Theo Nghị quyết Hội đồng quản trị, Viettel Construction dự kiến phát hành hơn 13,7 triệu cổ phiếu mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị phát hành theo mệnh giá hơn 137,2 tỷ đồng.
Tỉ lệ thực hiện quyền là 100:12, tức cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu tại ngày chốt danh sách sẽ được nhận thêm 12 cổ phiếu mới. Đối tượng phát hành là các cổ đông hiện hữu có tên trong danh sách cổ đông được hưởng quyền.
Nguồn vốn thực hiện được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối theo báo cáo tài chính riêng và hợp nhất năm 2025 đã được kiểm toán. Thời gian phát hành dự kiến trong năm 2026 sau khi doanh nghiệp hoàn tất các thủ tục báo cáo với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Trong cơ cấu cổ đông, Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) đang sở hữu 65,66% số cổ phiếu tại Viettel Construction và sẽ nhận về thêm gần 9 triệu cổ phiếu CTR. Ông Đoàn Hồng Việt sở hữu 5%, tương ứng nhận thêm 685.000 cổ phiếu.
Trước đó, Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 đã thông qua kế hoạch phân phối lợi nhuận năm 2025 với tổng giá trị hơn 308,8 tỷ đồng, tương ứng tỉ lệ cổ tức 27%. Trong đó, 15% được chi trả bằng tiền mặt và 12% bằng cổ phiếu.
Về kết quả kinh doanh, quý I/2026, Viettel Construction ghi nhận doanh thu thuần gần 3.805 tỷ đồng, tăng 38,9% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận trước thuế đạt hơn 189 tỷ đồng, tăng 22,6%.
Năm 2026, doanh nghiệp đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 778 tỷ đồng. Như vậy, sau 3 tháng đầu năm, Viettel Construction đã hoàn thành khoảng 24,3% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của doanh nghiệp đạt 8.706 tỷ đồng, tăng 6,4% so với đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn đạt 7.1890 tỷ đồng, tăng 8,5%.
Một số khoản mục biến động đáng chú ý gồm đầu tư tài chính ngắn hạn tăng 48%, lên 2.395 tỷ đồng; các khoản phải thu ngắn hạn tăng 8,1%, lên 2.932 tỷ đồng; hàng tồn kho tăng 30,8%, đạt 556 tỷ đồng.
Ở phía nguồn vốn, tổng nợ phải trả đạt 6.492 tỷ đồng, tăng 6,1% so với đầu năm. Nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn với 5.998 tỷ đồng, tăng 7,1%.
Đáng chú ý, vay và nợ thuê tài chính tăng 25,1%, lên 2.202 tỷ đồng. Người mua trả tiền trước ngắn hạn đạt 1.222,5 tỷ đồng, tăng 1,6%; chi phí phải trả ngắn hạn đạt 1.018 tỷ đồng, tăng 18,9%.
Trong nhiều chu kỳ bất động sản trước đây, phần lớn nhà đầu tư đặt trọng tâm vào khả năng tăng giá của tài sản. Tuy nhiên khi chi phí vốn tăng lên, cấu trúc đánh giá hiệu quả đầu tư bắt đầu thay đổi.
Chi phí vốn cao không chỉ phản ánh lãi suất vay ngân hàng, mà còn là chi phí cơ hội của dòng tiền. Khi lãi suất tiền gửi phổ biến dao động khoảng 7–10%/năm, bất kỳ kênh đầu tư nào cũng phải chứng minh được khả năng tạo ra lợi nhuận vượt qua mức nền này. Điều này khiến nhiều nhà đầu tư chuyển sang cách tiếp cận thận trọng hơn: thay vì chỉ nhìn vào khả năng tăng giá trong tương lai, họ bắt đầu đánh giá dòng tiền khai thác thực tế của tài sản.
Trong bối cảnh đó, các tài sản phụ thuộc hoàn toàn vào kỳ vọng tăng giá thường trở nên kém hấp dẫn hơn. Ngược lại, những bất động sản có thể gắn với hoạt động khai thác thực, từ lưu trú, dịch vụ đến cho thuê dài hạn lại được đánh giá cao hơn trong danh mục của nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Đối với phân khúc căn hộ cao cấp tại các đô thị du lịch, lợi suất cho thuê thường được ước tính khoảng 8–12%/năm, tùy thuộc vào vị trí, công suất khai thác và chuẩn vận hành của dự án. Khi kết hợp với mức tăng giá tài sản theo chu kỳ, đây là nền tảng giúp nhiều nhà đầu tư xây dựng các kịch bản lợi nhuận trung hạn.
Chẳng hạn, với một kịch bản giả định phổ biến trong thị trường căn hộ cao cấp:
Kịch bản thứ nhất khi khách hàng nắm giữ bất động sản cao cấp trong 3 năm: Lợi suất cho thuê trung bình: khoảng 9%/năm, tăng giá tài sản: khoảng 5–8%/năm. Dẫn đến tổng lợi nhuận tiềm năng sau 3 năm có thể đạt 32–38%.
Kịch bản 2 khi khách hàng nắm giữ bất động sản cao cấp trong 5 năm: Lợi suất khai thác duy trì: khoảng 8%/năm, tăng trưởng giá trị tài sản: khoảng 6–10%/năm. Dẫn đến tổng lợi nhuận tiềm năng có thể đạt 60–80% trong 5 năm.
Các con số trên mang tính minh họa theo dữ liệu thị trường căn hộ cao cấp trong những năm gần đây, nhưng cho thấy rõ cách nhà đầu tư ngày càng nhìn bất động sản như một tài sản tạo dòng tiền, thay vì chỉ là công cụ đầu cơ tăng giá.
Đà Nẵng, với lợi thế là điểm đến du lịch quốc tế, đang hội tụ đủ điều kiện để chuyển dịch sang mô hình "bất động sản vận hành". Sự phục hồi mạnh mẽ của du lịch, cùng xu hướng lưu trú ngắn hạn cao cấp, khiến các sản phẩm căn hộ có thể khai thác như khách sạn trở thành lựa chọn ưu tiên. Trong bối cảnh đó, những dự án được quy hoạch bài bản, có tiêu chuẩn vận hành rõ ràng và vị trí trung tâm thực sự sẽ chiếm ưu thế.
Du lịch Đà Nẵng ghi nhận sự khởi đầu năm 2026 với nhiều con số ấn tượng. Hai tháng đầu năm, thành phố đón gần 2,5 triệu lượt khách.
Theo thống kê, công suất phòng bình quân toàn thành phố đạt khoảng 65–70%, trong khi khối khách sạn 4–5 sao đạt tới khoảng 85%. Tỷ lệ lấp đầy của các khách sạn từ 3 sao trở lên đạt khoảng 78%. Giá phòng bình quân cũng tăng khoảng 9% so với cùng kỳ, đạt gần 2 triệu đồng/phòng/đêm.
Những dữ liệu này là chỉ báo dẫn dắt quan trọng cho thị trường bất động sản. Chúng là thước đo trực tiếp cho nhu cầu thị trường, giúp nhà đầu tư tính toán tỉ suất lợi nhuận (ROI), bài toán dòng tiền cũng như khả năng tăng giá của tài sản trong dài hạn.
Đối với các dự án căn hộ tại khu vực lõi của thành phố, bài toán dòng tiền thường được hình thành từ ba lớp nền tảng. Lớp thứ nhất là vị trí tạo cầu thuê, tức khả năng tiếp cận trực tiếp với dòng khách du lịch, khách công tác hoặc chuyên gia làm việc tại thành phố. Lớp thứ hai là chuẩn sản phẩm và trải nghiệm, yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh về giá thuê và mức độ hấp dẫn đối với người lưu trú. Lớp thứ ba là chính sách tài chính, giúp giảm áp lực chi phí vốn trong giai đoạn đầu và tạo điều kiện cho tài sản ổn định công suất khai thác.
Khi ba yếu tố này đứng cùng nhau, nhà đầu tư có thể nhìn thấy rõ hơn công thức vận hành của một tài sản: làm sao giảm áp lực chi phí vốn trong giai đoạn đầu, tăng xác suất lấp đầy trong vận hành và từ đó tạo nền tảng cho giá trị tài sản trong dài hạn.
Tại Đà Nẵng, trục sông Hàn - Cầu Rồng là một trong những điểm đến hội tụ cả ba nền tảng tạo dòng tiền. Đây là khu vực tập trung lượng lớn khách du lịch, khách công tác và các hoạt động trải nghiệm đô thị về đêm. Nhờ hệ sinh thái sẵn có quanh sông Hàn và cầu Rồng, những dự án như The Legend Danang có điều kiện thuận lợi để khai thác ngay từ khi đi vào vận hành trong tương lai. Lợi thế vị trí giúp tài sản tiếp cận trực tiếp dòng khách du lịch và nhu cầu lưu trú tại trung tâm, thay vì phụ thuộc vào quá trình hình thành thị trường.
Trong bối cảnh thị trường bước vào giai đoạn chọn lọc, điều nhà đầu tư quan tâm không còn là khả năng tăng giá trong ngắn hạn. Câu hỏi quan trọng hơn là liệu tài sản đó có thể tự tạo ra dòng tiền đủ ổn định để vượt qua chu kỳ chi phí vốn hay không. Và chính ở điểm này, những căn hộ nằm trong lõi khai thác của đô thị thường có lợi thế rõ rệt hơn so với phần còn lại của thị trường.
Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 của CTCP Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị VINAHUD (UpCOM: VHD) cho thấy bức tranh kinh doanh với doanh thu ở mức rất thấp so với quy mô tài sản.
Trong kỳ, doanh thu thuần chỉ đạt 838 triệu đồng, giảm 95,9% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, doanh nghiệp không ghi nhận doanh thu từ chuyển nhượng bất động sản, toàn bộ nguồn thu đến từ hoạt động cung cấp dịch vụ. Giá vốn hàng bán ở mức 458 triệu đồng, đưa lợi nhuận gộp đạt 380 triệu đồng.
Cùng xu hướng, doanh thu tài chính giảm 42,5% xuống còn 4,36 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí tài chính vẫn ở mức cao 19,2 tỷ đồng, riêng chi phí lãi vay chiếm 15,1 tỷ đồng, dù đã giảm khoảng một nửa so với cùng kỳ.
Áp lực chi phí tài chính của VINAHUD chủ yếu vẫn liên quan đến các khoản vay quy mô lớn phục vụ hoạt động đầu tư dự án, dù dư nợ gốc đã có xu hướng giảm.
Chi phí quản lý doanh nghiệp tiếp tục ghi nhận hơn 8,4 tỷ đồng, trong khi chi phí bán hàng bằng 0 trong kỳ. Kết quả, VINAHUD lỗ sau thuế 23,27 tỷ đồng, mức lỗ giảm nhẹ so với cùng kỳ chủ yếu nhờ chi phí lãi vay giảm.
Tại thời điểm 31/3/2026, tổng tài sản của doanh nghiệp đạt 3.396 tỷ đồng, gần như không biến động so với đầu năm. Tiền và tương đương tiền cuối kỳ đạt 13,3 tỷ đồng, tăng khoảng 7,6 tỷ đồng so với đầu năm.
Cơ cấu tài sản tiếp tục cho thấy sự tập trung lớn vào hàng tồn kho với giá trị 1.683 tỷ đồng, chiếm 49,5% tổng tài sản, chủ yếu là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tại dự án Grand Mercure Hội An.
Các khoản phải thu ngắn hạn và dài hạn ở mức khoảng 1.141 tỷ đồng, tương đương 33,6% tổng tài sản, bao gồm cả các khoản phải thu cho vay và phải thu khác. Ngoài ra, chi phí trả trước dài hạn đạt 340 tỷ đồng, phần lớn là chi phí bán hàng liên quan đến dự án chưa được bàn giao.
Ở phía nguồn vốn, tổng nợ phải trả ghi nhận 3.441 tỷ đồng, cao hơn tổng tài sản. Trong đó, khoản người mua trả tiền trước ngắn hạn đạt 1.406 tỷ đồng, trong khi tổng dư nợ vay tài chính (ngắn và dài hạn) khoảng 1.264 tỷ đồng.
Đáng chú ý, trong cơ cấu nợ ghi nhận doanh nghiệp có nhiều khoản vay với các bên liên quan có giá trị lớn có thể kể đến như CTCP Tập đoàn R&H 151 tỷ đồng, CTCT Mê Linh Homes 1,5 tỷ đồng, CTCP T&N FINANCIAL HƠN 20,5 tỷ đồng, Công ty TNHH Kỹ thương Sông Hồng hơn 171 tỷ đồng...
Vốn chủ sở hữu tại cuối kỳ chuyển sang âm 44,7 tỷ đồng do lỗ lũy kế tăng lên hơn 425 tỷ đồng, vượt vốn điều lệ 380 tỷ đồng.
Trên thị trường, cổ phiếu VHD đã bị Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đưa vào diện hạn chế giao dịch từ ngày 9/4.
Đồng thời, đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 tổ chức sáng ngày 28/4 không đủ điều kiện tiến hành do tỉ lệ tham dự không đạt yêu cầu.
Đại diện cơ quan chủ trì xây dựng dự thảo phương án chấm điểm, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm cho biết, dự kiến sẽ chấm theo 2 mốc thời gian là chấm điểm định kỳ hằng tháng và cả năm.
Trong đó, kết quả chấm điểm cả năm là bộ chấm điểm chính để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ giải ngân được Thủ tướng Chính phủ giao. Đối với kết quả chấm điểm hằng tháng nhằm phục vụ biểu dương các bộ, cơ quan và địa phương giải ngân tốt và đôn đốc, nhắc nhở các bộ, cơ quan và địa phương giải ngân chưa tốt.
Đối với cả phương án chấm điểm hằng tháng và cả năm sẽ tập trung vào 2 nguồn vốn đầu tư công là nguồn vốn kế hoạch được giao trong năm và kế hoạch vốn được kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân từ các năm trước năm kế hoạch sang năm kế hoạch.
Về chỉ tiêu chấm điểm, đối với chấm điểm định kỳ hằng tháng: Tổng điểm là 100 điểm; gồm 3 chỉ tiêu thành phần với cơ cấu điểm: Tỉ lệ giải ngân kế hoạch vốn (gọi tắt là KHV) so với tỉ lệ giải ngân bình quân chung cả nước tính đến hết tháng (45 điểm); Số KHV đã giải ngân trong tháng so với số kế hoạch vốn đăng ký giải ngân trong tháng (45 điểm); Chấp hành chế độ báo cáo về tình hình giải ngân KHV trên Hệ thống cơ sở dữ liệu tổng hợp về tài chính (gọi tắt là chấp hành chế độ báo cáo) (10 điểm).
Đối với chấm điểm cả năm, tổng điểm là 100 điểm; gồm 2 chỉ tiêu thành phần với cơ cấu điểm như sau: Tỉ lệ giải ngân KHV so với tỉ lệ giải ngân cả nước phải hoàn thành theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (90 điểm) và chấp hành chế độ báo cáo (10 điểm).
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh, việc giải ngân vốn đầu tư công được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm và chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên. Đây là một trong những nhiệm vụ chính trị rất quan trọng hàng năm để phát triển kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm và góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
"Việc ban hành quy định về phương án chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công là rất cần thiết", Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nêu rõ và cho biết, không chỉ có lĩnh vực giải ngân vốn đầu tư công, sắp tới, Chính phủ cũng nghiên cứu việc áp dụng phương pháp tính KPI đối với một số nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương, qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ.
Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng, việc chấm điểm KPI trong giải ngân đầu tư công giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, nâng cao ý thức trách nhiệm chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính, kỷ cương công vụ và nêu cao tinh thần chủ động của từng tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công.
Qua báo cáo của Bộ Tài chính và ý kiến phát biểu của các bộ ngành, địa phương, Phó Thủ tướng thống nhất việc ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về phương án chấm điểm giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công.
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về vấn đề hướng dẫn các địa phương trong việc tính toán; rà soát lại để làm sao việc tính toán phục vụ chấm điểm KPI đơn giản nhất có thể. Việc tính toán, đánh giá, chấm điểm được thực hiện hằng tháng và đánh giá sâu theo quý.
Bộ Tài chính nghiên cứu tiếp thu đầy đủ ý kiến của các đại biểu dự họp để hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo đúng thẩm quyền, đúng hình thức văn bản theo quy định của pháp luật.