“Cuộc đua thực sự là cuộc đua với thời gian, chứ không phải chống lại nhau” – thông điệp được ông Teo Chee Hean đưa ra tại Ecosperity Week 2026 ở Singapore không chỉ phản ánh áp lực khí hậu ngày càng lớn, mà còn cho thấy cách tư duy ESG đang thay đổi nhanh chóng tại châu Á.
Trong bối cảnh thế giới đối mặt đồng thời với xung đột địa chính trị, giá năng lượng biến động và chuỗi cung ứng thiếu ổn định, chuyển đổi năng lượng không còn đơn thuần là mục tiêu môi trường. Với nhiều chính phủ và doanh nghiệp, đây đang trở thành bài toán về an ninh kinh tế, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh dài hạn.
Theo ông Teo, biến đổi khí hậu không chờ các quốc gia giải quyết xong cạnh tranh địa chính trị. Phát thải toàn cầu vẫn tiếp tục tăng, trong khi các cú sốc năng lượng đang khiến tiến trình giảm phát thải trở nên khó khăn hơn. “Thiên nhiên đặt ra thời hạn, nhưng chúng ta có thể định hình cách phản ứng của mình”, ông nói.
ESG chuyển từ “cam kết xanh” sang bài toán sống còn
Những diễn biến gần đây trên thị trường dầu mỏ cho thấy rõ hơn áp lực đó. Theo Nikkei Asia, lượng tồn kho dầu toàn cầu có thể giảm xuống dưới ngưỡng tương đương 100 ngày nhu cầu tiêu thụ ngay trong tháng 5, khi tình trạng gián đoạn quanh eo biển Hormuz tiếp diễn.
Goldman Sachs ước tính tổng tồn kho dầu toàn cầu cuối tháng 5 chỉ còn khoảng 98 ngày nhu cầu. Trong khi đó, lượng “tồn kho nhìn thấy được” được dự báo giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2018. Với nhiều nền kinh tế châu Á phụ thuộc nhập khẩu năng lượng, đây không chỉ là câu chuyện giá dầu tăng. Rủi ro lớn hơn nằm ở việc chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch có thể bị ảnh hưởng mạnh chỉ bởi một điểm nghẽn địa chính trị.
Ông Mike Ng, Giám đốc phát triển bền vững của OCBC, cho rằng xung đột tại Iran đang tạo thêm áp lực ngắn hạn cho quá trình chuyển đổi carbon thấp. Chi phí vốn cao hơn và lạm phát kéo dài khiến các dự án năng lượng tái tạo trở nên đắt đỏ hơn trong giai đoạn đầu tư ban đầu.
Theo ông, khác với dầu khí, phần lớn chi phí của điện gió hay điện mặt trời phải được bỏ ra ngay từ đầu. Khi lãi suất duy trì ở mức cao, hiệu quả tài chính của các dự án này sẽ chịu tác động đáng kể.
Tuy nhiên, ông Ng cho rằng chính những cú sốc hiện nay lại làm nổi bật vai trò của ESG trong chiến lược phát triển dài hạn. Khi chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch liên tục biến động, an ninh năng lượng và phát triển bền vững dần trở thành hai mục tiêu gắn liền với nhau. “Không ai có thể cấm vận ánh nắng mặt trời hay chặn gió tại một eo biển hàng hải”, ông nói.
Châu Á đứng trước bài toán tăng trưởng và chống chịu
Theo ông Teo Chee Hean, châu Á sẽ đóng vai trò quyết định đối với kết quả của quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu. Khu vực này hiện chiếm khoảng 60% dân số thế giới, gần một nửa lượng phát thải toàn cầu và cũng là nơi nhu cầu điện, công nghiệp cùng hạ tầng tiếp tục tăng nhanh nhất. Nhưng thay vì đi theo một mô hình thống nhất, các nền kinh tế châu Á đang xây dựng những con đường chuyển đổi khác nhau dựa trên nguồn lực và ưu tiên riêng.
Trung Quốc đẩy mạnh điện khí hóa quy mô lớn. Ấn Độ tăng tốc phát triển năng lượng tái tạo. Nhật Bản và Hàn Quốc giữ vai trò cung cấp linh kiện pin cùng công nghệ lưu trữ. Đông Nam Á trở thành khu vực có nhu cầu năng lượng tăng mạnh nhờ công nghiệp hóa và kinh tế số.
Theo báo cáo Southeast Asia’s Green Economy Report 2026 của Bain & Company, nền kinh tế xanh Đông Nam Á hiện được định giá khoảng 290 tỷ USD và có thể tăng lên 430 tỷ USD vào năm 2030.
Điểm đáng chú ý là ESG tại khu vực đang dần mở rộng khỏi phạm vi giảm phát thải. Thích ứng khí hậu hiện được nhiều doanh nghiệp và chính phủ xem là ưu tiên song song với chuyển đổi năng lượng.
Ông Teo cho rằng với tốc độ giảm phát thải hiện nay, chỉ tập trung vào mục tiêu carbon là chưa đủ. Các nền kinh tế cần đầu tư đồng thời vào khả năng chống chịu của hạ tầng, chuỗi cung ứng và hệ thống năng lượng. Ông cũng nhấn mạnh thành công của quá trình chuyển đổi sẽ không phụ thuộc vào một công nghệ riêng lẻ, mà nằm ở khả năng phối hợp giữa các hệ thống điện, dữ liệu, sản xuất và logistics.
“Tự chủ năng lượng” không còn đồng nghĩa tự làm một mình
Một trong những xu hướng đáng chú ý nhất hiện nay là việc nhiều quốc gia ASEAN bắt đầu nhìn nhận hợp tác năng lượng như một phần của chiến lược an ninh kinh tế. Theo OCBC, lưới điện ASEAN đang dần được xem như “dự án an ninh năng lượng” thay vì chỉ là sáng kiến giảm phát thải.
Việc kết nối lưới điện xuyên biên giới có thể giúp các quốc gia chia sẻ nguồn điện tái tạo, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu và hạn chế biến động nguồn cung. Một số dự án quy mô nhỏ đã được triển khai, trong đó có tuyến kết nối điện Lào – Thái Lan – Malaysia – Singapore. Theo ông Mike Ng, các mô hình thử nghiệm này có thể trở thành nền tảng để xây dựng niềm tin và mở rộng hợp tác trong tương lai.
Trong khi đó, Indonesia đang đẩy nhanh kế hoạch chuyển đổi ngành nickel sang sử dụng điện sạch hơn, bao gồm điện mặt trời, điện gió và địa nhiệt. Quốc gia này hiện sở hữu một trong những trữ lượng địa nhiệt lớn nhất thế giới nhưng mới khai thác một phần nhỏ tiềm năng.
Theo giới hoạch định chính sách khu vực, bài toán lớn nhất hiện nay là chuyển đổi năng lượng với tốc độ nào để vừa duy trì tăng trưởng, vừa giảm rủi ro dài hạn. Khi giá dầu, lãi suất và chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục biến động, ESG đang dần rời khỏi phạm vi của các cam kết hình ảnh để trở thành một phần trong chiến lược sống còn của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Có những người Việt trẻ không chịu chấp nhận "'phận gia công". Bằng trí tuệ và nỗ lực, họ trở thành nhà cung ứng chủ lực cho các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới.
Cơ duyên đến với ngành bán dẫn và hàng không của anh Nguyễn Trọng Đáng - Giám đốc Công ty TNHH cơ khí chính xác Việt Nguyên - là khi về đầu quân cho một công ty của Mỹ. Sau khi làm việc 5 năm, năm 2011 anh Đáng ra riêng, thành lập Công ty Duy Việt - với ý nghĩa là tư duy của người Việt.
"Đầu những năm 2010 ngành bán dẫn ở Việt Nam còn mới mẻ, đa phần chỉ làm khuôn mẫu. Chúng tôi nhận được đơn hàng có tính quyết định vào năm 2013, làm linh kiện trong máy test (kiểm nghiệm) con chip trong sản phẩm iPhone của Apple. Khi đó chúng tôi không vay được ngân hàng, tài sản thế chấp không có, đơn hàng nhiều, nhưng đối tác đã cho ứng trước tiền và được trả chậm tiền vật liệu", anh Đáng kể.
Doanh thu năm 2016 chỉ khoảng 3 tỉ đồng, đến năm 2020 lên 20 tỉ/năm, công ty đổi tên là Việt Nguyên - với ý nghĩa kỷ nguyên của Việt Nam. Năm 2025, Việt Nguyên ghi nhận doanh thu tính bằng trăm tỉ đồng, nhà xưởng từ lúc ban đầu 200m2 được mở rộng lên 6.000m2.
Theo anh Đáng, đó là cả quá trình gian nan khi khởi nghiệp chỉ có 160 triệu để mua một chiếc máy làm những "đơn hàng lặt vặt" sửa sản phẩm lỗi. Tích lũy được ít nào, công ty đầu tư máy móc nhằm đáp ứng những đơn hàng mới, những "con hàng khó".
Như linh kiện trong máy test iPhone (giá đặt con chip để thực hiện kiểm nghiệm sản phẩm bị lỗi) có những modem kích thước vài mm, nhưng có tới 14 "con hàng", nên chỉ một chi tiết lỗi sẽ phải bỏ cả sản phẩm.
Anh Đáng kể có lần đối tác tại Đức đặt sản phẩm cúp nối trục - một linh kiện trong máy kiểm nghiệm sản phẩm iPhone với giá 39 euro, nhưng vẫn có "con hàng" bị lỗi và gửi về Việt Nguyên sửa chữa.
Một lần tình cờ đối tác hỏi "Bạn làm được không?", anh nói ngay "Chúng tôi làm được!", dù thực tế chưa hình dung sẽ phải làm gì. Bản vẽ được gửi đến, sản phẩm được nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm và được khách hàng "duyệt" ngay lần đầu, giá lại chỉ bằng một nửa.
Nhờ vậy công ty ký được đơn hàng sản xuất lên tới cả chục triệu USD, mở rộng dần những linh kiện phức tạp.
Đến nay Việt Nguyên đã có thể sản xuất được tới 60% linh kiện trong máy test con chip của iPhone, đi tới gần nhất công nghệ lõi là xử lý con chip. Cùng đó công ty tham gia vào lĩnh vực hàng không, trở thành nhà cung ứng linh kiện cabinet cho các hãng như Safran và Boeing.
Giới thiệu dây chuyền trong nhà máy có quy mô 2.700m2 tại phường Linh Xuân (TP.HCM), anh Đỗ Hoàng Trung - nhà sáng lập, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn công nghệ IDEA - công nhận nhiều người nghĩ doanh nghiệp Việt Nam đa số chỉ đi làm gia công.
Nhưng tại IDEA Group không chỉ có dây chuyền sản xuất tự động hóa ở mức cao, mà còn làm những sản phẩm robot, xe tự hành... do chính kỹ sư Việt nghiên cứu, chế tạo và sản xuất, xuất khẩu đi Nhật Bản, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Úc…
Niềm đam mê tự động hóa đến với anh Trung khi gần 20 năm trước anh học ngành chế tạo máy tại Nhật Bản. Khởi nghiệp với vai trò là nhà thiết kế, sau 5 năm thành lập công ty, đến năm 2015 anh bắt đầu hiện thực hóa giấc mơ tự chế tạo, sản xuất dây chuyền tự động hóa để cung ứng cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và xuất khẩu.
Anh Trung kể đó là hành trình liên tục cải tiến, chuẩn hóa quy trình và đầu tư cho đội ngũ. Đặc biệt doanh nghiệp phải đứng trước bài toán cạnh tranh khốc liệt với sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc. Vì vậy hướng đi của IDEA là chọn phân khúc cao cấp với hệ thống máy móc hiện đại theo tiêu chuẩn cao của các nước G7. Anh giảm chi phí để giá bán tốt, giao hàng đúng hẹn và chuyên nghiệp hóa dịch vụ hỗ trợ sửa chữa.
Hồi dịch COVID-19, một doanh nghiệp Nhật Bản chuyên sản xuất motor điện cho ô tô không mời được chuyên gia sang Việt Nam để sửa máy, đã đề nghị IDEA làm. Họ muốn xây dựng một hệ thống kiểm tra tự động tích hợp với tốc độ nhanh, độ chính xác cao, khả năng lưu trữ và truy xuất dữ liệu.
Đội ngũ IDEA dồn lực nghiên cứu, đưa ra loạt giải pháp. Kết quả thời gian kiểm tra giảm từ 5 phút/motor xuống 2 phút/motor; tỉ lệ sai sót phát hiện tăng 30% và lưu trữ 100% dữ liệu.
Anh Trung nói mỗi năm công ty dành tới 30% tổng chi phí cho nghiên cứu phát triển (R&D) để làm ra những sản phẩm "Make in Vietnam" thực sự.
Đến nay IDEA đã triển khai nhiều dự án ứng dụng như hệ thống tự động hóa dây chuyền lắp ráp motor với robot 6 trục và hệ thống kiểm tra tự động, tốc độ 4 giây/sản phẩm; giải pháp in 3D sử dụng cánh tay robot; ứng dụng xe tự hành AMR cho nhà máy sản xuất linh kiện điện tử; vận chuyển pallet tự động thay thế xe nâng có người lái…
Với Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, gắn với công nghệ và các sản phẩm chiến lược được xác định; cùng Nghị quyết phát triển kinh tế tư nhân, anh Đỗ Hoàng Trung kỳ vọng những lĩnh vực đầu tư như robot sẽ có thêm những chính sách hỗ trợ, ưu tiên sử dụng hàng Việt để doanh nghiệp Việt, trí tuệ Việt có nhiều cơ hội vươn lên, khẳng định trên toàn cầu.
Đóng cửa phiên giao dịch 15/6, giá vàng thế giới giao ngay tăng 90 USD lên 4.308 USD một ounce. Trong phiên, giá có thời điểm chạm 4.370 USD - cao nhất hơn một tuần. Đây là phiên thứ 3 liên tiếp kim loại quý đi lên. Sáng 16/6, giá tiếp tục nhích lên 4.310 USD.
Thị trường đi lên sau khi Mỹ và Iran cùng thông báo đã thống nhất các điều khoản để chấm dứt chiến sự. Động thái này hạ nhiệt rủi ro lãi suất tăng cao. Chỉ số Dollar Index hôm 15/6 cũng giảm 0,2%, khiến vàng bớt đắt đỏ với người mua bằng các tiền tệ khác.
Reuters trích lời một quan chức Mỹ cho biết bản ghi nhớ về chấm dứt chiến sự đã được Tổng thống Mỹ Donald Trump, Phó tổng thống JD Vance và Chủ tịch Quốc hội Iran ký kết. Trước đó, thông báo từ cả hai phía cho biết văn bản này sẽ được ký chính thức tại một buổi lễ ở Geneva ngày 19/6.
"Thị trường vàng đang dần bỏ qua cuộc xung đột. Thông tin về thỏa thuận hòa bình đã kéo lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ, đồng USD và giá dầu xuống. Đây là những rủi ro lớn nhất với lạm phát", Phillip Streible - chiến lược gia trưởng thị trường tại Blue Line Futures cho biết.
Vàng đã chịu sức ép từ khi xung đột Trung Đông bùng phát. Giá năng lượng cao kéo theo lo ngại lạm phát, làm tăng khả năng các ngân hàng trung ương nâng lãi suất. Việc này gây bất lợi cho vàng vì không sinh lãi.
Nhà đầu tư hiện hạ dự báo khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất vào tháng 12 xuống còn 58%, từ gần 70% tuần trước, theo công cụ theo dõi CME FedWatch. Sự chú ý hiện chuyển sang cuộc họp chính sách ngày 16-17/6 của Fed - cuộc họp đầu tiên dưới sự dẫn dắt của tân Chủ tịch Kevin Warsh.
"Diễn biến giá vàng tiếp theo sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào Warsh và những gì ông ấy sẽ nói về lộ trình lãi suất", Streible nhận định.
Ngoài vàng, các kim loại khác cũng tăng giá. Bạc chốt phiên 15/6 tăng gần 3% lên 70 USD một ounce. Palladium và bạch kim tăng tương tự.
Sáng 23/4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế: thu nhập cá nhân (TNCN), giá trị gia tăng (VAT), thu nhập doanh nghiệp và tiêu thụ đặc biệt.
Theo dự thảo luật, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ sẽ do Chính phủ quy định. Ủng hộ cách tiếp cận này, ông Nguyễn Duy Thanh, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cho rằng việc này sẽ tăng tính chủ động điều hành, phù hợp thực tế khi quy mô hộ kinh doanh rất đa dạng.
Tuy nhiên, ông cho rằng chưa rõ phương án điều chỉnh được Chính phủ tính toán thế nào. "Uỷ ban Kinh tế Tài chính đề nghị ngưỡng doanh thu chịu thuế từ 2 tỷ đồng, nhưng tôi đề xuất 3 tỷ đồng", ông nói.
Ông phân tích, mức 3 tỷ đồng tương ứng với doanh thu 250 triệu đồng mỗi tháng. Theo tính toán của ông, sau khi trừ các chi phí như thuê mặt bằng, lãi suất, nhân công, hộ kinh doanh còn lợi nhuận khoảng 10%, tương đương 20 triệu đồng.
"Mức 20 triệu cho một gia đình có hai vợ chồng và hai con, chia ra khoảng 5 triệu đồng mỗi người là mức thu nhập khá thấp", ông Thanh nói thêm.
Bên cạnh đó, ông đề xuất cần đưa ra tiêu chí, hoặc quy định mức doanh thu tối thiểu và tối đa được miễn thuế để đảm bảo ổn định, rõ ràng. Theo ông Thanh, các tiêu chí này gồm thu nhập bình quân đầu người, mức sống dân cư hoặc chỉ số giá tiêu dùng để Chính phủ có cơ sở điều chỉnh minh bạch, dự báo trước.
Tương tự, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế Tài chính của Quốc hội cũng cho rằng cần quy định khung chịu thuế với hộ kinh doanh từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng, sau đó Chính phủ sẽ xác định ngưỡng cụ thể trong mức này.
Ông Hiếu nhìn nhận cách làm này có thể giúp Quốc hội cũng được quyết định ngưỡng chịu thuế tối thiểu và tối đa. "Ngưỡng tối thiểu quá thấp sẽ gia tăng gánh nặng chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn nếu ngưỡng tối đa quá cao, chúng ta phải tính đến bài toán cân bằng giữa giảm gánh nặng chi phí và việc thu ngân sách", ông nói. Theo ông Hiếu, ngưỡng miễn thuế quá cao cũng có thể dẫn đến tình trạng các cơ sở kinh doanh "không muốn lớn".
Trong khi đó, bà Trịnh Thị Tú Anh, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị mức sàn ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh là 1 tỷ đồng, còn ngưỡng trần 2 tỷ. Theo bà, ngưỡng chịu thuế 500 triệu đồng hiện nay cao hơn khoảng 4 lần GDP bình quân đầu người - thấp hơn đáng kể so với thông lệ quốc tế.
Bà dẫn số liệu khảo sát tại một số nước có nền kinh tế quy mô tương đồng Việt Nam ở Đông Nam Á, châu Á cho thấy ngưỡng miễn thuế với khu vực kinh tế nhỏ từ 8 đến 15 lần GDP bình quân đầu người. Nếu áp dụng thông lệ này vào Việt Nam, bà Tú Anh ước tính ngưỡng chịu thuế là 1-1,9 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, bà đề nghị giảm chi phí tuân thủ cho người dân và hộ kinh doanh "như một yêu cầu bắt buộc trong thiết kế chính sách". Theo bà, cơ quan thuế cần đơn giản hóa quy trình, cung cấp công cụ thật sự dễ dùng để người dân tiết kiệm thời gian.
Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa đưa ra phương án áp dụng sắc thuế cố định với hộ kinh doanh có doanh thu 1-3 tỷ đồng. Với hộ thu trên 3 tỷ đồng một năm, ông nói cần "bồi dưỡng lên doanh nghiệp".
Lắng nghe ý kiến của các đại biểu, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn dành khoảng 3 phút giải trình, làm rõ thêm các vấn đề. Theo phương án Bộ Tài chính trình Chính phủ, ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh dự kiến từ 1 tỷ đồng - tức cao gấp đối hiện tại.
Ông Tuấn nói rằng ngưỡng này đã được Bộ Tài chính "cân nhắc nhiều mặt và tính toán rất kỹ lưỡng tác động đến thu ngân sách, nhóm nộp thuế".
Theo Bộ trưởng Tài chính, việc tăng gấp đôi ngưỡng miễn thuế dự kiến làm giảm thu ngân sách khoảng 7.000 tỷ đồng. Trong đó, giảm thu từ hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ lần lượt khoảng 4.800 tỷ và 2.200 tỷ đồng. Dù vậy, ông nói sẽ tiếp tục cân nhắc kỹ, báo cáo trình Quốc hội.
Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2022-2025 cả nước có 3-4 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định, đóng góp khoảng 2% tổng thu ngân sách. Riêng năm ngoái, số thu thuế từ khu vực này đạt 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ.