Theo nghiên cứu, công bố trên tạp chí y khoa The Lancet Planetary Health, các yếu tố khí hậu như nhiệt độ tăng và thay đổi lượng mưa có liên quan đến mức tăng khoảng 10% số gene kháng kháng sinh ở vi khuẩn salmonella trong giai đoạn 1940 – 2023.
Salmonella là một trong những loại vi khuẩn gây bệnh phổ biến nhất thế giới, thường liên quan đến ngộ độc thực phẩm và các bệnh đường ruột. Ước tính kháng kháng sinh gây ra hơn 1 triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu.
Nghiên cứu mới, do các nhà khoa học từ Anh, Pháp, Úc, Thụy Sĩ và Trung Quốc thực hiện, đã phân tích bộ gene của hơn 480.000 mẫu vi khuẩn salmonella thu thập tại 139 quốc gia trong hơn 80 năm.
Nhóm nghiên cứu so sánh mức độ xuất hiện của các gene kháng kháng sinh với dữ liệu về nhiệt độ trung bình và lượng mưa theo thời gian, theo báo Guardian ngày 26-5.
Kết quả cho thấy nhiệt độ cao hơn cùng những thay đổi bất thường về mưa có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh tồn, đột biến và lây lan của vi khuẩn. Những điều kiện này cũng làm tăng số lượng gene kháng thuốc.
Trước đây, nhiều nghiên cứu từng ghi nhận mối liên hệ giữa thời tiết nóng hơn và sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc. Nghiên cứu mới được xem là một trong những nghiên cứu toàn cầu đầu tiên phân tích định lượng quy mô lớn về vấn đề này.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh nguyên nhân chính của kháng kháng sinh vẫn là việc lạm dụng và sử dụng sai thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu đang trở thành “yếu tố thúc đẩy” khiến vấn đề diễn biến nhanh và phức tạp hơn.
Nghiên cứu cho thấy 82% nước được khảo sát ghi nhận sự gia tăng gene kháng thuốc ở salmonella. Những khu vực chịu ảnh hưởng mạnh nhất gồm Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á và khu vực châu Phi hạ Sahara.
Các tác giả lưu ý rằng nghiên cứu chỉ cho thấy mối liên hệ chứ chưa chứng minh biến đổi khí hậu trực tiếp gây ra tình trạng kháng kháng sinh. Tuy vậy, họ cho rằng kết quả này là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy cuộc khủng hoảng khí hậu cần được xem là một phần trong chiến lược toàn cầu chống kháng thuốc.
Giới chuyên gia kêu gọi kết hợp các chính sách giảm phát thải khí nhà kính với việc sử dụng kháng sinh có trách nhiệm, tăng cường giám sát dịch bệnh… Nếu không hành động sớm, kháng kháng sinh có thể trở thành một trong những cuộc khủng hoảng y tế lớn nhất thế kỷ này.
Ngày 9-4, ông Nguyễn Chí Thanh - Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Tĩnh, cho biết ngành y tế và chính quyền địa phương đang tập trung toàn lực để khoanh vùng, không để dịch sốt xuất huyết Dengue lan rộng. Đồng thời thực hiện tốt công tác thu dung, khám và điều trị cho bệnh nhân.
Theo thông tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Tĩnh, từ ngày 3-4 đến nay, trên địa bàn tổ dân phố Hợp Tiến (phường Vũng Áng) xuất hiện 4 trường hợp mắc sốt xuất huyết Dengue. Đây được xác định là ổ dịch sốt xuất huyết Dengue đầu tiên trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay.
Bệnh nhân mắc đầu tiên là N.T.L.A. (28 tuổi, ngụ tổ dân phố Hợp Tiến, phường Vũng Áng). Ngày 3-4, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng sốt cao trên 38 độ C, kèm theo đau đầu dữ dội, chán ăn; đau cơ, đau khớp, đau nhức hai hố mắt.
Bệnh nhân đến một cơ sở y tế tại địa phương thăm khám, làm test nhanh sốt xuất huyết cho kết quả dương tính với NS1Ag. Đến ngày 7-4, tại tổ dân phố Hợp Tiến ghi nhận thêm 3 bệnh nhân mắc sốt xuất huyết có kết quả dương tính với NS1Ag.
Ngay sau khi có thông tin về trường hợp mắc sốt xuất huyết, lãnh đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Tĩnh phối hợp với chính quyền địa phương triển khai khẩn cấp các biện pháp phòng, chống dịch nhằm không để dịch lây lan ra diện rộng.
Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Tĩnh đề nghị trạm y tế và chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền các biện pháp phòng, chống dịch trên hệ thống loa phát thanh.
Tăng cường giám sát, yêu cầu các trường hợp có biểu hiện nghi ngờ đến ngay cơ sở y tế để được theo dõi, điều trị kịp thời; giám sát chặt chẽ các hộ dân quanh khu vực nhà bệnh nhân, tổ chức chiến dịch, huy động người dân ra quân làm vệ sinh môi trường, diệt lăng quăng, bọ gậy để phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết.
Yêu cầu Trạm y tế phường Vũng Áng tiến hành phun thuốc diệt muỗi trưởng thành cho tất cả các hộ dân trong bán kính 200m kể từ nhà có bệnh nhân. Khuyến cáo người dân chủ động diệt muỗi, lăng quăng tại hộ gia đình, theo dõi sức khỏe và đến cơ sở y tế khi có triệu chứng nghi ngờ.
Sáng 1/5, Bệnh viện Đa khoa khu vực Hướng Hóa đang điều trị 46 bệnh nhân nghi bị ngộ độc thực phẩm, trong đó có nhiều học sinh 11-15 tuổi.
Các bệnh nhân lần lượt nhập viện từ sáng 29/4 đến sáng 1/5, triệu chứng chung như sốt cao, tiêu chảy, nôn mửa, đau bụng, mệt mỏi. Bệnh nhân nhỏ nhất mới 50 tháng tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 46, đa số 11 đến 15 tuổi.
Trước khi xuất hiện các triệu chứng này, bệnh nhân đều ăn bánh mì từ tiệm bánh ở thôn Tân Sơn, xã Tân Lập.
Tại bệnh viện, bệnh nhân được truyền dịch, bù nước bằng đường uống, uống kháng sinh. Hiện tại, sức khỏe các bệnh nhân dần ổn định, không có trường hợp nặng.
UBND xã Tân Lập cho biết đã rà soát các trường hợp ăn bánh tại tiệm bánh ở thôn Tân Sơn. Những trường hợp có triệu chứng nghi ngộ độc, dù nặng hay nhẹ, đều được đưa đến bệnh viện để kiểm tra, điều trị.
Cơ quan chức năng đang lấy mẫu thực phẩm và bệnh phẩm để kiểm tra, làm rõ nguyên nhân.
Thời gian qua cả nước liên tục xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm sau ăn bánh mì. Nguyên nhân thường do nguyên liệu ăn kèm như pate, rau, thịt... nhiễm khuẩn Samonella gây nhiễm khuẩn chéo.
Các nhà khoa học tại Đại học College London và Đại học Glasgow (Anh) công bố kết quả mang tính bước ngoặt này tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội Thống kê Lâm sàng Mỹ (ASCO) ở Chicago ngày 30/5.
Cụ thể, thông qua thử nghiệm lâm sàng quốc tế mang tên Optima, nhóm nghiên cứu theo dõi hơn 4.000 bệnh nhân ung thư vú mới chẩn đoán tại Anh, Na Uy, Thụy Điển, Australia, New Zealand và Thái Lan.
Nghiên cứu sử dụng xét nghiệm hệ gene Prosigna - hoạt động bằng cách phân tích mức độ hoạt động của 50 gene bên trong mẫu mô khối u (tức bản đồ ADN của tế bào ung thư), qua đó chấm điểm mức độ hung hãn và dự báo rủi ro ung thư quay lại trong 10 năm tới.
Các chuyên gia tiến hành thử nghiệm trên 4.429 bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên mắc ung thư vú phụ thuộc nội tiết. Đây là dạng bệnh dùng chính hormone của cơ thể người bệnh làm nguồn nuôi dưỡng khối u, chiếm 80% tổng số ca mắc toàn cầu.
Nhóm nghiên cứu chia bệnh nhân thành hai nhánh. Ở nhánh tiêu chuẩn, bác sĩ cho bệnh nhân truyền hóa chất, sau đó dùng liệu pháp nội tiết (uống thuốc ức chế hormone). Ở nhánh ứng dụng xét nghiệm gene, bác sĩ chỉ định phác đồ dựa trên điểm số rủi ro. Những người điểm cao mới phải truyền hóa chất kết hợp thuốc nội tiết. Những người điểm thấp hoàn toàn bỏ qua hóa chất, chỉ uống thuốc nội tiết.
Sau 5 năm, dữ liệu cho thấy tỷ lệ điều trị thành công giữa hai nhóm gần như tương đương. Cụ thể, nhóm truyền hóa chất ghi nhận 95% bệnh nhân sống sót và không tái phát, trong khi nhóm bỏ qua hóa chất cũng đạt tỷ lệ 94%. Số liệu này khẳng định hóa trị không mang lại thêm lợi ích lâm sàng nào cho nhóm bệnh nhân có điểm nguy cơ thấp, mở đường cho việc loại bỏ hoàn toàn phác đồ độc tính cao này.
Bà Karen Bonham, 64 tuổi, sống tại Cardiff (Anh), phát hiện khối u vú kích thước 5 cm đã di căn hai hạch nách vào tháng 6/2017. Bác sĩ lúc đó lên lịch truyền hóa chất tiêu chuẩn, bà thậm chí đã cắt tóc ngắn để chuẩn bị cho quá trình rụng tóc.
Tuy nhiên, sau khi tham gia thử nghiệm Optima và nhận kết quả xét nghiệm gene nguy cơ thấp, bác sĩ hủy lịch hóa trị, chuyển sang áp dụng tia xạ và thuốc nội tiết. Gần 9 năm trôi qua, bà Bonham tận hưởng cuộc sống khỏe mạnh bình thường mà không phải chịu bất kỳ di chứng nào từ hóa chất.
Giáo sư Rob Stein chuyên ngành Ung thư vú tại UCL, trưởng nhóm thử nghiệm, khẳng định phát hiện mới giúp giới y khoa giải quyết bài toán khó lâu nay là nhận diện chính xác ai thực sự cần hóa trị và ai không. Giáo sư Iain MacPherson tại Đại học Glasgow đánh giá nghiên cứu cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để thay đổi cách bác sĩ định hình phác đồ. Nhờ đó, người bệnh tránh cảnh nôn mửa, kiệt sức, vô sinh, trong khi các cơ sở y tế tiết kiệm nguồn lực điều trị.