động bật chế độ sinh tồn để tự vệ. Hệ quả là tốc độ trao đổi chất cơ bản bị kéo giảm, hiệu suất đốt cháy mỡ thừa sụt giảm nghiêm trọng, khiến quá trình giảm cân rơi vào trạng thái trì trệ.
Bác sĩ cho biết trong suốt liệu trình điều trị 16 tuần, bà đã đồng hành cùng bệnh nhân để từng bước tái thiết lập lối sống lành mạnh. Bên cạnh việc xây dựng thói quen uống đủ nước hàng ngày, phác đồ điều trị còn tập trung cải thiện chất lượng giấc ngủ sâu, hướng dẫn cách chọn lọc thực phẩm thông minh và cân đối lại tỷ lệ dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn. Đồng thời, bệnh nhân được kiểm soát nghiêm ngặt thời điểm nạp carbohydrate cũng như định lượng khẩu phần ăn khi phải đi ăn ngoài tiệm. Phương pháp tiếp cận khoa học này giúp người bệnh vừa tận hưởng niềm vui ẩm thực vừa giảm cân tự nhiên, từ đó giảm thành công 13 kg, đưa cân nặng từ mức 80,4 kg xuống còn 67,5 kg.
Song song đó, tỷ lệ mỡ cơ thể của bà Zhang giảm từ 38,6% xuống còn 28,4%; mỡ nội tạng cũng giảm một nửa, từ chỉ số báo động 14 xuống còn 7. Lớp mỡ nội tạng này khi bao phủ các cơ quan quan trọng sẽ liên quan trực tiếp đến hội chứng chuyển hóa, các bệnh lý tim mạch, cùng nguy cơ tăng huyết áp, mỡ máu cao và tiểu đường. Nhờ kiểm soát tốt chỉ số này, các chỉ số chuyển hóa máu tổng thể của bệnh nhân đều ghi nhận những cải thiện rõ rệt.
Bác sĩ Hsu Shu-hua khẳng định chìa khóa của một hành trình giảm cân thành công không phải là dùng ý chí để kìm hãm cảm giác thèm ăn mà là áp dụng các biện pháp khoa học nhằm cân bằng hệ nội tiết trong cơ thể. Một khi chất lượng giấc ngủ được nâng cao, các phản ứng viêm mạn tính thuyên giảm và quá trình trao đổi chất được kích hoạt trở lại, cân nặng sẽ tự động chuyển dịch về trạng thái lý tưởng nhất.
Khế là một loại trái cây nhiệt đới có kết cấu giòn và mọng nước. Loại quả này gần như có quanh năm tại Đài Loan, rất giàu vitamin A, C, phức hợp vitamin B, cùng các khoáng chất như kali và magie. Mỗi 100 gram khế chứa 34 calo và 2,8 gram chất xơ. Mặc dù giá trị dinh dưỡng cao, loại quả này lại tiềm ẩn nguy cơ gây ngộ độc, theo bác sĩ Lin Hsuan-jen, chuyên khoa thận tại Đại học châu Á, ở thành phố Đài Trung, Đài Loan, Trung Quốc.
Trong bài chia sẻ trên trang cá nhân, bác sĩ Lin cho hay vào năm 1998, Brazil là quốc gia đầu tiên ghi nhận các trường hợp bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính xuất hiện triệu chứng động kinh sau khi ăn khế. Sự việc này đã thôi thúc giới y khoa bắt tay vào nghiên cứu. Năm 2013, một nhóm nghiên cứu tại Đại học São Paulo (Brazil) đã phân lập được độc tố từ quả khế. Nghiên cứu này chứng minh rằng loại độc tố trên vừa ức chế các chất dẫn truyền thần kinh, vừa kích thích các dây thần kinh hoạt động quá mức. Điều này phá vỡ sự cân bằng của hệ thần kinh trung ương, khiến cơ thể rơi vào trạng thái hưng phấn quá độ và mất kiểm soát.
Bên cạnh đó, khế còn chứa một lượng lớn axit oxalic. Khi chất này tích tụ nhanh trong cơ thể sẽ tạo thành muối canxi oxalat lắng đọng tại các ống thận, kích hoạt phản ứng viêm thận cấp tính. Axit oxalic cũng chịu tác động từ độc tố trong quả khế, làm giảm tác dụng ức chế của nó đối với hệ thần kinh, từ đó kích ứng gây ra các cơn nấc cụt liên tục hoặc co giật, động kinh.
Ở trạng thái khỏe mạnh, thận của mọi người đều có thể dễ dàng chuyển hóa và đào thải các độc tố từ quả khế ra ngoài. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có chức năng thận kém, khả năng lọc của thận bị suy giảm, các độc tố này sẽ bị ứ đọng lại trong cơ thể thay vì được bài tiết. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có chức năng thận kém và khả năng lọc của thận suy giảm, các độc tố này sẽ không thể đào thải hiệu quả mà tích tụ lại trong cơ thể, gây tổn thương hệ thần kinh trung ương và dẫn đến trạng thái lú lẫn, co giật và động kinh liên tục.
Triệu chứng ban đầu phổ biến nhất khi bị ngộ độc khế là các cơn nấc cụt liên tục không thể kiểm soát. Khi tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn, độc tố sẽ kích ứng hệ vận động thần kinh, gây tê bì chân tay, rối loạn cảm giác, suy giảm cơ lực hoặc lú lẫn nhẹ. Một khi hệ thần kinh bị rối loạn từ mức độ trung bình đến nặng, bệnh nhân có thể rơi vào hôn mê, co giật, tụt huyết áp và sốc. Trong trường hợp nghiêm trọng nhất, nhiễm độc khế hoàn toàn có thể dẫn đến tử vong.
Bác sĩ Lin cho biết các số liệu thống kê cho thấy ngay cả những người có chức năng thận hoàn toàn bình thường, việc ăn từ 4 quả khế trở lên một lúc vẫn có thể dẫn đến suy thận cấp tính. Trong khi đó, đối với các bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính giai đoạn 3, khả năng chống độc của cơ thể bị sụt giảm nghiêm trọng. Ở nhóm này, chỉ cần tiêu thụ một lượng rất nhỏ, khoảng một phần tư quả khế, cũng đủ để kích hoạt phản ứng ngộ độc.
Hiệp hội Thận học Đài Loan khuyến cáo 4 nhóm sau đây không tiêu thụ khế gồm: bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo, người mắc bệnh thận mạn tính từ giai đoạn 3 trở lên, người đang trong quá trình hồi phục sau suy thận cấp và những người từng phẫu thuật cắt bỏ một bên thận trong vòng 6 tháng trở lại đây.
Bác sĩ nhấn mạnh có tới 23% số ca ngộ độc khế xảy ra ở những bệnh nhân tiểu đường hoặc cao huyết áp, những người vốn tin rằng chức năng thận của mình "bình thường". Nguyên nhân là do họ có thể đã bị tổn thương thận giai đoạn đầu âm thầm mà chưa được khám và chẩn đoán ra.