Cuối tuần trước, hơn 300 môi giới và nhà đầu tư ngồi kín khán phòng buổi giới thiệu đợt chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) và niêm yết cổ phiếu Điện Máy Xanh. Cùng thời điểm, livestream trên Facebook có trên 4.000 người theo dõi. Sức nóng sự kiện này, theo lãnh đạo một công ty chứng khoán, là dấu hiệu cho thấy “cơn sóng” IPO đang trở lại sau nhiều tháng im ắng.
Điện Máy Xanh là thương vụ tỷ USD đầu tiên trong năm nay với định giá khoảng 3,9 tỷ USD. Đợt chào bán 180 triệu cổ phiếu dự kiến kết thúc cuối tháng này và lên sàn TP HCM đầu tháng tới. “Thương vụ rất thần tốc bởi từ lúc khởi động đến kết thúc dự kiến chưa tới chín tháng”, ông CEO Đoàn Văn Hiểu Em nói.
Ngoài Điện Máy Xanh, nhiều doanh nghiệp khác cũng lên kế hoạch IPO từ nay đến cuối năm. LPBS là công ty chứng khoán đầu tiên chào bán hơn 141,8 triệu cổ phiếu, giá 30.000 đồng. Công ty chứng khoán Kafi cách đây hai tháng cũng đề cập kế hoạch huy động 2.500 tỷ đồng qua IPO.
Bảo Tín Mạnh Hải và DatVietVAC, hai doanh nghiệp cùng hoạt động hơn 30 năm nhưng kín tiếng về tình hình tài chính và cơ cấu cổ đông, gần đây hé lộ nhiều thông tin để chạy đà cho chiến dịch chào bán lần đầu.
Bảo Tín Mạnh Hải cho hay sắp IPO vào quý IV, đồng thời công bố loạt thông tin doanh thu, lợi nhuận, EPS, mạng lưới cửa hàng. Còn DatVietVAC xuất hiện thường xuyên trong các sự kiện quy mô lớn lẫn gặp riêng từng nhóm nhà đầu tư để giới thiệu mô hình kinh doanh, hiệu quả hoạt động và tham vọng những năm tới. Theo lãnh đạo công ty này, thương vụ có thể diễn ra trong nửa cuối năm, nhưng thời điểm chính xác phụ thuộc vào diễn biến thị trường, mức độ quan tâm của nhà đầu tư và tiến độ thủ tục pháp lý.
Trong lĩnh vực quản lý quỹ, PHFM đang chào bán chứng chỉ quỹ ETF PHFM VNSHINE, dự kiến kéo dài đến 22/6. Ở lĩnh vực F&B, Tập đoàn Jollibee Foods Corporation, công ty mẹ của Highlands Coffee, cũng cân nhắc kế hoạch IPO và niêm yết chuỗi cà phê này vào đầu năm sau.
Lý giải sự trở lại của “cơn sóng” IPO hiện tại, ông Hoàng Nam – Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích, Công ty Chứng khoán Vietcap – cho rằng yếu tố tác động lớn nhất là chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên mới nổi thứ cấp từ tháng 9/2026. Thị trường có thể hút 6-8 tỷ USD dòng vốn quốc tế, thậm chí lên tới 10 tỷ USD trong kịch bản tích cực. Phần lớn trong số này là dòng tiền đầu tư chủ động và có thể tham gia trực tiếp vào các thương vụ IPO, giúp doanh nghiệp tăng khả năng huy động vốn thành công.
Mỗi doanh nghiệp mang theo kỳ vọng riêng khi IPO. Ông Winston Lu, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ Phú Hưng, nói họ chào bán chứng chỉ quỹ thời điểm này để đón đầu dòng vốn ngoại lẫn xu hướng đầu tư ETF đang tăng mạnh. Ông Lu cho biết “nhìn thấy cơ hội lớn” khi số lượng nhà đầu tư cá nhân tiếp tục tăng và tiền dịch chuyển dần từ cổ phiếu đơn lẻ sang quỹ chỉ số.
Trong khi đó, Điện Máy Xanh muốn thương vụ là một mũi tên trúng nhiều đích. Theo ông Đồng Quang Trung, Trưởng phòng Quan hệ nhà đầu tư, trước đây doanh nghiệp này hoạt động như một phần của Thế Giới Di Động (MWG) và không công bố báo cáo tài chính, khiến nhà đầu tư khó định giá chính xác. IPO và niêm yết có thể giải quyết khúc mắc này, để thị trường đánh giá đúng giá trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thương vụ cũng để doanh nghiệp xây dựng bộ máy quản trị độc lập và “giải oan” cho quan điểm ngành bán lẻ điện máy tại Việt Nam đã bão hòa.
Dự báo về hoạt động IPO từ nay đến cuối năm, ông Lê Xuân Đồng, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Tư vấn của FiinGroup, cho rằng ngành nghề sẽ đa dạng hơn năm ngoái, nhưng khả năng huy động vốn thành công cũng thách thức hơn.
Theo ông, ngày càng nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ, F&B, giải trí, công nghệ… lên kế hoạch phát hành lần đầu ra công chúng và niêm yết ngay sau đó, thay vì phần lớn là công ty chứng khoán như 2025. Những ngành nghề không xa lạ với nền kinh tế, nhưng lại là hàng hiếm trên sàn chứng khoán, nơi vốn hóa hiện tập trung chủ yếu vào nhóm ngân hàng, chứng khoán và bất động sản.
Nhiều quỹ đầu tư nước ngoài có chiến lược đầu tư chỉ giải ngân vào các doanh nghiệp niêm yết, thay vì công ty tư nhân. Do đó, họ mong chờ các doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế như hàng tiêu dùng, bán lẻ, công nghệ, hạ tầng lên sàn để đa dạng danh mục đầu tư và phân tán rủi ro.
Chuyên gia FiinGroup cho rằng số lượng thương vụ IPO có khả năng tăng, nhưng quy mô từng đợt phát hành nhỏ hơn. Tổng giá trị huy động thông qua chào bán lần đầu ra công chúng khoảng 50.000 tỷ đồng, tương đương hoặc nhỉnh hơn 2025 không nhiều.
“Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thị trường thế giới gặp nhiều thách thức, đạt mức này có thể xem là thành công”, ông Đồng nói.
Thách thức lớn nhất đến từ môi trường vĩ mô. Thanh khoản hệ thống ngân hàng không còn dồi dào như trước khiến mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao hơn, làm giảm sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán và gây áp lực lên định giá IPO. Bên cạnh đó, xung đột Trung Đông và căng thẳng thương mại khiến chi phí đội lên, biên lợi nhuận và triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp giảm.
Trong những sự kiện chào bán gần đây, điều nhà đầu tư quan tâm nhất là liệu doanh nghiệp có rơi vào tình trạng tương tự các thương vụ năm 2025: “cháy hàng” IPO, nhưng sau khi niêm yết thì diễn biến cổ phiếu thụt lùi.
Theo lãnh đạo một công ty chứng khoán, tâm lý thận trọng là điều dễ hiểu, đặc biệt với nhà đầu tư cá nhân, bởi họ đã tiếp nhận nhiều thông tin tích cực trong giai đoạn chào bán và niêm yết, dẫn tới kỳ vọng lớn khi doanh nghiệp lên sàn.
Đồng quan điểm, ông Lê Xuân Đồng cho rằng nhà đầu tư cá nhân dần khắt khe hơn trước mỗi quyết định giải ngân. Khác với sự hào hứng trước các thương vụ lớn năm ngoái, nhà đầu tư có thể không rót tiền vào doanh nghiệp IPO nếu còn phân vân về định giá. Doanh nghiệp cũng hiểu rằng năm nay không còn kịch bản cứ chào bán sẽ có người mua như trước. Thành công của thương vụ lúc này phụ thuộc nhiều hơn vào năng lực quản trị, chiến lược kinh doanh, triển vọng tăng trưởng và định giá hợp lý, thay vì chỉ trông chờ sự sôi động của dòng tiền.
Việc nhà đầu tư kỹ tính hơn trong việc lựa chọn cổ phiếu IPO, theo ông Đồng, kéo theo doanh nghiệp thay đổi cách tiếp cận. Nhiều doanh nghiệp trước đây tranh thủ thời cơ khi có dòng tiền rẻ, nhưng phần lớn đang chuyển sang chiến lược chuẩn bị bài bản và dài hơi hơn. Họ thuê đơn vị tư vấn để tái cấu trúc toàn diện về chiến lược, sở hữu, pháp lý và tài chính trước khi IPO. Một số đơn vị bắt đầu xây dựng Hội đồng quản trị có thành viên độc lập, tập dượt công bố thông tin định kỳ bằng tiếng Anh và sớm tổ chức các hoạt động quảng bá.
Tiêu chuẩn xanh và phát triển bền vững (EGS) đang là những yêu cầu bắt buộc trong xuất nhập khẩu. Vậy làm thế nào để đáp ứng được các tiêu chuẩn, quy chuẩn kiểm định ngày càng khắt khe của thị trường để sản phẩm xuất khẩu Việt Nam tăng tính cạnh tranh trên thị trường?
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Jackson Woo - Tổng giám đốc của SGS Vietnam, đơn vị vận hành các trung tâm thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận toàn cầu - nhìn nhận nhu cầu về thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận tại Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ, xuất phát từ các yếu tố mang tính cấu trúc và dài hạn.
* Việt Nam đã có quá trình hội nhập sâu rộng với kim ngạch thương mại xuất nhập khẩu gấp đôi quy mô GDP. Vậy ông đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa Việt Nam đã thay đổi thế nào?
- Trong hơn ba thập kỷ hiện diện tại Việt Nam, thông qua công tác kiểm định chất lượng sản phẩm hàng hóa với các trung tâm kiểm định, thử nghiệm tại TP.HCM, Hà Nội và Hải Phòng, chúng tôi thấy rằng chất lượng sản phẩm của Việt Nam đã cải thiện đáng kể ở nhiều ngành.
Các doanh nghiệp đã nâng cao hệ thống quản lý, kiểm soát sản xuất tốt hơn, nhận thức rõ hơn về các yêu cầu của quốc tế và áp dụng rộng rãi các tiêu chuẩn được công nhận, đặc biệt trong nhóm doanh nghiệp xuất khẩu và các nhà sản xuất lớn. Tuy nhiên, thị trường cũng trở nên phức tạp hơn.
Trong khi nhiều doanh nghiệp đã đạt tiêu chuẩn quốc tế, vẫn còn tồn tại các thách thức. Đó là tính ổn định giữa các lô sản phẩm, hồ sơ, tài liệu và truy xuất nguồn gốc hay vấn đề quản lý chất lượng nhà cung cấp và khả năng thích ứng nhanh với các quy định mới.
Tóm lại, xu hướng chung là rất tích cực, nhưng việc cải tiến liên tục vẫn là yếu tố then chốt, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và chuỗi cung ứng nhiều tầng.
* Những thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp khi đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn như ESG là gì, thưa ông?
- Thách thức lớn nhất nằm ở độ phức tạp và tốc độ thay đổi. Tức là các tiêu chuẩn liên tục thay đổi và khác nhau giữa các thị trường. Doanh nghiệp cũng phải đối mặt với áp lực chi phí và thời gian giao hàng.
Những yêu cầu đặt ra cho doanh nghiệp phải nâng cao năng lực về: tài liệu và hồ sơ chứng minh, việc truy xuất nguồn gốc, kiểm soát đầu vào của nhà cung cấp cũng như năng lực, kỹ thuật để chứng minh sự tuân thủ. Do đó, thách thức cho các doanh nghiệp không chỉ là "nhiều tiêu chuẩn hơn", mà còn là "nhiều tiêu chuẩn khác nhau cùng lúc".
Đặc biệt, doanh nghiệp xuất khẩu thường đối mặt với việc nhiều hệ thống quy định khác nhau giữa các thị trường (ghi nhãn hàng hóa, giới hạn an toàn, hóa chất bị hạn chế, phương pháp thử nghiệm...). Thực hiện trùng lặp các thử nghiệm hoặc chứng nhận do thiếu công nhận lẫn nhau. Trong khi việc cung cấp bằng chứng tuân thủ, đặc biệt với đơn hàng theo mùa hoặc khối lượng lớn yêu cầu thời gian gấp rút.
Hay vấn đề truy xuất nguồn gốc và tìm kiếm nguồn cung ứng có trách nhiệm, đòi hỏi hệ thống quản lý bài bản, trách nhiệm lớn hơn. Từ thực tiễn chúng tôi nhận thấy, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các nhà xuất khẩu lớn, đã nâng cao năng lực và chủ động hơn đáng kể.
Tuy nhiên, các SME vẫn gặp khó khăn về chi phí, nguồn lực và việc theo kịp các yêu cầu thay đổi nhanh. Vì vậy, lập kế hoạch sớm và xây dựng lộ trình tuân thủ dựa trên rủi ro là rất quan trọng.
* Theo ông, những lĩnh vực nào là khó nhất và có yêu cầu tiêu chuẩn, kiểm định chất lượng cao đối với doanh nghiệp và vì sao?
- Khi đất nước mở cửa kinh tế, nhu cầu kiểm định hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng cao, cho thấy nhu cầu thử nghiệm, kiểm định ngày càng lớn. Đặc biệt khi các nước đưa ra những tiêu chuẩn, quy định khắt khe hơn.
Trước áp lực siết chặt rào cản kỹ thuật từ EU, Mỹ và các nước phát triển, việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn sản phẩm, môi trường và truy xuất nguồn gốc không còn là lựa chọn nữa, mà trở thành điều kiện tiên quyết quyết định sinh tồn của doanh nghiệp xuất khẩu, giúp duy trì đơn hàng và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Qua thực tiễn, chúng tôi thấy những lĩnh vực khó nhất thường là các ngành có quy định thay đổi nhanh và tác động lớn đến an toàn. Đơn cử như ngành điện tử và công nghệ cao, hóa chất và các chất bị hạn chế, sản phẩm liên quan y tế, chuỗi cung ứng thực phẩm/nông nghiệp.
Các lĩnh vực này không chỉ yêu cầu thử nghiệm sản phẩm mà còn đòi hỏi kiểm soát quy trình chặt chẽ, quản lý nhà cung cấp và phải có hồ sơ kỹ thuật đầy đủ, chính xác.
* Ông khuyến nghị gì với các nhà sản xuất, xuất khẩu Việt Nam nhằm nâng cao hơn nữa năng lực sản xuất hàng hóa, đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng khắt khe hơn của thị trường?
- Tôi cho rằng các doanh nghiệp cần áp dụng cách tiếp cận chủ động và hệ thống. Tức là cần xây dựng lộ trình tuân thủ trên cơ sở xác định thị trường mục tiêu, tiêu chuẩn áp dụng và bằng chứng cần có với hệ thống dữ liệu đầy đủ.
Cần áp dụng công thức "quality-by-design", tức là tích hợp tuân thủ ngay từ giai đoạn phát triển sản phẩm. Tăng cường quản lý chất lượng nhà cung cấp và đầu tư nhiều hơn vào các hệ thống quản lý được công nhận (ISO 9001, ISO 14001, ISO 45001, ISO 22000, ISO 13485, IATF 16949...).
Doanh nghiệp cần chủ động áp dụng kiểm tra, xác minh dựa trên rủi ro, nâng cao chất lượng tài liệu và tính toàn vẹn dữ liệu. Tăng cường hợp tác sớm với các đối tác ngành TIC (Testing - Inspection - Certification) thử nghiệm - kiểm định - chứng nhận.
Tôi cho rằng với hệ thống phù hợp và đối tác đúng, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đáp ứng được yêu cầu quốc tế mà còn có thể biến chất lượng và tuân thủ thành lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Càng đến gần dịp lễ Giỗ Tổ Hùng Vương cũng như dịp lễ 30-4 và 1-5, các công ty du lịch, cơ sở lưu trú ghi nhận lượng khách đặt phòng, dịch vụ tăng vọt.
Theo ghi nhận, nhiều khách sạn nội đô TP.HCM có công suất phòng trong dịp cuối tháng 4 lên đến 80-85%, trong đó ngày 30-4, công suất phòng đạt 95% ở các khách sạn có tầm nhìn hướng ra sông Sài Gòn.
Bà Trần Thị Bảo Thu - Giám đốc tiếp thị và truyền thông Vietluxtour - cho biết đến thời điểm hiện tại, hãng ghi nhận lượng khách chốt tour dịp 30-4 đạt khoảng hơn 80% kế hoạch, các điểm đến biển, thời gian nghỉ dưỡng từ 3-4 ngày chiếm tỉ lệ cao.
Đặc điểm chung là khách đặt sát ngày hơn so với trước, nhưng tốc độ lấp chỗ vẫn khá nhanh ở các hành trình có lịch trình thuận tiện và giá hợp lý.
"Lễ 30-4 năm nay sẽ không có tình trạng thiếu hụt dịch vụ. Để chuẩn bị cho kế hoạch kinh doanh lễ năm nay, công ty đã chuẩn bị sớm kế hoạch quản trị rủi ro và chuẩn bị quỹ phòng/vé dự phòng", bà Thu cho biết.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào đợt nắng nóng gay gắt sớm hơn mọi năm, nhiệt độ được ghi nhận gần 40 độ ở nhiều nơi trên toàn quốc, nhiều du khách có xu hướng tìm kiếm những nơi có khí hậu mát mẻ hơn.
Đại diện Vietravel cho biết các tuyến Phú Quốc, Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn, Đà Lạt, miền Bắc... tiếp tục giữ sức hút ổn định nhờ khả năng đáp ứng đồng thời nhu cầu nghỉ dưỡng, trải nghiệm và đi cùng nhiều thế hệ trong gia đình.
"Ở dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, chúng tôi nhận thấy nhóm sản phẩm được quan tâm nhiều là các tour nội địa ngắn ngày, hành trình nghỉ dưỡng biển, du lịch thiên nhiên và các tuyến điểm đến thuận lợi về thời gian di chuyển.
Trong khi đó, với dịp lễ 30-4 và 1-5, nhu cầu đang mở rộng rõ hơn sang các tour trong nước từ 3-5 ngày và các chương trình outbound gần như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan...", đại diện Vietravel nhận định.
Một xu hướng khác cũng được nhận diện rõ là du khách dành thời gian ở lại TP.HCM trong suốt kỳ nghỉ dài.
Anh Phan Lâm, ngụ phường Thạnh Mỹ Tây, cho biết năm ngoái đúng dịp kỷ niệm ngày hội lớn của TP.HCM nên cả nhà không đi đâu, dành thời gian khám phá, tận hưởng các hoạt động tại thành phố. Đó là kỳ nghỉ ai cũng vui vẻ và thêm yêu thành phố. "Năm nay gia đình quyết định sẽ nghỉ lễ ở thành phố và đi một số tour trong ngày", anh Lâm nói.
Những du khách chọn ở lại TP.HCM đều có thể trải nghiệm những dịch vụ lưu trú, ẩm thực đặc sắc trong suốt kỳ nghỉ lễ, khi nhiều đơn vị tung ra nhiều sản phẩm du lịch và chương trình ưu đãi hấp dẫn dịp này.
Ông Hậu Nguyễn - Giám đốc Chi nhánh Sea Stars Cruise khu vực miền Nam - cho biết ngoài cơ sở lưu trú khách sạn, kỳ nghỉ năm nay ngành lưu trú TP.HCM có thêm lựa chọn trải nghiệm nghỉ đêm ngay trên dòng sông Sài Gòn.
Theo đó, du thuyền Star of the South vừa mới ra mắt giữa tháng 4 này sẽ đón khách nghỉ qua đêm ngay trên sông Sài Gòn. Giá phòng qua đêm từ 200 USD/cabin/đêm, bao gồm bữa sáng cho hai người.
Dịch vụ dinner cruise cũng như những dịch vụ trải nghiệm khác như trà chiều trên boong, du ngoạn trên sông ngắm hoàng hôn với giá từ 40 USD/người. Du thuyền cũng sẵn sàng cho thuê trọn gói phục vụ sự kiện doanh nghiệp, MICE và các buổi tiệc riêng.
Ông An Sơn Lâm, Giám đốc Công ty TNHH Thuyền buồm Đông Dương, cho biết với du khách trong và ngoài nước, du ngoạn trên dòng sông Sài Gòn trong buổi hoàng hôn rực nắng luôn là điểm nhấn độc đáo ngay tại khu vực trung tâm thành phố.
Hiện nay, các dịch vụ thưởng ngoạn trên sông kết hợp thưởng thức ẩm thực trên tàu nhà hàng, du thuyền... vẫn luôn kín chỗ trong dịp cuối tuần, dịp lễ.
Chia sẻ tại tọa đàm kết quả điều tra hộ kinh doanh ngày 23/4, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhấn mạnh "tâm lý phòng thủ" của hộ kinh doanh trước sức ép thị trường và khó khăn pháp lý.
Kết quả khảo sát hơn 1.000 hộ kinh doanh trong 3 tháng qua của VCCI cho thấy chỉ 1,8% dự định mở rộng hoạt động, hơn 60% duy trì quy mô hiện tại và 33% thu hẹp. Thậm chí, một số hộ dự tính giải thể trong hai năm tới.
Xu hướng kém lạc quan này một phần do hoạt động kinh doanh yếu trong năm qua. Hơn 81% hộ cho biết doanh thu giảm, dẫn tới ba phần tư hộ vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng. "Mức này đủ để tồn tại, nhưng khó tích lũy hay chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, nhận định.
Với các hộ kinh doanh, khó khăn về pháp lý là yếu tố áp lực nhất với họ (73%), ảnh hưởng lớn hơn vấn đề nguyên liệu đầu vào trước biến động trong nước và xung đột Trung Đông (59%).
Về nghĩa vụ thuế, hơn 36% hộ không biết hoặc ở mức "có nghe nói" tới hóa đơn điện tử. Một phần ba hộ thiếu thiết bị, hạ tầng Internet. Nhiều hộ không biết sửa hoặc xử lý lỗi kỹ thuật trong quá trình áp dụng hóa đơn điện tử.
Cũng theo khảo sát của VCCI, hơn 80% hộ "né" chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp vì lo ngại thủ tục, chi phí bảo hiểm xã hội cao và bị thanh, kiểm tra nhiều hơn. Ông Phạm Ngọc Thạch cho biết tính theo doanh thu, nhóm có quy mô từ 500 triệu đến 3 tỷ đồng có xu hướng không muốn lên doanh nghiệp.
Chỉ 16% hộ có ý định chuyển đổi thành doanh nghiệp trong hai năm tới. Động lực chuyển đổi đến từ nhu cầu phát triển thực chất, như muốn có pháp nhân khi giao kết hợp đồng, mở rộng quy mô, vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, VCCI cho rằng rào cản chuyển đổi đang lớn hơn nhiều so với động lực, khi hơn 90% hộ lo ngại thủ tục thuế và kế toán phức tạp hơn.
Ông Tuấn nhận định điều này khiến ý định đầu tư, mở rộng của hộ kinh doanh giảm đáng kể. "Môi trường thể chế có thể vô tình khiến hộ kinh doanh duy trì quy mô nhỏ, phòng thủ và né tránh tăng trưởng", ông nói.
Phó tổng thư ký VCCI cho rằng các quy định về thuế, kế toán và hóa đơn điện tử cần được đơn giản hóa cho phù hợp với năng lực thực tế của hộ kinh doanh. Điều này đặc biệt cấp thiết với những hộ siêu nhỏ, chủ hộ lớn tuổi hoặc ở nông thôn
Hiện Bộ Tài chính đề xuất ngưỡng doanh thu chịu thuế lên 1 tỷ đồng, nhưng bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cho rằng đây chưa phải là giải pháp cốt lõi. Theo bà, hộ kinh doanh không phải không muốn đóng thuế, điều họ cần là giải pháp tuân thủ dễ dàng, minh bạch, đặc biệt về giới hạn xử phạt. Họ cần được hỗ trợ để kinh doanh chuẩn, quản trị tốt, từ đó "lớn hơn".
"Họ sợ ranh giới xử phạt mong manh, bước qua một đồng là thành vi phạm", bà nói.
Ở khía cạnh này, ông Phạm Ngọc Thạch đồng tình chính sách hiệu quả không chỉ là quản lý chặt hơn, cần giúp hộ kinh doanh đủ tự tin để tồn tại, phục hồi và trưởng thành.