Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký quyết định số 940 của Thủ tướng, phê duyệt đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045” với quan điểm phát triển VNeID thành siêu ứng dụng, đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia.
Trong đó, mục tiêu đến năm 2028, hoàn thành việc đồng bộ khung thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, ổn định cho việc phát triển, vận hành, khai thác, mở rộng VNeID.
Hoàn thành triển khai 100% hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, phần mềm phục vụ phát triển VNeID để điều chỉnh kiến trúc, nâng cấp tổng thể.
Hoàn thành phát triển VNeID thành siêu ứng dụng, ưu tiên phát triển, hoàn thiện các ứng dụng lõi, ứng dụng cơ bản.
Hoạch định kế hoạch phát triển hệ sinh thái số trên VNeID giai đoạn 2026 – 2030.
Cấp 100% tài khoản định danh điện tử cho cá nhân (người Việt Nam, người nước ngoài), cơ quan, tổ chức đủ điều kiện, có nhu cầu.
100% đối tượng được tiếp nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí, chi trả an sinh xã hội được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử trên VNeID.
Tích hợp 100% giấy tờ công dân, tổ chức theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
100% thuê bao di động được đăng ký, xác thực thông tin trên VNeID.
Bước đầu tích hợp trí tuệ nhân tạo giúp nâng cao hiệu quả sử dụng, trải nghiệm số cho người dùng.
80% công dân có đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến.
Đến năm 2030, hoàn thành 100% phát triển hệ sinh thái số trên VNeID trên cơ sở hoạch định giai đoạn đến 2030.
100% công dân có tài khoản VNeID mức độ 2, được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử trên VNeID khi có nhu cầu.
100% công dân có đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời hoàn thiện các dịch vụ tin cậy trên VNeID, tích hợp với VNeID để phục vụ các giao dịch dân sự của người dân, doanh nghiệp.
70% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm cá nhân hóa và nâng cao trải nghiệm người dùng.
70% người dùng được trải nghiệm dịch vụ thanh toán không sử dụng tiền mặt, thanh toán hóa đơn thiết yếu trên VNeID.
70% người dùng thường xuyên truy cập, sử dụng dịch vụ, tiện ích trong hệ sinh thái VNeID.
Đến năm 2045, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, công nghệ để bảo đảm hệ thống hoạt động ổn định, an toàn, thông suốt.
100% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm mang đến những trải nghiệm tốt nhất cho người dùng bao gồm các kỹ năng số khác nhau.
100% người dùng được trải nghiệm dịch vụ thanh toán không sử dụng tiền mặt, thanh toán hóa đơn thiết yếu trên VNeID.
90% người dùng thường xuyên truy cập, sử dụng dịch vụ, tiện ích trong hệ sinh thái VNeID.
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề án đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, địa phương, cơ quan đơn vị liên quan triển khai thực hiện.
Cụ thể, Bộ Công an chủ trì, phối hợp Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, cơ quan, địa phương, tổ chức liên quan rà soát, đánh giá tổng thể hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về định danh và xác thực điện tử, giao dịch điện tử, tích hợp tiện ích số, thanh toán không dùng tiền mặt, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan đến việc khai thác, sử dụng VNeID…
Xây dựng, chuẩn hóa các quy trình vận hành, quy chế phối hợp và cơ chế giám sát tổng thể đối với việc khai thác, sử dụng VNeID trong cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, thời gian thực hiện 2026 – 2027.
Ngoài ra, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ… điều chỉnh kiến trúc, nâng cấp tổng thể VNeID đáp ứng yêu cầu, thời gian thực hiện 2026 – 2030.
Mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID theo hướng thiết thực, thuận tiện, lấy người dùng làm trung tâm. Bảo đảm đáp ứng hiệu quả nhu cầu giao dịch số của người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.
Khuyến khích, tạo điều kiện để các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp tham gia phát triển, cung cấp, tích hợp các dịch vụ, tiện ích số trên VNeID theo hướng đa dạng hóa nguồn lực, kết hợp hiệu quả đầu tư công với các hình thức hợp tác công – tư…
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương thường xuyên bảo đảm an ninh, an toàn tổng thể.
Rà soát, đánh giá tổng thể hiện trạng an ninh, an toàn đối với VNeID và các hệ thống liên quan. Hoàn thiện mô hình, nguyên tắc, kiến trúc bảo đảm an ninh, an toàn tổng thể.
Thực hiện triển khai các biện pháp an ninh, bảo mật toàn diện, đa lớp.
Thường xuyên cập nhật hoàn thiện đầy đủ các phương án, kịch bản, quy trình ứng cứu sự cố và kiểm thử an ninh, an toàn đối với hệ thống VNeID…
Đồng thời, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan đơn vị, tổ chức liên quan thường xuyên bảo đảm nhân lực, hỗ trợ người dùng.
Tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng trực tiếp quản trị, vận hành, khai thác hệ thống…
Thiết lập cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ nghiệp vụ, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong quá trình tích hợp, khai thác sử dụng VNeID. Chú trọng nhóm yếu thế, người dân ở vùng sâu, vùng xa, người hạn chế về kỹ năng số.
Huy động các doanh nghiệp công nghệ và các học viện, nhà trường đào tạo công nghệ liên quan đồng hành cùng Bộ Công an trong nghiên cứu, thử nghiệm, triển khai đổi mới mô hình phục vụ, hoạt động cung ứng dịch vụ, tiện ích của VNeID.
Ngày 3.5, Phòng Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh Khánh Hòa cho biết đã phối hợp các lực lượng liên quan dập tắt đám cháy xảy ra trên 2 tàu cá neo đậu tại cảng Mỹ Tân, xã Vĩnh Hải.
Trước đó, khoảng 22 giờ ngày 2.5, tàu cá NT-02172 của ông Lâm Văn Mỹ và tàu NT-02034 của ông Nguyễn Đen, cùng trú xã Vĩnh Hải, đang neo đậu tại khu vực cảng Mỹ Tân thì ngọn lửa bất ngờ bùng phát từ 1 tàu rồi nhanh chóng lan sang tàu bên cạnh. Thời điểm xảy ra cháy, khu vực có gió mạnh khiến lửa càng lan rộng, bao trùm toàn bộ 2 phương tiện.
Theo những người có mặt tại hiện trường, trước khi cháy có tiếng nổ lớn, trên 2 tàu không có người. Vụ hỏa hoạn tạo cột khói đen dày đặc bốc cao hàng chục mét, nhìn thấy từ xa. Các tàu cá neo đậu gần đó phải khẩn cấp di chuyển ra xa để tránh cháy lan. Một số ngư dân dùng thuyền thúng và ghe nhỏ tiếp cận, cố gắng dập lửa nhưng không khống chế được.
Nhận được tin báo, Đội Chữa cháy và cứu nạn cứu hộ khu vực 8 thuộc Phòng Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ, Công an tỉnh Khánh Hòa điều động 1 xe chữa cháy, 1 xe bồn cùng 10 cán bộ, chiến sĩ từ cách hiện trường hơn 18 km đến phối hợp xử lý.
Do 2 tàu neo cách bờ khoảng 150 m, lực lượng chức năng phải triển khai 2 máy bơm nổi, sử dụng ghe xuồng của người dân kéo vòi tiếp cận, tổ chức nhiều mũi phun nước để khống chế đám cháy.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, đám cháy đã được khống chế. Tại hiện trường, 2 tàu cá bị thiêu rụi phần lớn khu vực phía trên. Thiệt hại cụ thể chưa được thống kê, nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.
Cảng Mỹ Tân tại xã Vĩnh Hải là 1 trong 3 cảng cá lớn ở phía nam Khánh Hòa, cách trung tâm Phan Rang khoảng 15 km, là nơi neo đậu của hàng trăm tàu cá và là đầu mối thu mua, tiêu thụ hải sản lớn của ngư dân trong khu vực.
Tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 4/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu khả năng đến năm 2045 Việt Nam có thể kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ông gợi ý Hà Nội thí điểm xây dựng mô hình "phường, xã xã hội chủ nghĩa" với quy mô dân số từ 500.000 đến một triệu, đầu tư đồng bộ hạ tầng, trường học, bệnh viện, không gian công cộng và đô thị thông minh.
Thời kỳ quá độ là một giai đoạn tất yếu trong tiến trình phát triển theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là giai đoạn chuyển tiếp kéo dài, khi các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới đan xen, đòi hỏi những bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất phát điểm là một nước phong kiến lạc hậu, lại trải qua chiến tranh kéo dài, nên việc đi lên chủ nghĩa xã hội phải theo lộ trình từng bước, không thể nóng vội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng diễn đạt giản dị rằng xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội mà đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống tinh thần ngày càng nâng cao. Đồng thời, Người nhấn mạnh phải kiên trì, bền bỉ, xây dựng từng bước để đạt được mục tiêu lâu dài.
Từ những năm đầu đổi mới, Đảng xác định Việt Nam đang ở chặng đường đầu của thời kỳ quá độ. Sau gần 40 năm phát triển, các thành tựu kinh tế - xã hội trở thành nền tảng để đặt ra mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây cũng được xem là dấu mốc quan trọng gắn với khả năng hoàn thành thời kỳ quá độ và bước sang giai đoạn phát triển cao hơn.
Lần đầu xác lập hệ tiêu chí của xã hội xã hội chủ nghĩa
Mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được định hình rõ ràng lần đầu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Văn kiện này không chỉ nêu mục tiêu, mà xác lập một hệ tiêu chí cụ thể để nhận diện xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Theo đó, xã hội được xác định do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công và có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết; mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Việc đưa ra các đặc trưng này đánh dấu bước chuyển từ nhận thức mang tính khái quát sang định hình một mô hình phát triển có thể định hướng chính sách và đo lường kết quả. Đây là nền tảng lý luận xuyên suốt cho các văn kiện sau này.
Qua các kỳ Đại hội, mô hình tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Tại Đại hội IX năm 2001, Đảng xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ, nhằm phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới.
Đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, hệ đặc trưng được hoàn chỉnh thành 8 nội dung, làm rõ hơn mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời khẳng định vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vị trí trung tâm của con người.
Cụ thể, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam hướng tới được xác định là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.
Việc xác lập đầy đủ 8 đặc trưng này không chỉ dừng ở việc mô tả mục tiêu, mà còn tạo thành một hệ tiêu chí để định hướng chính sách và đánh giá quá trình phát triển. Mỗi đặc trưng gắn với một trụ cột cụ thể: kinh tế phát triển đi đôi với công bằng xã hội, chính trị bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần, con người là trung tâm, còn Nhà nước giữ vai trò tổ chức và điều tiết toàn bộ quá trình phát triển.
Đại hội XIII xác định mốc phát triển đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, đưa mô hình từ định hướng lý luận sang mục tiêu có thể đo đếm.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong cấu trúc của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò là phương thức tổ chức và vận hành nền kinh tế.
Việc xác định mô hình này tại Đại hội IX cho thấy sự thay đổi trong tư duy phát triển: Việt Nam sử dụng cơ chế thị trường để huy động và phân bổ nguồn lực, nhưng không để thị trường chi phối toàn bộ, mà đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nhằm bảo đảm định hướng phát triển vì con người.
Điều này thể hiện ở việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, thông qua các chính sách điều tiết, an sinh và phân phối lại. Thị trường được sử dụng như công cụ để thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất và thu nhập, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là nâng cao chất lượng sống của người dân.
Sự khác biệt với mô hình kinh tế tư bản nằm ở chỗ không lấy lợi nhuận làm trung tâm, mà hướng tới sự phát triển toàn diện. Nhà nước giữ vai trò định hướng và điều tiết để hạn chế các hệ quả tiêu cực như phân hóa giàu nghèo hay bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công.
Gợi ý xây dựng "phường, xã xã hội chủ nghĩa" cho thấy bước chuyển từ mô hình ở tầm quốc gia xuống cấp cơ sở, nơi các mục tiêu phát triển được cụ thể hóa thành điều kiện sống hàng ngày.
Theo định hướng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu, một đơn vị thí điểm phải bảo đảm hạ tầng đồng bộ, hệ thống giáo dục và y tế phát triển, môi trường sống an toàn, dịch vụ công thuận tiện và chính quyền vận hành hiệu quả. Những yếu tố này chính là cách chuyển các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa thành tiêu chí cụ thể, có thể kiểm chứng.
Việc lựa chọn cấp phường, xã xuất phát từ vai trò đây là cấp gần dân nhất, nơi người dân trực tiếp tiếp xúc với bộ máy quản lý và thụ hưởng chính sách. Nếu mô hình thành công ở đây, sẽ trở thành hình mẫu để nhân rộng toàn quốc, đúng với triết lý "lấy dân làm gốc" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra từ những ngày đầu lập nước.
Tuy nhiên, đến nay "phường, xã xã hội chủ nghĩa" chưa phải là một khái niệm được luật hóa. Hệ thống pháp luật hiện hành chỉ quy định các đơn vị hành chính cơ sở là xã, phường và đặc khu. Vì vậy, mô hình này đang ở giai đoạn nghiên cứu, thí điểm, chưa phải một loại hình đơn vị hành chính chính thức.
Để triển khai, Hà Nội cần làm rõ các tiêu chí đánh giá, cơ chế vận hành, nguồn lực đầu tư và phương thức giám sát. Đây là những điều kiện cần thiết để mô hình có thể vận hành trong thực tế và được đánh giá bằng kết quả cụ thể.
Từ nền tảng lý luận được xây dựng qua các văn kiện, đến mục tiêu phát triển dài hạn và các đề xuất thí điểm hiện nay, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang từng bước được cụ thể hóa. Trọng tâm của quá trình này là chuyển 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa thành chất lượng sống cụ thể của người dân, thông qua hiệu quả quản trị và mức độ tiếp cận dịch vụ công ở cấp cơ sở.
Hội nghị đã thảo luận làm rõ thực trạng về hoạt động của Ban Chỉ huy PTKV. Trong đó, đánh giá những kết quả đạt được từ khi vào hoạt động chính thức đến khi thực hiện đưa lực lượng chính quy về biên chế tại Ban Chỉ huy Quân sự (CHQS) xã, phường.
Chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện cơ chế lãnh đạo, quy chế phối hợp giữa các lực lượng, hoạt động nhiệm vụ thường xuyên cũng như các điểm hạn chế trong công tác xây dựng, quy hoạch khu vực phòng thủ, huy động tiềm lực bảo đảm cho công tác quân sự, quốc phòng ở địa phương.
Một số ý kiến phân tích, nêu lên những khó khăn, hạn chế trong xây dựng tiềm lực quân sự trong khu vực phòng thủ; các khó khăn của Ban Chỉ huy PTKV trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, xử trí các tình huống về an ninh phi truyền thống, công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương…
Kết luận hội nghị, đại tướng Phan Văn Giang biểu dương Bộ Tổng tham mưu đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện báo cáo trình Thường vụ Quân ủy T.Ư việc tổ chức lại Ban Chỉ huy PTKV thành Trung đoàn bộ binh thuộc Bộ CHQS tỉnh, thành phố.
Ông yêu cầu Bộ Tổng tham mưu tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh lại phương án, theo hướng bảo đảm tiếp tục giảm đầu mối đơn vị và quân số, bổ sung cho lực lượng Ban CHQS xã đang thiếu so với biên chế.
Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu, các cơ quan, đơn vị chức năng chủ động nghiên cứu phương án, triển khai các biện pháp để sớm bảo đảm đủ quân số tại Ban CHQS cấp xã theo biên chế, giúp các đơn vị hoạt động ổn định, đủ năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ thường xuyên cũng như đột xuất.
Đối với nội dung xem xét, đề nghị khen thưởng các tập thể, Thường vụ Quân ủy T.Ư nhất trí với đề xuất của Tổng cục Chính trị: đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đối với Học viện Kỹ thuật quân sự; đề nghị tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh đối với Học viện Quốc phòng; đề nghị tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất đối với Cục Cán bộ.