Một người đàn ông 53 tuổi được chẩn đoán chết não vừa trở thành bệnh nhân đầu tiên trên thế giới được cấy ghép đồng thời hai quả thận và một lá gan từ lợn biến đổi gene, theo Nature ngày 29/5. Nghiên cứu công bố trên tạp chí y học Med cho hay được sự đồng thuận từ phía gia đình bệnh nhân, đội ngũ y tế đã duy trì thành công hoạt động của các nội tạng ghép trong gần 5 ngày. Đặc biệt, suốt 24 giờ đầu tiên sau đại phẫu, cơ thể người bệnh không xuất hiện dấu hiệu đào thải.
Do lợn có kích thước và hình dáng nội tạng tương đồng với con người, chúng thu hút sự chú ý của giới khoa học suốt nhiều thập kỷ qua như một giải pháp thay thế nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng thiếu hụt tạng ghép. Quy trình này được gọi là cấy ghép dị chủng (xenotransplantation), giúp chuyển các cơ quan như tim và thận từ lợn sang người. Tuy nhiên đến nay, các quy trình cấy ghép dị chủng đều chỉ giới hạn ở một cơ quan duy nhất.
Bác sĩ, nhà khoa học Tôn Húc Dũng (Xuyong Sun), người dẫn đầu ca phẫu thuật tại Bệnh viện số 2 trực thuộc Đại học Y khoa Quảng Tây ở Nam Ninh, cho biết trước ca này, giới y khoa chỉ cấy ghép các phần mô gan heo vào cơ thể người.
Bác sĩ, nhà khoa học Leonardo Riella tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts (Boston, Mỹ), người từng dẫn đầu êkíp đầu tiên cấy ghép thận lợn cho một bệnh nhân sống vào năm 2024, đánh giá việc cấy ghép đồng thời cả thận và gan lợn trong cùng một ca phẫu thuật là chưa từng có trước đây. Ông phân tích việc chuyển giao cùng lúc nhiều cơ quan phức tạp hơn rất nhiều so với một cơ quan đơn lẻ; thời gian phẫu thuật kéo dài hơn sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng, chưa kể những bệnh nhân cần ghép đa tạng thường là những người có tình trạng bệnh lý nghiêm trọng.
Tiến sĩ Wayne Hawthorne, bác sĩ phẫu thuật kiêm nhà nghiên cứu cấy ghép tại Đại học Sydney (Australia), đánh giá nghiên cứu đã chứng minh tính khả thi của kỹ thuật cấy ghép dị chủng đa tạng. Phương pháp ghép đa tạng vốn được thực hiện bằng nguồn tạng hiến từ người, song do tình trạng khan hiếm nguồn tạng hiến tặng trầm trọng nên các nhóm nghiên cứu đang tích cực tìm kiếm giải pháp thay thế từ nội tạng lợn.
Theo bác sĩ Tôn, người đàn ông nhận nội tạng lợn vốn mắc bệnh thận mạn tính nghiêm trọng và bị xuất huyết não trước khi được xác nhận chết não. Lá gan của ông vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, các bác sĩ đã tiếp nhận và cấy ghép nó cho một bệnh nhân sống khác. Còn ông được ghép các tạng từ một heo đã qua chỉnh sửa 6 gene trong bộ mã di truyền. Trong đó, 3 gene người được chèn thêm vào nhằm giảm nguy cơ xảy ra hiện tượng đông máu và 3 gene heo bị loại bỏ nhằm ngăn chặn hệ miễn dịch của người đào thải các cơ quan này.
Trong vòng 19 giờ sau khi cấy ghép, lá gan lợn bắt đầu tiết mật và cho thấy các dấu hiệu hoạt động bình thường. Chỉ số của các chất thải bao gồm creatinine và urea trong máu bệnh nhân, vốn tăng cao trước đó do bệnh thận, đã trở lại mức bình thường sau khi tiếp nhận hai quả thận lợn, chứng minh các cơ quan này bước đầu vận hành hiệu quả.
Tuy nhiên, khoảng 36 giờ sau cuộc phẫu thuật, êkíp ghi nhận những dấu hiệu sớm của hiện tượng đào thải nội tạng. Cụ thể, các tế bào lợn trong gan và thận bắt đầu bị thay thế dần bởi tế bào người, cho thấy hệ miễn dịch của bệnh nhân đã nhận diện được các cơ quan ngoại lai. Ngoài ra, tại một số vùng nhỏ trên lá gan heo cũng xuất hiện tình trạng hoại tử mô và đông máu cục bộ.
Các tác giả nghiên cứu quan sát thấy trong các cơ quan được cấy ghép có sự gia tăng nồng độ của một loại tế bào miễn dịch mang tên S100A12+, vốn liên quan trực tiếp đến phản ứng viêm. Họ cho rằng loại tế bào này có thể trở thành mục tiêu để nghiên cứu các loại thuốc ức chế, giúp giảm thiểu nguy cơ đào thải nội tạng về lâu dài.
Theo các chuyên gia, cấy ghép dị chủng đa tạng khó có thể trở nên phổ biến trong tương lai gần, bởi ngay cả việc cấy ghép đa tạng từ người sang người hiện nay vốn đã rất phức tạp và tiềm ẩn rủi ro cao. Tuy nhiên, quy trình này có thể mang lại lợi ích cho những bệnh nhân bị suy gan nặng, hội chứng vốn có thể khiến thận ngừng hoạt động theo.
Bác sĩ Tôn Húc Dũng cho biết ông và các cộng sự sẽ tiếp tục thực hiện thêm nhiều thử nghiệm trên người chết lâm sàng và trên loài khỉ sống trước khi có thể tiến hành phẫu thuật trên cơ thể người sống. Ông nói thêm nhóm nghiên cứu cũng cần phải xác minh chắc chắn để loại bỏ hoàn toàn nguy cơ lây nhiễm các loại virus hoặc vi khuẩn từ nội tạng lợn sang cơ thể người.
Chị L.T.H. (35 tuổi) đau họng phía bên trái kéo dài khoảng 5 ngày. Ban đầu, cơn đau chỉ âm ỉ vùng họng trái, sau đó tăng dần, đặc biệt đau nhiều khi nuốt. Gần đây, bệnh nhân bắt đầu sốt, ăn uống kém do đau nhiều, uống thuốc nhưng triệu chứng không cải thiện nên đã đến bệnh viện kiểm tra.
Tại phòng khám Tai - Mũi - Họng, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân có một khối rắn chắc vùng cổ trái, ấn vào đau nhẹ. Khai thác thêm thông tin, người bệnh chia sẻ khoảng 5 tháng trước từng có cảm giác vướng họng, nghi ngờ nuốt xương cá. Khi đó, chị đến một phòng khám gần nhà để nội soi nhưng không phát hiện bất thường.
Trước thông tin này, các bác sĩ đã chỉ định người bệnh thực hiện các kiểm tra cận lâm sàng phù hợp. Kết quả siêu âm ghi nhận hình ảnh áp xe vùng cổ trái, nghi ngờ có dị vật dạng que bên trong; CT scan cổ - ngực cản quang cho thấy hình ảnh ổ áp xe từ vùng cổ trái lan ra mặt trên thùy trái tuyến giáp.
Hội chẩn chuyên khoa, các bác sĩ nhận định đây là trường hợp áp xe cổ do dị vật xương cá gây biến chứng. Người bệnh được tư vấn phẫu thuật mở cạnh cổ, làm sạch ổ áp xe và lấy dị vật. Các bác sĩ cũng giải thích rõ khả năng phải theo dõi sau mổ và nguy cơ cần phẫu thuật nhiều lần nếu dị vật nằm sâu, khó tìm thấy.
Ê-kíp phẫu thuật tiếp cận ổ áp xe từ vùng cổ trái, ghi nhận nhiều mủ đục, mùi hôi kèm mô hoại tử lan rộng. Sau khi làm sạch ổ áp xe, các phẫu thuật viên đã gắp ra một đoạn xương cá dài khoảng 6mm từ vị trí này.
Sau đó, bằng sự hỗ trợ của hệ thống C-arm và CT scan, các bác sĩ phát hiện thêm một đoạn xương cá khác nằm sâu trong nhu mô tuyến giáp trái. Với vị trí phức tạp này, ê-kíp quyết định cắt thùy trái tuyến giáp để tiếp cận và lấy trọn dị vật còn sót.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục tốt, giảm đau họng rõ rệt, vết mổ khô, ăn uống được và tiếp tục được theo dõi hậu phẫu ổn định.
Theo các bác sĩ, đây là trường hợp hiếm gặp. Thông thường, hóc xương cá sẽ được phát hiện sớm ở họng hoặc thực quản, do bệnh nhân đau nhiều hoặc xuất hiện biến chứng cấp tính.
Tuy nhiên ở trường hợp này, dị vật không chỉ tồn tại âm thầm mà còn xuyên ra khỏi lòng hầu họng, di chuyển vào mô mềm vùng cổ và nằm trong nhu mô tuyến giáp - vị trí rất khó phát hiện nếu chỉ khám thông thường hoặc nội soi đơn thuần.
Với sự phối hợp chặt chẽ giữa ê-kíp phẫu thuật Tai - Mũi - Họng, Gây mê hồi sức cùng trang thiết bị hiện đại, ca phẫu thuật đã diễn ra thuận lợi, giúp bệnh nhân xử lý triệt để dị vật.
Các bác sĩ khuyến cáo, khi bị hóc xương cá và xuất hiện các triệu chứng kéo dài như đau họng một bên, nuốt vướng, nuốt đau, sốt hoặc cảm giác khó chịu vùng cổ… người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để được kiểm tra sớm, tránh để dị vật tồn tại lâu ngày gây biến chứng nguy hiểm.
Ebola là bệnh truyền nhiễm rất dễ lây và thường gây tử vong. Bệnh do nhiều chủng virus khác nhau gây ra, phần lớn có nguồn gốc từ loài dơi ăn quả. Kể từ khi xuất hiện lần đầu vào năm 1976, đã có hơn 40 đợt bùng phát Ebola được ghi nhận. Đây là đợt bùng phát thứ 17 tại Cộng hòa Dân chủ Congo.
Các đợt dịch thường bắt nguồn từ hiện tượng “lây truyền từ động vật sang người”. Sau đó, người bệnh lây cho người khác qua các dịch cơ thể như máu, chất nôn… Triệu chứng ban đầu gồm sốt, mệt mỏi, đau cơ, đau đầu; sau đó có thể xuất hiện nôn ói, tiêu chảy, phát ban và chảy máu trong lẫn ngoài cơ thể. Tỷ lệ tử vong trung bình khoảng 50%, theo tờ The Guardian (Anh).
Có 4 chủng Ebola gây bệnh ở người: Zaire, Sudan, Bundibugyo và Tai Forest. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đợt dịch lần này liên quan đến chủng Bundibugyo. Trước đây, mới chỉ có 2 đợt bùng phát do chủng này gây ra, vào năm 2007 và 2012. Vì chủng lần này rất hiếm gặp, hiện chưa có vắc xin phòng ngừa nên đợt bùng phát này là đáng lo ngại.
Tiến sĩ Simon Williams, chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Đại học Swansea (Anh) cho biết: Đợt bùng phát lần này đáng lo hơn các đợt trước vì vắc xin Ebola hiện có - Ervebo - không phù hợp với chủng virus Bundibugyo. Hiện cũng chưa có thuốc điều trị hay vắc xin đặc hiệu cho chủng này. Ebola là bệnh rất nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao, cao hơn nhiều so với Covid-19. Dù khả năng lây lan chậm hơn Covid-19 hay sởi, nhưng mức độ nghiêm trọng của bệnh lại lớn hơn và có thể gây tử vong cho bất kỳ ai, không chỉ người cao tuổi hay người suy giảm miễn dịch.
Dịch bắt đầu từ tháng trước, với ca nghi nhiễm sớm nhất được ghi nhận là một người đàn ông 59 tuổi, xuất hiện triệu chứng ngày 24.4 và tử vong sau đó 3 ngày. Cơ quan y tế chỉ biết về đợt dịch qua mạng xã hội vào ngày 5.5. Khi đó, đã có hàng chục người tử vong, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh châu Phi (CDC Africa).
Theo Tổng giám đốc CDC Africa, tiến sĩ Jean Kaseya, việc phát hiện chậm đã tạo điều kiện để dịch lây lan. Tiến sĩ Anne Cori, Đại học Imperial (Anh) nhận định, bất kỳ sự chậm trễ nào trong phản ứng với Ebola đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Số ca nghi nhiễm và tử vong lớn cho thấy dịch có thể đã âm thầm lan rộng trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng trước khi được công bố chính thức. Điều này khiến các biện pháp kiểm soát như truy vết tiếp xúc trở nên khó khăn hơn.
Mới đây, bác sĩ Hsieh Cheng-yu, Trưởng khoa Răng trẻ em thuộc Bệnh viện Vạn Phương (Đài Bắc, Đài Loan), chia sẻ ca cấp cứu thành công một học sinh lớp 5 ngã rơi mất răng cửa. Gia đình nạn nhân xử lý nhanh trí bằng cách ngâm ngay phần răng gãy vào hộp sữa vị cà phê trước khi đưa em đến bệnh viện. Hành động kịp thời này tạo điều kiện để y bác sĩ giữ lại trọn vẹn chiếc răng nguyên bản cho bệnh nhi.
Bác sĩ Hsieh giải thích sữa chứa nồng độ pH và áp suất thẩm thấu tương đồng với dịch cơ thể người cũng như môi trường khoang miệng. Dung dịch này duy trì sức sống cho các tế bào dây chằng nha chu nằm trên bề mặt chân răng, ngăn rủi ro chênh lệch môi trường làm hỏng chúng. Sữa tươi nguyên chất để lạnh hoặc nước muối sinh lý mang lại hiệu quả lưu giữ tốt nhất. Trong tình huống khẩn cấp, phụ huynh có thể dùng các thức uống chứa hàm lượng sữa cao để thay thế tạm thời.
Nếu không tìm thấy dung dịch phù hợp, người bệnh có thể tự ngậm chiếc răng nhằm tận dụng nước bọt giữ ẩm, hoặc thử đặt nó trở lại vị trí cũ. Tuy nhiên, cha mẹ tuyệt đối không áp dụng phương pháp ngậm trong miệng cho trẻ quá nhỏ hoặc trẻ đang khóc lớn, vì các em dễ nuốt nghẹn hoặc hít dị vật lọt thẳng vào khí quản. Chuyên gia khuyến cáo gia đình cần đưa nạn nhân đến cơ sở y tế trong "30 phút vàng", muộn nhất không vượt quá một tiếng kể từ lúc xảy ra sự cố.
Khi đối mặt với tai nạn bất ngờ, nhiều người hoảng loạn thường nảy sinh các phản xạ sai lầm. Phụ huynh tuyệt đối tránh những hành động làm chết tế bào nha chu như gói phần răng rụng vào khăn giấy, rửa dưới vòi nước máy, ngâm vào nước nóng hoặc sữa nóng.
Phương pháp điều trị sau cấy ghép phụ thuộc nhiều vào độ tuổi của bệnh nhi. Với ca bệnh lớp 5 kể trên, chân răng đã phát triển hoàn thiện, tủy đứt lìa mất khả năng tự phục hồi nên nha sĩ buộc phải rút tủy. Ngược lại, những em nhỏ tuổi hơn mang cấu trúc chân răng chưa đóng kín, tủy vẫn giữ khả năng tái sinh nên bác sĩ thường ưu tiên bảo tồn bộ phận này. Các chuyên gia nha khoa sẽ theo dõi sát sao tình trạng sức khỏe răng miệng của trẻ từ 2 đến 5 năm, chờ đến khi xương hàm phát triển ổn định ở độ tuổi 20 nhằm đánh giá tổng thể và quyết định phương án phục hình sứ vĩnh viễn.