Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, hiện nay cả hệ thống chính trị rất quyết tâm trong việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án. Tuy nhiên, quy định dự án muốn chuyển nhượng toàn bộ hoặc chuyển nhượng một phần phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính đang gây khó khăn cho các doanh nghiệp.
Bởi, để có được quỹ đất sạch, doanh nghiệp phải bỏ ra một nguồn vốn rất lớn. Đến khi bắt tay vào triển khai, nhiều chủ đầu tư đã không còn tiền khi luật yêu cầu muốn được vay vốn, dự án phải có sổ hồng. Do vậy, nhiều chủ đầu tư buộc phải bán dự án theo kiểu bán lúa non.
Tuy nhiên, khi chuyển nhượng dự án gặp khó khăn, doanh nghiệp lách bằng cách chuyển nhượng cổ phần doanh nghiệp. Khi đó “ruột” của doanh nghiệp đã thay đổi, ông chủ mới thực chất là người mua dự án. Cách lách luật này không sai vì luật không cấm chuyển nhượng cổ phần doanh nghiệp, nhưng cũng sẽ gặp một số rủi ro về sau.
TS Hồ Trung Phước, nguyên Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy Bình Thuận cho biết, chỉ riêng TP.HCM hiện có hơn 100 dự án gặp vướng mắc pháp lý, không đủ điều kiện chuyển nhượng, với hàng trăm ngàn tỉ đồng bị chôn vốn. Điều này khiến người muốn bán thì bán không được, muốn mua cũng không xong.
Nguyên nhân đến từ xung đột trong “ma trận” pháp luật. Trong đó, luật Đầu tư cho phép chuyển nhượng khi có chấp thuận chủ trương, nhưng luật Kinh doanh bất động sản và luật Đất đai 2024 lại yêu cầu phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Điều này tạo ra “vùng xám” pháp lý: được phép về đầu tư nhưng nghẽn về đất đai.
Luật cũng yêu cầu hoàn thiện hạ tầng mới được chuyển nhượng, nhưng bao nhiêu phần trăm thì chưa nói rõ. Ngoài ra đang có điểm nghẽn về định giá đất khi quy trình thẩm định giá đất kéo dài vô hạn, thiếu cơ chế định giá linh hoạt theo thị trường khiến dòng vốn bị chôn chân và dự án dễ bị “treo”.
Từ thực trạng như vậy, luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm cho rằng, M&A bất động sản hiện nay không còn đơn thuần là hoạt động chuyển giao tài sản mà trong nhiều trường hợp đã trở thành hoạt động chuyển giao toàn bộ “ký ức pháp lý” của dự án. Đây cũng là nguyên nhân khiến pháp lý đang trở thành bộ lọc đầu tiên của dòng vốn.
“Nếu trước đây, các tổ chức tín dụng chủ yếu quan tâm đến giá trị tài sản bảo đảm thì nay họ muốn biết quyền sử dụng đất được hình thành như thế nào, nghĩa vụ tài chính đã hoàn tất đến đâu, dự án có liên quan đến tài sản công hay không và liệu quyền tài sản đó có đủ khả năng duy trì sự ổn định trong trường hợp môi trường pháp lý thay đổi hay không”, luật sư Trương Anh Tú cho hay.
Khi những câu hỏi đó trở thành trọng tâm của quá trình thẩm định, rủi ro pháp lý cũng bắt đầu được phản ánh trực tiếp vào giá trị của thương vụ. Một dự án có hồ sơ pháp lý phức tạp sẽ bị “chiết khấu” sâu hơn. Một dự án chưa hoàn tất nghĩa vụ tài chính sẽ phải mất nhiều thời gian hơn để tiếp cận nguồn vốn. Một dự án có lịch sử pháp lý chưa rõ ràng sẽ phải trải qua quá trình thẩm định khắt khe hơn và kéo dài hơn.
Nói cách khác, rủi ro pháp lý ngày nay không còn nằm trong các bản báo cáo của luật sư mà đang được quy đổi thành tiền thông qua giá vốn, điều kiện giải ngân, tỷ lệ cho vay và mức định giá của chính dự án.
Ở tầng sâu hơn, theo ông Trương Anh Tú, điều thị trường đang thiếu hiện nay không hẳn là quỹ đất và cũng không hoàn toàn là dòng tiền. Nhà đầu tư chỉ thực sự sẵn sàng đi đường dài khi họ có thể hiểu rõ quyền của mình là gì, nghĩa vụ của mình là gì và quyền đó có còn được bảo vệ sau nhiều năm hay không.
Đó cũng là lý do câu chuyện lớn nhất của thị trường M&A bất động sản hiện không còn là cuộc đua sở hữu nhiều đất hơn, mà là xây dựng những quyền tài sản minh bạch hơn, ổn định hơn và đáng tin cậy hơn. Đó mới là thay đổi sâu sắc nhất đang diễn ra trong thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay.
Để gỡ vướng cho các dự án, TS Bùi Đặng Dũng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội kiến nghị nghiên cứu cơ chế cho phép tổ chức tín dụng đứng ra bảo lãnh hoặc lập tài khoản phong tỏa. Theo đó, dòng tiền từ bên mua có thể được trích thẳng để nộp nghĩa vụ tài chính đất đai cho Nhà nước thay cho bên bán. Giải pháp này giúp khơi thông các dự án đang bị “tắc” do chủ đầu tư cũ không có tiền nộp thuế, đồng thời đảm bảo Nhà nước thu đúng, thu đủ.
Cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý để phát triển các Quỹ đầu tư tín thác bất động sản và các quỹ đầu tư tư nhân. Đây sẽ là bệ đỡ tài chính vững chắc, đóng vai trò là bên mua chuyên nghiệp để gom lại các dự án phân mảnh thông qua nhượng vốn, giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào dòng vốn tín dụng ngân hàng.
Đồng thời ban hành hướng dẫn chi tiết, nhất quán về các phương pháp định giá đất theo luật Đất đai mới. Việc định giá đất rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp xác định chính xác chi phí cơ hội, từ đó định giá thương vụ M&A một cách nhanh chóng, giảm thời gian đàm phán kéo dài.
“Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính hậu chuyển nhượng, quy trình chuyển đổi chủ đầu tư trên giấy chứng nhận đầu tư, trên sổ hồng cần được thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, rút ngắn thời gian chờ đợi để dòng vốn sớm đi vào tái thiết dự án”, ông Bùi Đặng Dũng kiến nghị.
Giá bạc hôm nay 5/5/2026 "rơi tự do", mất hơn 20% giá trị vì căng thẳng Trung Đông. Giá bạc trong nước lao dốc cả triệu đồng/kg.
Ở phân khúc bạc miếng:
Mở cửa giao dịch ngày 5/5, giá bạc miếng Kim – Phúc – Lộc SBJ về mức 2,754-2,844 triệu đồng/lượng (mua-bán), giảm 57.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch so với kết phiên ngày hôm qua.
Tương tự, giá bạc miếng 1 lượng của Phú Quý về mức 2,755-2,84 triệu đồng/lượng (mua-bán), giảm 29.000-30.000 đồng/lượng (mua-bán).
Giá bạc Ancarat miếng 2024 loại 1 lượng cũng điều chỉnh giảm về mức 2,760 triệu đồng/lượng (mua vào) và 2,828 triệu đồng/lượng (bán ra) sau khi bớt 93.000 – 95.000 đồng mỗi lượng.
Thương hiệu DOJI ghi nhận mức giảm sâu nhất ở phân khúc này khi niêm yết bạc miếng DOJI 99.9 tại 2,750 triệu đồng/lượng (mua vào) và 2,855 triệu đồng/lượng (bán ra), sụt giảm lần lượt 95.000 và 98.000 đồng so với phiên trước đó.
Ở phân khúc bạc thỏi:
Đáng chú ý nhất trong phiên hôm nay là sự sụt giảm "thẳng đứng" ở phân khúc bạc thỏi với mức giảm phổ biến trên 2,5 triệu đồng/kg tại các thương hiệu lớn. Giá bạc Phú Quý 999 loại thỏi ghi nhận mức giảm mạnh tới 2,427 triệu đồng/kg ở chiều mua và 2,613 triệu đồng/kg ở chiều bán, đưa giá giao dịch lùi sâu về mức 73,599 – 75,866 triệu đồng/kg.
Tương tự, thương hiệu DOJI chứng kiến bạc thỏi 99.9 "bốc hơi" 2,533 triệu đồng/kg ở chiều mua vào và 2,613 triệu đồng/kg ở chiều bán ra, hiện niêm yết tại 73,333 – 76,133 triệu đồng/kg.
Giá bạc Ancarat thỏi 2025 cũng sụt giảm rất mạnh từ 2,462 – 2,532 triệu đồng/kg, hiện niêm yết tại 72,704 triệu đồng/kg (mua vào) và 74,914 triệu đồng/kg (bán ra).
Riêng bạc thỏi Kim-Phúc-Lộc SBJ 999 của Sacombank ghi nhận mức giảm đồng loạt 1,760 triệu đồng/kg ở cả hai chiều, hiện đứng ở mức 73,840 – 76,240 triệu đồng/kg. Với diễn biến này, mặt bằng giá bạc thỏi đã chính thức rời xa mốc 78 triệu đồng và lùi sâu về sát ngưỡng 75 - 76 triệu đồng/kg.
Giá bạc thế giới giao dịch quanh mốc 72,8 USD/ounce
Trên thị trường quốc tế, giá bạc hiện giao dịch quanh 72,8 USD/ounce, giảm mạnh so với mức 75,6 USD/ounce của phiên liền trước.
Dữ liệu từ Investing lúc 9h13 (giờ Việt Nam) cho thấy, hợp đồng tương lai giá bạc đang giao dịch quanh mức 73,333 USD/ounce, giảm 0,190 USD, tương đương 0,26%. Diễn biến trong ngày cho thấy giá bạc sau nhịp tăng mạnh trước đó đã hạ nhiệt, dao động quanh vùng 73 USD/ounce, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư sau giai đoạn biến động mạnh.
Diễn biến giảm của bạc được cho là chịu tác động từ nhiều yếu tố vĩ mô. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng cùng với việc đồng USD duy trì sức mạnh đã khiến kim loại quý trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư. Bên cạnh đó, giá dầu leo thang trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tiếp tục gia tăng cũng tạo thêm áp lực lên thị trường hàng hóa.
Xét về kỹ thuật, giá bạc đang duy trì xu hướng giảm ngắn hạn sau khi hoàn tất mô hình "nêm" tăng trước đó. Nhịp hồi phục gần đây gặp cản mạnh tại đường trung bình động 20 ngày, khiến lực bán quay trở lại và thiết lập vùng đỉnh thấp hơn quanh ngưỡng 76,98 USD/ounce.
Dự báo giá bạc
Trả lời trên Kitco mới đây, ông Nitesh Shah, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu hàng hóa và kinh tế vĩ mô tại đơn vị quản lý tài sản toàn cầu WisdomTree, cho biết vàng vẫn có triển vọng tăng trong trung - dài hạn, bất chấp đang gặp khó trong việc trở thành tài sản trú ẩn vốn an toàn.
Khi vàng có triển vọng tích cực, bạc cũng sẽ biến động cùng chiều. Ông Nitesh Shah dự báo giá bạc sẽ đạt khoảng 92,5 USD/ounce vào quý 1/2027, với tiềm năng tăng giá hơn nữa tùy thuộc vào xu hướng điện khí hóa và nhu cầu năng lượng mặt trời.
Nếu giá vàng tăng mạnh hơn nữa, nó sẽ kéo theo giá bạc tăng theo. Xu hướng đa dạng hóa nguồn năng lượng toàn cầu có thể hỗ trợ nhu cầu dài hạn, thúc đẩy giá bạc đi lên.
Trước đó, Bank of America dự báo giá bạc trung bình có thể đạt khoảng 85,9 USD/ounce trong năm nay, tăng gần 15% so với mức dự báo trước đó là 75 USD/ounce. Trong đó, nhu cầu từ ngành năng lượng mặt trời vẫn là trụ cột quan trọng hỗ trợ thị trường bạc.
Ngày 19/5/2026, Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HoSE) đã có văn bản gửi VNE thông báo cổ phiếu này thuộc trường hợp hủy niêm yết bắt buộc theo quy định hiện hành.
Theo HoSE, báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất năm 2025 của VNE được gửi ngày 15/5 cho thấy đơn vị kiểm toán tiếp tục đưa ra ý kiến ngoại trừ. Trong khi đó, báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất các năm 2023 và 2024 của doanh nghiệp cũng đều tồn tại ý kiến ngoại trừ. Đây là năm thứ ba liên tiếp doanh nghiệp nhận ý kiến ngoại trừ từ đơn vị kiểm toán, sau các năm 2023 và 2024.
Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 120 Nghị định 155/2020/NĐ-CP, cổ phiếu của công ty đại chúng sẽ bị hủy niêm yết khi báo cáo tài chính năm có ý kiến kiểm toán ngoại trừ trong 3 năm liên tiếp. Trên cơ sở đó, HoSE cho biết sẽ thực hiện thủ tục hủy niêm yết đối với cổ phiếu VNE theo quy định.
Thông tin trên ngay lập tức tạo áp lực lên thị giá cổ phiếu. Kết thúc phiên giao dịch ngày 20/5, VNE giảm sàn xuống còn 2.750 đồng/cổ phiếu, thấp hơn 6,78% so với phiên trước.
Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy lợi nhuận sau thuế của VNE đạt gần 90 tỷ đồng, tăng khoảng 23,7 tỷ đồng so với báo cáo tự lập sau khi điều chỉnh hợp nhất báo cáo tài chính. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc ghi nhận thêm hơn 48,3 tỷ đồng doanh thu tài chính, đồng thời điều chỉnh tăng chi phí quản lý doanh nghiệp 14,5 tỷ đồng và chi phí tài chính 21,1 tỷ đồng.
Tuy nhiên, đơn vị kiểm toán vẫn đưa ra ý kiến ngoại trừ liên quan đến hàng loạt giao dịch chuyển nhượng tài sản và khoản đầu tư của doanh nghiệp.
Cụ thể, trong năm 2025, VNE đã chuyển nhượng các khoản đầu tư tại công ty con và công ty liên kết cho CTCP Năng lượng VNECO với tổng giá trị khoảng 193 tỷ đồng. Đến thời điểm kiểm toán, các giao dịch này chưa hoàn tất thủ tục pháp lý chuyển quyền sở hữu và chưa được thanh toán theo đúng điều khoản hợp đồng.
Doanh nghiệp cũng thực hiện chuyển nhượng quyền thương hiệu và quyền phát triển Dự án Mỹ Thượng tại Tp.Huế với giá trị khoảng 150 tỷ đồng, song thủ tục pháp lý chuyển nhượng vẫn chưa hoàn tất và việc thanh toán chưa đúng tiến độ.
Ngoài ra, VNE và các đơn vị thành viên còn chuyển giao nghĩa vụ nợ cùng giá trị dở dang của một số công trình, dự án cho CTCP Giải pháp Cấu trúc Doanh nghiệp Việt Nam với tổng giá trị khoảng 520 tỷ đồng.
Theo đơn vị kiểm toán, chưa có đủ cơ sở để xác định đầy đủ ảnh hưởng của các giao dịch trên đến báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025, do đó đưa ra ý kiến ngoại trừ.
Bên cạnh các vấn đề liên quan đến giao dịch chuyển nhượng, kiểm toán cũng nhấn mạnh những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp.
Tại ngày 31/12/2025, nợ ngắn hạn của VNE vượt tài sản ngắn hạn gần 40 tỷ đồng. Doanh nghiệp còn ghi nhận dư nợ gốc vay ngân hàng quá hạn hơn 693,5 tỷ đồng và lãi vay quá hạn khoảng 123,5 tỷ đồng. Khoản lỗ lũy kế tính đến cuối năm ở mức 38,1 tỷ đồng.
Theo đánh giá của đơn vị kiểm toán, khả năng hoạt động liên tục của VNE phụ thuộc đáng kể vào việc thu hồi các khoản phải thu, gia hạn các khoản vay, thanh toán công nợ với ngân hàng và nhà cung cấp, cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh trong tương lai.
Giải trình về các ý kiến ngoại trừ, VNE cho biết các giao dịch chuyển nhượng nằm trong kế hoạch tái cơ cấu danh mục đầu tư theo nghị quyết ngày 29/12/2025 nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi.
Doanh nghiệp khẳng định đã hoàn thiện hồ sơ pháp lý gồm hợp đồng chuyển nhượng, hóa đơn giá trị gia tăng và văn bản ủy quyền không hủy ngang quyền sở hữu cho bên mua, dù việc thanh toán chưa hoàn tất. Các bên hiện đang tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển giao và thu hồi công nợ theo lộ trình cam kết.
Đối với Dự án Mỹ Thượng, VNE cho biết việc chuyển nhượng quyền phát triển các lô CT2, CT3 và CT4 phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, giao dịch chuyển nhượng các khoản nợ cho CTCP Giải pháp Cấu trúc Doanh nghiệp Việt Nam được thực hiện nhằm đẩy nhanh tiến độ thu hồi công nợ và cải thiện dòng tiền. Công ty cho biết đã thu hồi được khoảng 66,7 tỷ đồng, phần còn lại đang tiếp tục được theo dõi và đôn đốc thanh toán.
Ở diễn biến kinh doanh gần nhất, báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 ghi nhận doanh thu của VNE đạt hơn 72 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, doanh nghiệp tiếp tục lỗ sau thuế 23,45 tỷ đồng.
Tính đến ngày 31/3/2026, lỗ lũy kế của VNE tăng lên 61,1 tỷ đồng, cao hơn 23,4 tỷ đồng so với đầu năm. Tổng tài sản đạt 3.096 tỷ đồng, giảm 1,3%; trong khi nợ phải trả ở mức 2.319 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu còn 777,8 tỷ đồng, giảm so với mức 805,9 tỷ đồng đầu năm.
Theo Bộ Công thương, khi xăng E10 được triển khai toàn quốc, nhu cầu ethanol sẽ vào khoảng 92.000 - 100.000 m³ mỗi tháng. Trong khi đó, sản lượng trong nước hiện mới đạt khoảng 25.000 m³/tháng, phần còn lại khoảng 75.000 m3 sẽ được nhập khẩu. Nguồn cung ethanol thế giới hiện khá dồi dào, đặc biệt từ Mỹ và Brazil. Đối với sản xuất trong nước, VN hiện có 4 nhà máy ethanol đang hoạt động tại Đồng Nai, Quảng Nam cũ, Đắk Tô (Kon Tum cũ, nay thuộc Quảng Ngãi) và Quảng Ngãi. Hai nhà máy khác tại khu vực Bình Phước cũ (nay thuộc Đồng Nai) và Đắk Nông cũ (nay là Lâm Đồng) vẫn trong quá trình tái cơ cấu và hoàn thiện kỹ thuật.
Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh việc phát triển và sử dụng xăng sinh học mang lại nhiều lợi ích quan trọng đặc biệt về an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp thông qua việc mở rộng đầu ra tại chỗ cho một số nông sản.
Các dự án sản xuất ethanol ở VN chủ yếu sử dụng nguyên liệu là sắn lát (củ mì). Theo các nghiên cứu trước đây, để sản xuất 100 triệu lít ethanol cần 250.000 tấn nguyên liệu sắn lát khô, tương đương 600.000 tấn sắn củ. Trung bình mỗi héc ta đất trồng sắn có năng suất 20 tấn, giống cao sản. Như vậy diện tích đất cần để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy ethanol vào khoảng 30.000 ha.
Tại VN, trong nhiều năm qua, dù lặng lẽ nhưng sắn là mặt hàng xuất khẩu tỉ USD. Tính đến năm 2024, diện tích trồng sắn cả nước là 511.000 ha, phân bổ ở nhiều tỉnh thành khắp cả nước. Tổng sản lượng sắn cả nước đạt 10,4 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 20,4 tấn/ha. Các tỉnh, thành có năng suất cao là Tây Ninh (33,3 tấn/ha), Đồng Nai (25 - 27 tấn/ha).
Năm 2025, xuất khẩu sắn mang về cho VN 1,26 tỉ USD và chúng ta là nước xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới. Mặt khác, phân tích số liệu hải quan cho thấy lượng xuất khẩu của năm 2025 tăng trên 52,2% nhưng giá trị thu về chỉ tăng 9,8%. Theo các chuyên gia và Hiệp hội Sắn VN, nguyên nhân chính của việc lượng tăng mạnh trong khi giá trị tăng không đáng kể là do giá thấp và phụ thuộc đầu ra vào thị trường Trung Quốc đến 94% sản lượng. Trước áp lực kinh tế từ các loại cây trồng khác, diện tích trồng sắn liên tục bị thu hẹp và trong định hướng phát triển của ngành này đến năm 2030, Bộ NN-MT điều chỉnh giảm diện tích xuống còn khoảng 480.000 ha, giảm khoảng 30.000 ha so với hiện tại. Bên cạnh đó, đặt mục tiêu xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1,8 - 2 tỉ USD. Vì thế, nếu đẩy mạnh tiêu thụ và sản xuất ethanol thì VN có sẵn nguồn nguyên liệu rất dồi dào với giá cả cạnh tranh. Việc này còn giúp mở rộng đầu ra ngay tại chỗ cho sản phẩm sắn và góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu.
Ở khâu sản xuất, việc vận hành trở lại các nhà máy nhiên liệu sinh học là tín hiệu tích cực với những nhà sản xuất sắn VN. Điều này cũng được thể hiện qua Chỉ thị 07 của Chính phủ ban hành cuối tháng 2.2026, về việc giao Bộ NN-MT nghiên cứu chính sách phát triển vùng nguyên liệu phục vụ nhiên liệu sinh học, ưu tiên cây phi lương thực, phụ phẩm nông nghiệp và mô hình kinh tế tuần hoàn.
Trên thế giới, hiện có 3 cường quốc trong lĩnh vực sản xuất ethanol. Trong đó, Mỹ dẫn đầu với khoảng 65 triệu m3, nguyên liệu sản xuất là bắp. Đứng ở vị trí thứ 2 là Brazil với sản lượng khoảng 1/2 của Mỹ với nguồn nguyên liệu từ mía đường. Tiếp theo là Ấn Độ, sản lượng bằng 1/10 của Mỹ. Điểm nổi bật của quốc gia châu Á này là sự linh hoạt trong sử dụng nguồn nguyên liệu sản xuất gồm cả: bắp, mía và gạo - một lợi thế rất lớn của Ấn Độ. Sự "bùng nổ" của ngành công nghiệp ethanol Ấn Độ nhờ tỷ lệ phối trộn xăng ở nước này hiện nay lên tới E20.
TS Nguyễn Hữu Hoàng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp (Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM), nhận định: Trong bối cảnh nguồn cung dầu mỏ toàn cầu đang dần trở nên hạn chế, việc sử dụng xăng sinh học đồng nghĩa với tự chủ một phần nhu cầu năng lượng. Đây là giải pháp bền vững đặc biệt với một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực nông nghiệp như VN. Xăng sinh học hay nói cụ thể ở đây là ethanol, được sản xuất từ quá trình lên men nhiều loại nông sản khác nhau như: bắp, sắn và cả một số phụ phế phẩm nông nghiệp gồm cả mùn cưa, rơm rạ… Quy trình lên men cồn ở quy mô công nghiệp tiêu thụ một lượng lớn nông sản hoặc phụ phẩm nông nghiệp. Quy trình này chuyển đổi nông sản thô giá trị thấp thành nhiên liệu sinh học. Như ở Ấn Độ, khi gạo phẩm cấp thấp rớt giá mạnh họ dùng nó để sản xuất ethanol. Cạnh đó, việc chuyển đổi đòi hỏi các chủng nấm men đặc biệt có hiệu suất cao mà hiện nay các đơn vị trong nước chưa thể tự chủ được. Đây là thách thức mà các doanh nghiệp VN phải vượt qua.
Đồng quan điểm, PGS-TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn - ICED (ĐH Quốc gia TP.HCM), nói: "Chúng ta có rất nhiều tiềm năng trong việc sản xuất ethanol vì là quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp. Từ các loại nông sản đến phụ phẩm đều có thể phát triển để sản xuất ethanol. VN cũng có thể tận dụng lợi thế về nguyên liệu nông nghiệp của các quốc gia hạ lưu vực sông Mê Kông như Lào và Campuchia để phát triển ngành công nghiệp ethanol. Các quốc gia này cũng có thể trở thành thị trường tiêu thụ ethanol của chúng ta nếu sản phẩm thực sự đủ tốt. Như vậy, từ một quốc gia có lợi thế về nông nghiệp chúng ta sẽ trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực năng lượng sinh học trong tương lai. Trong lý thuyết về kinh tế tuần hoàn, ngay cả các thực phẩm thừa ở một đô thị lớn như TP.HCM cũng có thể tận dụng để sản xuất ethanol công nghiệp. Tuy nhiên, rào cản mà chúng ta phải vượt qua là nền nông nghiệp phân mảnh, khả năng kết nối hạn chế, hạ tầng chưa đồng bộ nên việc tận dụng phụ phẩm vào sản xuất ethanol thấp. Chính vì vậy, giai đoạn đầu cần có chính sách đủ tốt để thu hút đầu tư vào lĩnh vực này; xây dựng chuỗi cung ứng và hạ tầng chế biến hiệu quả".