Hôm 20/5, trang weibo của Dazhong Daily đăng tải video một học sinh tiểu học ở thành phố An Dương, tỉnh Hà Nam, vừa làm bài tập, vừa đạp chân vào bàn đạp của chiếc máy khâu cũ theo nhịp đều đặn. Đầu cậu bé hơi lắc theo chuyển động, trong khi tay cầm bút lướt nhẹ trên trang giấy.
Mẹ cậu bé cho biết nghĩ ra cách này nhằm giúp con cải thiện khả năng tập trung. Lý do là con trai thường xuyên rung chân, nghịch tẩy và rời khỏi chỗ ngồi khi đang học.
Trước đó, người mẹ tra dầu vào máy khâu để không gây tiếng động, thay mặt bàn mới và gắn giá đỡ để con không phải cúi đầu quá thấp khi học. Chị cho rằng nhờ đó con có thể tập trung trong hơn một giờ, hiệu quả học tập cải thiện rõ rệt.
Đoạn video gây tranh luận trên mạng xã hội Trung Quốc về phương pháp dạy con. Nhiều bình luận cho rằng người mẹ có mẹo độc đáo, sáng tạo, và có cơ sở khoa học.
Theo quan niệm y học cổ truyền Trung Quốc, các động tác vận động bằng mũi chân có thể giúp dẫn nhiệt đi xuống, kích thích lưu thông khí huyết, từ đó khiến đầu óc tỉnh táo và dễ tập trung hơn khi học tập hoặc làm việc căng thẳng. Một người khác nhận định việc chuyển động nhịp nhàng và rung động nhẹ có thể kích thích não bộ, đồng thời giúp xoa dịu những đứa trẻ khó ngồi yên.
Một số người nói rằng câu chuyện gợi nhớ đến thời thơ ấu của họ, khi gia đình không đủ tiền mua bàn học tử tế và họ phải làm bài tập về nhà trên máy may của bà.
Nhưng không phải ai cũng xem đây là sáng kiến về kỷ luật học tập. Họ cho rằng nhiều phụ huynh cần xem xét việc cân bằng giữa học tập và cuộc sống hàng ngày của con. Khối lượng bài tập về nhà quá nhiều thường chiếm hết thời gian nghỉ ngơi của trẻ, dẫn đến mệt mỏi, khó tập trung và thị lực suy giảm.
Theo SCMP, bài tập về nhà từ lâu là câu chuyện gây căng thẳng trong các gia đình Trung Quốc. Sau giờ học, nhiều phụ huynh “lấp kín” thời gian trống của con bằng các lớp học online và gia sư.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Cơ hội giành Học bổng Thanh niên ASEAN tại Singapore – Philippines 2026

Chương trình Học bổng Thanh niên ASEAN (AYF), được thành lập vào năm 2018 trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Singapore, do Quỹ Quốc tế Singapore phối hợp tổ chức với Hội đồng Thanh niên quốc gia Singapore (NYC).
Mục tiêu của chương trình là thu hút và gắn kết các lãnh đạo trẻ ASEAN thông qua trải nghiệm học tập chuyên sâu, xây dựng và mạng lưới lãnh đạo thanh niên xuyên suốt các lĩnh vực ở Đông Nam Á và giới thiệu các cơ hội phát triển trong khu vực cho thanh niên ASEAN
Năm nay, AYF 2026 tiếp tục là chương trình phát triển lãnh đạo khu vực mang tính chọn lọc cao, nhằm bồi dưỡng và kết nối các nhà lãnh đạo trẻ ASEAN đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đối tượng tham gia là những chuyên gia trong độ tuổi từ 27 đến 35, là công dân của các quốc gia thành viên ASEAN, có khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo.
Ứng viên được đề cử cần có thành tích nổi bật trong lĩnh vực hoạt động của mình, cùng tiềm năng đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo quan trọng trong tương lai. Các học viên AYF trước đây bao gồm lãnh đạo cấp phòng trong cơ quan nhà nước, CEO và nhà sáng lập startup cấp quốc gia, đại diện các tổ chức xã hội dân sự, hoặc quản lý tại các doanh nghiệp tư nhân.
AYF 2026 sẽ diễn ra từ ngày 13 – 20.11, với nửa chặng đầu tại Singapore và phần còn lại tại Philippines.
Lấy cảm hứng từ chủ đề Năm Chủ tịch ASEAN 2026 của Philippines "Navigating Our Future, Together" (Cùng nhau định hướng tương lai), AYF 2026 tập trung vào ổn định khu vực, phát triển kinh tế và trao quyền cộng đồng trong ASEAN.
Sau chương trình, các học viên được khuyến khích hợp tác triển khai các dự án khu vực hoặc song phương. Các sáng kiến có thể nhận hỗ trợ từ Quỹ Thanh niên Singapore – ASEAN (SAYF) hoặc Quỹ Tác động AYF. Ngoài ra, học viên sẽ có cơ hội tái kết nối thông qua nhiều vai trò như diễn giả, điều phối viên hoặc người tham gia các nền tảng liên quan.
Những ứng viên trúng tuyển sẽ được tài trợ các chi phí chính như chỗ ở, đi lại và ăn uống.
Ứng viên đăng ký trực tuyến tại: go.gov.sg/ayf-apply trước chủ nhật, ngày 24.5.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tuy nhiên theo các chuyên gia, cần phải hiểu IELTS là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật chứ không nên chỉ học IELTS khi cần thi lấy chứng chỉ, đạt điểm số cho "bằng bạn bằng bè".
Chia sẻ tại buổi tư vấn trực tuyến chủ đề Học IELTS thế nào chuẩn bị cho các kỳ thi lớn? của Báo Thanh Niên diễn ra hôm 5.5, tiến sĩ (TS) Đỗ Hữu Nguyên Lộc, Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy tiếng Anh TP.HCM (TESOL TP.HCM), cho biết theo quy chế tuyển sinh 2026 của Bộ GD-ĐT thì thí sinh có chứng chỉ IELTS được chọn một trong 2 hình thức: hoặc quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển, hoặc được cộng điểm. Với quy định của Bộ GD-ĐT thì IELTS không thể là tấm vé "2 trong 1", vừa được quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển vừa được cộng điểm nữa. Đồng thời, thí sinh cũng có thể sử dụng chứng chỉ IELTS, tùy mức điểm, để xét học bổng khi trúng tuyển đầu vào ĐH, hay sử dụng khi du học. Nhưng không phải vì những ích lợi của tấm vé IELTS, mà phụ huynh, học sinh (HS) ngộ nhận về việc học tiếng Anh, ngộ nhận về IELTS.
TS Lộc cho rằng một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là phụ huynh thường nhìn việc học tiếng Anh của trẻ tiểu học bằng tiêu chuẩn của người lớn: xem học tiếng Anh để thi sao cho đạt IELTS 7.0 hay 8.0; trẻ muốn học giỏi tiếng Anh là phải học nhiều ngữ pháp, làm nhiều bài tập, hoặc luyện thi chứng chỉ càng sớm càng tốt; hoặc nghĩ rằng trẻ phải phát âm giống người bản xứ mới được xem là giỏi; hay học với giáo viên (GV) nước ngoài thì hiệu quả hơn… Nhưng ở lứa tuổi tiểu học, điều quan trọng hơn là trẻ được tiếp xúc với tiếng Anh một cách tự nhiên, nghe, nói nhiều, bắt chước, tương tác, chơi trò chơi, sử dụng ngôn ngữ trong tình huống quen thuộc. Đặc biệt với trẻ em, yếu tố quan trọng là GV có hiểu tâm lý lứa tuổi, biết tổ chức hoạt động, biết điều chỉnh ngôn ngữ và biết giúp trẻ tiến bộ từng bước. Đó là lý do không phải ai có điểm IELTS cao cũng dạy được tiếng Anh, đặc biệt là dạy cho trẻ em.
Nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL IELTS Đình Lực, cho biết nếu nghĩ chỉ học tiếng Anh 1 - 2 năm là đạt được điểm IELTS mơ ước thì không khả thi; nhất là khi vào bậc THPT, HS vừa có quá nhiều môn học, kỳ thi để lo lắng, trong khi nếu học IELTS sớm, HS được bồi đắp vốn kiến thức, vốn tiếng Anh học thuật, xây dựng tư duy của mình, chứ không phải với tâm thế "học để thi".
Hơn nữa, lứa tuổi tiểu học là giai đoạn vàng để HS học nghe, nói tiếng Anh, bồi đắp tư duy, phát triển kiến thức. Do đó, nên trả IELTS về đúng vị trí của nó - học để các em phát triển ngôn ngữ và tư duy, kết nối với thế giới - không phải là một đường đua điểm số.
TS Đỗ Hữu Nguyên Lộc nhìn nhận: "Nếu học IELTS ở tiểu học bằng cách cho các em luyện đề thật, học mẹo làm bài, viết bài nghị luận học thuật, hoặc chạy theo mức điểm từ quá sớm, điều này có thể quá sức và chưa phù hợp. HS tiểu học chưa có nhu cầu thực tế phải thi IELTS ngay. Quan trọng hơn, các em đang trong giai đoạn hình thành ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc học tập và sự tự tin. Nếu đưa áp lực thi cử vào quá sớm, trẻ có thể học một cách máy móc, thậm chí mất hứng thú với tiếng Anh".
Ông Lộc nói thêm: "Nếu IELTS được hiểu là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật, thì câu chuyện sẽ khác. Ở cấp tiểu học, các em hoàn toàn có thể làm quen với những năng lực nền tảng mà sau này IELTS cần: nghe hiểu ý chính, mô tả tranh, kể chuyện, so sánh, đưa ra lý do đơn giản, đọc văn bản phù hợp với lứa tuổi, viết câu và đoạn ngắn rõ ràng. Vấn đề không nằm ở chữ IELTS mà nằm ở cách chương trình được thiết kế".
Nghiên cứu sinh Như Quỳnh cũng cho hay hiện nay nhiều HS tiểu học đã học các chương trình Starter, Mover, Flyer; nhiều em mới lớp 2, lớp 3 đã hoàn thành Flyers, có nền tảng tiếng Anh khá vững. Sau khi hoàn thành các cấp độ trên, HS thường đã có vốn từ vựng, ngữ pháp và mẫu câu giao tiếp đủ tốt để miêu tả những điều quen thuộc xung quanh mình, cũng như giao tiếp cơ bản trong các tình huống đời thường. Vì vậy, khi chuyển lên IELTS ở bậc THCS, các em không bắt đầu từ con số 0, mà đã có một bước đệm tốt về ngôn ngữ.
Thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Anh, giảng viên tại DOL IELTS Đình Lực, cho rằng hoàn toàn khả thi nếu một HS tiểu học đạt được 7.0 IELTS, nếu em đó có phương pháp học tập, lộ trình phù hợp. Ví dụ, HS được học Starters từ lớp 1, Movers ở lớp 2, Flyers ở lớp 3, sau đó chuyển sang IELTS THCS trong giai đoạn lớp 4, lớp 5 và lớp 6. Khi lên lớp 7 hoặc lớp 8, các em có thể bắt đầu học IELTS theo hướng chuyên sâu hơn. "Còn lại nếu chỉ học IELTS bằng cách học tủ, học mẹo, luyện đề, học tập nhồi nhét để lấy điểm số thì điều này vừa áp lực, vừa không khả thi với HS tiểu học, THCS", thạc sĩ Ngọc Anh nói.
Phạm Vũ Thiên Di, lớp 6 Trường THCS - THPT Trần Đại Nghĩa, TP.HCM, đang học IELTS tại DOL English. Di cho biết lý do học IELTS sớm: "Con thấy giỏi tiếng Anh thì nghe được nhiều loại nhạc, xem nhiều loại phim và đọc được nhiều sách, tìm hiểu được nhiều nền văn hóa. Con cũng thích đi du lịch, du học và mọi thứ sẽ dễ dàng hơn nếu mình giỏi ngoại ngữ từ sớm. Nên con nghĩ cái gì mình có cơ hội chinh phục trước thì mình tập trung học giỏi để từ đó có nền tảng chinh phục, cải thiện các kỹ năng khác. Con thấy việc học vui vẻ, không áp lực". Mỗi ngày trên lớp, Di thường nói chuyện bằng tiếng Anh với các bạn. Khi rảnh rỗi, em xem các chương trình, nghe nhạc bằng tiếng Anh.
Tin Gốc: Thanh Niên

Nội dung trên nằm trong nghị định 91 của Chính phủ, quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Cụ thể, để được công nhận là "đại học", tỷ lệ giảng viên quốc tế (bao gồm cả giảng viên người Việt ở nước ngoài) tham gia giảng dạy trong 12 tháng ở các trường chiếm tối thiểu 5% tổng số giảng viên cơ hữu. Số có trình độ tiến sĩ đạt tối thiểu 60%.
Về quy mô, các đại học phải có ít nhất 3 trường thành viên, 25 ngành ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô đào tạo đạt từ 15.000 người trở lên. Trong đó, tối thiểu 20% người học các chương trình sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Tỷ lệ sinh viên quốc tế đạt 3% trở lên.
So với quy định cũ, hầu hết yêu cầu chặt chẽ hơn. Trước đó, Chính phủ không yêu cầu cụ thể tỷ lệ về đội ngũ giảng viên hay sinh viên quốc tế, người học sau đại học như trên.
Ngoài ra, nghị định còn đưa ra điều kiện về nghiên cứu khoa học. Trong đó, tỷ lệ sản phẩm bình quân của một giảng viên cơ hữu trong một năm ít nhất là một bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích. Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng nguồn thu sự nghiệp của trường.
Các "trường đại học" phải duy trì liên tục điều này trong ít nhất 3 năm mới được lên "đại học".
Tiêu chí thành lập trường trực thuộc cũng khó hơn trước, khi phải có ít nhất 5 ngành đào tạo cùng lĩnh vực ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô người học từ 3.000 trở lên, thay vì 2.000 như cũ.
Ngoài ra, trường phải có nhóm nghiên cứu mạnh, bình quân mỗi giảng viên phải có một bài báo khoa học, tương tự điều kiện đối với đại học.
Chi tiết các tiêu chí để trường đại học chuyển thành đại học như sau:
Tiêu chí
Quy định hiện nay (ban hành năm 2019)
Quy định mới
Số trường trực thuộc
Ít nhất 3 trường
Ít nhất 3 trường
Quy mô người học
15.000
15.000
Ngành đào tạo tiến sĩ
10 ngành
25 ngành
Giảng viên trình độ tiến sĩ
Không quy định cụ thể
Ít nhất 60%
Giảng viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 5%
Người học sau đại học
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%
Số sinh viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 3%
Bình quân số bài báo khoa học/sách xuất bản/bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích của một giảng viên trong một năm
Không quy định cụ thể
Ít nhất 1
Tỷ lệ thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo so với tổng thu
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%
Theo Luật Giáo dục đại học, trường đại học và đại học là hai khái niệm khác nhau. Trường đại học, học viện là cơ sở đào tạo và nghiên cứu nhiều ngành. Còn đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, gồm các trường đại học, khoa thành viên.
Cả nước hiện có 13 đại học, trong đó có 11 cơ sở công lập gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Bách khoa Hà Nội, Kinh tế TP HCM, Kinh tế Quốc dân, Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Trà Vinh. Hai đại học tư thục là Duy Tân và Phenikaa.
Theo quy định mới, nhiều trường không đạt. Ví dụ, ở tiêu chí tỷ lệ giảng viên là tiến sĩ, Đại học Công nghiệp Hà Nội hay Kinh tế TP HCM mới chỉ đạt 35-45%, theo báo cáo thường niên của trường, trong khi Bộ yêu cầu tối thiểu là 60%.
Về tỷ trọng nguồn thu từ khoa học công nghệ, hầu hết thấp hơn nhiều so với mức 20%. Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, nguồn thu này chỉ chiếm hơn 6,7% tổng thu (năm 2024), Kinh tế Quốc dân là hơn 3% (năm 2023).
Chính phủ yêu cầu các đại học hiện nay phải có kế hoạch, lộ trình đáp ứng các điều kiện mới trong thời hạn 5 năm, kể từ nay.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/siet-duong-tu-truong-len-dai-hoc-5057394.html

