Thời gian gần đây, nhiều vụ ngộ độc sau khi ăn bánh mì đã liên tiếp xảy ra khiến hàng trăm người phải vào viện điều trị. Riêng vụ tại Nghệ An ghi nhận 62 ca ngộ độc do vi khuẩn Salmonella, hay gần đây nhất là ở Quy Nhơn với 39 người nhập viện.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Cấp cứu, Hồi sức tích cực và chống độc, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), nhiệt độ khoảng 37 – 40°C là điều kiện lý tưởng để vi khuẩn sinh sôi, từ vài tế bào ban đầu có thể tăng lên hàng triệu chỉ sau vài giờ.
Bác sĩ Thành cho hay, bánh mì là môi trường thuận lợi để vi khuẩn phát triển do chứa nhiều nguyên liệu giàu protein và chất béo như pate, chả, thịt nguội – nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho các vi khuẩn như Salmonella, E. coli hay Staphylococcus aureus sinh sôi. Ngoài ra, sốt mayonnaise, bơ và nước sốt tạo độ ẩm; trong khi ruột bánh mì có nhiều tinh bột và độ pH trung tính, càng khiến vi khuẩn phát triển nhanh hơn.
Các nguyên liệu sống như rau, dưa leo, đồ chua cũng khó được khử khuẩn hoàn toàn và có thể mang vi khuẩn từ đất, nước tưới hoặc khâu sơ chế không đảm bảo.
Bác sĩ Thành cũng lưu ý nguy cơ lớn nằm ở khâu bảo quản lưu động. Nhiều xe bánh mì dùng tủ kính dưới trời nắng khiến nhiệt độ bên trong tăng cao như “lò ủ nhiệt”, trong khi pate, thịt nguội hay bơ trứng cần được bảo quản dưới 5°C. Môi trường bụi bặm, ruồi nhặng xung quanh càng làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.
Theo bác sĩ Đức Thành, nhiều thói quen tưởng vô hại lại có thể làm tăng nguy cơ hoặc khiến ngộ độc bánh mì nặng hơn.
Tích trữ bánh mì trong túi nilon ở nhiệt độ phòng: Bánh mì mua từ sáng nhưng để đến trưa, chiều mới ăn dễ bị nhiễm khuẩn vì môi trường kín, nóng ẩm trong túi nilon tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển nhanh.
Uống sữa hoặc dùng sản phẩm từ sữa cùng bánh mì: Khi bụng đói hoặc đang rối loạn tiêu hóa, sữa có thể gây đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy. Nếu ruột đã bị tổn thương do độc tố vi khuẩn, cơ thể còn khó dung nạp lactose hơn, khiến triệu chứng nặng thêm.
Không hâm nóng kỹ bánh mì cũ: Chỉ làm nóng vỏ bánh mà không làm nóng kỹ phần nhân (khoảng 74°C) sẽ khó tiêu diệt hết vi khuẩn như Salmonella hay Listeria.
Vừa cầm tiền, điện thoại vừa ăn: Tay tiếp xúc với tiền mặt, điện thoại, tay ga xe máy… rồi cầm bánh mì có thể đưa vi khuẩn vào cơ thể.
Theo thạc sĩ – bác sĩ Võ Thị Tố Hi, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM), trong thời tiết nóng, điều quan trọng nhất là kiểm soát nhiệt độ bảo quản thực phẩm. Các loại nhân và thực phẩm giàu đạm cần được bảo quản lạnh đúng cách thay vì để ở nhiệt độ phòng trong nhiều giờ. Cần siết chặt vệ sinh khu vực chế biến, quy trình rửa tay, nguồn gốc nguyên liệu, bảo quản lạnh và kiểm soát nhiễm khuẩn chéo giữa thực phẩm sống – chín.
Một vấn đề rất quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ là tuyên truyền, đào tạo kiến thức an toàn thực phẩm cho người trực tiếp chế biến. Trong nhiều trường hợp, nguy cơ mất an toàn không xuất phát từ cố ý vi phạm mà do thiếu hiểu biết về nguyên tắc bảo quản thực phẩm trong thời tiết nóng.
“An toàn thực phẩm không nên chỉ được quan tâm sau khi xảy ra ngộ độc. Với các món ăn phổ biến như bánh mì, việc kiểm soát cần được thực hiện ngay từ khâu chế biến, bảo quản đến phân phối để giảm nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng”, bác sĩ Tố Hi nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục khám chữa bệnh (Bộ Y tế), hiện nay thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất về bệnh hiếm. Cách tiếp cận phổ biến là dựa trên tỷ lệ mắc trong cộng đồng. Trên toàn cầu, ước tính có khoảng 7.000-10.000 bệnh hiếm khác nhau, bao gồm nhiều nhóm bệnh như rối loạn chuyển hóa, rối loạn huyết học, rối loạn miễn dịch, dị tật bẩm sinh, bệnh thần kinh và cả các bệnh ung thư hiếm (khoảng 500 loại).
Mỗi bệnh chỉ xuất hiện ở một tỷ lệ rất nhỏ dân số, nhưng tổng số người mắc lại rất lớn. Ước tính toàn cầu có khoảng 300 triệu người, tương đương khoảng 4% dân số thế giới, đang sống chung với bệnh hiếm. Tại châu Âu, con số này dao động từ 27 đến 36 triệu người, chiếm khoảng 6-8% dân số. Ở Mỹ, khoảng 25-30 triệu người được ghi nhận mắc bệnh hiếm.
Việt Nam ghi nhận khoảng 100 loại bệnh hiếm, với khoảng 6 triệu người mắc, trong đó 58% trường hợp là trẻ em. Khoảng 30% trẻ bệnh hiếm tử vong trước 5 tuổi do không được điều trị kịp thời. Việc tiếp cận thuốc điều trị gặp nhiều khó khăn do chi phí cao và chưa được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả đầy đủ.
Hiện, Việt Nam cũng chưa có văn bản quy phạm pháp luật chính thức định nghĩa hoặc quy định riêng về bệnh hiếm. Điều này khiến việc xây dựng chính sách hỗ trợ, quản lý và điều trị còn nhiều thách thức.
Một trong những thách thức lớn nhất của bệnh hiếm là việc chẩn đoán sớm và chính xác. Số ca bệnh ít khiến bác sĩ ít có cơ hội tiếp xúc và dễ bỏ sót dấu hiệu. Ngoài ra, số cơ sở y tế có năng lực chẩn đoán - điều trị bệnh hiếm còn hạn chế và chưa có quy trình chẩn đoán bài bản, chuẩn hóa từ sàng lọc, chuyển tuyến đến xét nghiệm chuyên sâu. Vì vậy, nhiều bệnh nhân phải trải qua hành trình chẩn đoán kéo dài 5 năm hoặc hơn, qua nhiều chuyên khoa và nhiều cơ sở y tế khác nhau mới có thể được xác định đúng bệnh
Ngay cả khi đã được chẩn đoán, cơ hội điều trị cũng rất hạn chế. Tại Mỹ, khoảng 10% bệnh hiếm có phác đồ điều trị được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt. Điều này đồng nghĩa với việc phần lớn bệnh nhân chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.
Bên cạnh đó, chi phí điều trị các bệnh hiếm thường rất cao do chi phí nghiên cứu lớn, thuốc ít được sản xuất và số lượng bệnh nhân nhỏ. Vì vậy, nhiều loại thuốc khó tiếp cận, đặc biệt tại các quốc gia có nguồn lực y tế hạn chế.
Theo TS Nguyễn Khánh Phương, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (Bộ Y tế), bệnh hiếm là thách thức y khoa và là gánh nặng kinh tế rất lớn đối với người bệnh, gia đình và toàn xã hội. Một nghiên cứu tại Mỹ năm 2019, dựa trên dữ liệu thanh toán của 15,5 triệu bệnh nhân với 379 bệnh hiếm, cho thấy tổng chi phí liên quan đến bệnh hiếm lên tới 997 tỷ USD. Con số này bao gồm chi phí y tế trực tiếp, chi phí phi y tế như đi lại, ăn ở khi điều trị và chi phí gián tiếp do mất năng suất lao động.
Trong cơ cấu chi phí y tế, chi phí nằm viện chiếm tỷ lệ lớn nhất (32%), tiếp theo là chi phí thuốc điều trị (18%). Tuy nhiên, gánh nặng lớn nhất lại đến từ các chi phí gián tiếp như mất khả năng lao động, nghỉ việc, làm việc kém hiệu quả hoặc nghỉ hưu sớm - không chỉ đối với bệnh nhân mà còn cả người thân chăm sóc.
Chi phí điều trị trung bình cho một bệnh nhân bệnh hiếm tại Mỹ ước tính khoảng 28.913 USD mỗi năm, cao hơn nhiều so với các bệnh thông thường. Thực tế, gánh nặng chi phí của bệnh hiếm có thể cao gấp 5-10 lần so với các bệnh phổ biến.
Ngoài ra, nếu tính thêm các chi phí xã hội do tử vong sớm, gánh nặng kinh tế còn lớn hơn rất nhiều. Tại châu Âu, giá trị kinh tế của mỗi năm sống bị mất đi do tử vong sớm được ước tính khoảng 130.000 USD.
Việc không tiếp cận được điều trị phù hợp có thể làm chi phí bình quân của mỗi bệnh nhân tăng thêm khoảng 21,2% mỗi năm.
Những con số trên cho thấy một nghịch lý rằng từng bệnh có thể ít gặp, nhưng tổng gánh nặng của bệnh hiếm đối với hệ thống y tế và xã hội lại rất lớn. Vì vậy, nhiều quốc gia đã bắt đầu xây dựng chiến lược quốc gia về bệnh hiếm, thúc đẩy nghiên cứu, phát triển thuốc điều trị và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho bệnh nhân.
Hiện Quỹ Hy vọng - báo VnExpress phối hợp cùng vRace tổ chức giải chạy trực tuyến sống chung với bệnh hiếm, nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh hiếm và gây quỹ hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhi.
Độc giả có thể ký giải chạy tại đây.
Hỗ trợ trẻ em sống chung với bệnh hiếm là hoạt động trong chương trình Mặt trời Hy vọng. Thêm một sự chung tay của cộng đồng là thêm một tia sáng gửi tới thế hệ tương lai của đất nước. Độc giả có thể đồng hành cùng chương trình tại đây:
Miền Bắc, Trung đang bước vào đỉnh điểm nắng nóng, nhiều nơi vượt ngưỡng 40 độ C trong hôm nay và ngày mai, khiến điều hòa không khí trở thành thiết bị không thể thiếu. Các bác sĩ nêu những sai lầm khi dùng điều hòa mùa nóng có thể dẫn đến bệnh nghiêm trọng.
Theo đó, bác sĩ Trần Đình Thắng, Khoa Cấp cứu đột quỵ, Bệnh viện Lão khoa Trung ương (Hà Nội), nói sai lầm phổ biến nhất là chuyển trạng thái đột ngột từ môi trường nóng ngoài trời vào thẳng phòng điều hòa lạnh, hoặc ngược lại.
Khi đó, cơ thể không thích nghi kịp, mạch máu co đột ngột, gây choáng váng. Người cao tuổi, trẻ nhỏ và người lao động ngoài trời là nhóm nguy cơ cao nhất. "Cơ thể cần một giai đoạn chuyển tiếp để hạ nhiệt dần, không thể nhảy ngay từ nóng sang lạnh hay ngược lại", bác sĩ Thắng nhận định.
Người làm việc ngoài trời thường ra nhiều mồ hôi, cần lau khô người trước khi vào phòng điều hòa để tránh hạ nhiệt đột ngột. Khi muốn ra ngoài, nên mở cửa đứng vài phút cho quen với nhiệt độ xung quanh rồi mới bước ra.
Một nguy cơ khác ít được chú ý là chất lượng không khí trong phòng ngủ. Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, chỉ ra rằng nhiều gia đình đóng kín hoàn toàn cửa phòng để giữ lạnh, trong khi con người liên tục hô hấp suốt đêm làm nồng độ CO2 tăng dần, gây mệt mỏi và ngủ không sâu.
Phòng kín lâu ngày còn tích tụ hơi ẩm, bụi mịn, mùi cơ thể và các hợp chất hữu cơ bay hơi từ đồ nội thất, chăn ga, sơn tường, khiến chất lượng không khí giảm thêm. Nhóm người cao tuổi, trẻ nhỏ, người mắc bệnh hô hấp mạn tính, tim mạch hoặc hen suyễn đặc biệt nhạy cảm với môi trường thiếu thông thoáng.
Để xử lý vấn đề này, chỉ cần mở hé cửa phòng hoặc cửa sổ vài centimet, không khí được trao đổi liên tục mà vẫn giữ được độ mát. Các gia đình có thể bổ sung thêm quạt trần, quạt hơi nước hoặc máy làm mát để phân tán luồng không khí.
Về nhiệt độ cài đặt, các bác sĩ khuyến cáo không để dưới 26–28 độ C và duy trì mức chênh lệch giữa trong và ngoài phòng không quá 7 độ C. Khi phòng đã đủ mát, nâng nhiệt độ lên tối thiểu 27–28 độ C.
Người cao tuổi và người có bệnh nền về tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường hoặc rối loạn mỡ máu cần hạn chế ra ngoài trong khung giờ nắng gắt, ưu tiên di chuyển vào sáng sớm hoặc chiều muộn khi thời tiết đã dịu bớt.
Bổ sung đủ nước mỗi ngày giúp tăng thể tích dịch cơ thể, ngăn máu cô đặc và hạn chế hình thành huyết khối. Duy trì chế độ ăn uống lành mạnh, kiểm soát cân nặng ổn định và tránh xa rượu bia, thuốc lá là những biện pháp hỗ trợ quan trọng trong đợt nắng nóng kéo dài này.
Bé trai sốt ba ngày, ói 6-7 lần mỗi ngày, không đi tiêu. Gia đình đưa bé đến bệnh viện địa phương điều trị bằng kháng sinh và thuốc chống nôn nhưng không cải thiện. Tình trạng ngày càng nặng với bụng chướng, đau, nôn ra dịch xanh nên được chuyển tuyến.
Ngày 30/4, BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết bệnh nhi nhập viện trong tình trạng huyết áp tụt 80/60 mmHg, thở nhanh, dịch dạ dày màu xanh rêu. Hình ảnh X-quang và CT Scan cho thấy các quai ruột non giãn, gợi ý tắc ruột.
Các bác sĩ chẩn đoán trẻ bị sốc nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết từ đường tiêu hóa kèm tắc ruột. Bệnh nhi được phối hợp nhiều biện pháp hồi sức tích cực và hội chẩn ngoại khoa mổ cấp cứu. Quá trình phẫu thuật, êkíp phát hiện dị vật mắc kẹt trong lòng ruột. Đoạn ruột phía dưới xẹp hoàn toàn, phía trên giãn to.
Do không thể đẩy dị vật xuống, bác sĩ buộc phải rạch ruột để lấy ra một quả cóc nhỏ kích thước khoảng 2x1,5 cm, sau đó khâu lại ruột. Sau mổ, bé được chuyển hồi sức ngoại, dần ổn định, cai máy thở, tỉnh táo và có thể ăn uống trở lại.
Khai thác thêm bệnh sử, gia đình cho biết trước đó mẹ bé có gọt sẵn cóc nhỏ để ăn vặt và đặt trong dĩa để trên ghế đẩu. Nhiều khả năng trẻ đã tự lấy ăn và nuốt trọn mà người lớn không hay biết.
Bác sĩ khuyến cáo phụ huynh không để trẻ tiếp cận các vật nhỏ, thức ăn nguyên hạt hoặc có nguy cơ gây hóc, tắc. Trái cây nên được cắt nhỏ, loại bỏ hạt trước khi cho trẻ ăn để phòng tránh dị vật đường tiêu hóa và đường thở.