Đây được xem là đợt cập nhật lớn nhất của tính năng Teen Account kể từ khi triển khai tại Việt Nam năm 2025. Theo đó, các tài khoản vị thành niên trên Facebook và Messenger sẽ tự động được chuyển sang chế độ bảo vệ dành cho thanh thiếu niên.
Sau khi liên kết tài khoản, cha mẹ có thể xem thời gian con sử dụng mạng xã hội mỗi ngày, thiết lập giới hạn thời gian và quản lý một số cài đặt liên quan đến quyền riêng tư.
Theo Meta, nhóm người dùng từ 13 đến 15 tuổi sẽ không thể tự thay đổi các thiết lập bảo vệ mặc định nếu chưa có sự đồng ý của phụ huynh. Trong khi đó, người dùng từ 16 đến 17 tuổi sẽ có quyền chủ động cao hơn trong việc quản lý tài khoản.
Bà Malina Enlund, Quản lý Chính sách và An toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Meta, cho biết: “Nhóm 13–15 tuổi cần được bảo vệ nhiều hơn, trong khi thanh thiếu niên lớn tuổi hơn có nhu cầu tự chủ cao hơn khi sử dụng Internet”.
Theo các thay đổi mới, tài khoản của người dùng nhỏ tuổi sẽ được chuyển sang chế độ riêng tư mặc định. Người lạ sẽ không thể nhắn tin trực tiếp hoặc tìm thấy tài khoản trong kết quả tìm kiếm.
Hệ thống cũng tự động hạn chế các nội dung liên quan đến bạo lực, chất kích thích hoặc những bài đăng có thể cổ xúy hành vi nguy hiểm. Ngoài ra, Meta cho biết sẽ siết chặt việc hiển thị các nội dung mang tính kích động hoặc thử thách rủi ro trên nền tảng.
Một điểm đáng chú ý khác là công cụ kiểm soát thời gian sử dụng. Trẻ sẽ nhận được thông báo rời Facebook sau 60 phút sử dụng mỗi ngày. Chế độ “im lặng” cũng sẽ tự động kích hoạt từ 22h đến 7h sáng hôm sau nhằm hạn chế việc dùng mạng xã hội vào ban đêm.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Nhiều vụ việc lùm xùm gần đây xảy ra trên thị trường kim cương liên quan tới chất lượng kiểm định, buôn lậu kim cương xuyên quốc gia đã làm lộ rõ không ít "lỗ hổng" trong quản lý thị trường này.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hương, Trưởng phòng Quản lý gia sản của Công ty CP Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, một trong những hạn chế nổi cộm là thiếu minh bạch trong khung pháp lý.
Khác với vàng - vốn được Ngân hàng Nhà nước quản lý chặt chẽ, có cơ chế kiểm soát chất lượng và hệ thống tiêu chuẩn tương đối đầy đủ, thị trường kim cương hiện chưa có bộ tiêu chuẩn ngành thống nhất. Do đó, việc xác thực chất lượng, minh bạch thông tin còn là khoảng trống.
Ngoài ra, hiện chưa có cơ chế bảo đảm tính độc lập giữa doanh nghiệp bán lẻ và đơn vị kiểm định.
Nhấn mạnh kim cương là một trong những thị trường có mức độ bất cân xứng thông tin cao nhất trong các lớp tài sản, theo bà Hương, rủi ro hiện nay gần như dồn về phía người mua.
Hiện chưa có một sàn giao dịch tập trung, giá kim cương không được niêm yết công khai. Việc quản lý mới dừng ở từng khâu riêng lẻ như nhập khẩu, truy xuất nguồn gốc, chưa hình thành một chuỗi quản lý xuyên suốt.
"Bên bán gần như nắm toàn bộ thông tin về nguồn gốc, chất lượng, định giá và kết quả kiểm định của kim cương, song pháp luật hiện chưa quy định cụ thể nghĩa vụ phải công khai đầy đủ các thông tin này cho người mua. Vì vậy, ngay cả khi mua ở thương hiệu lớn, có giấy kiểm định cũng không đồng nghĩa mọi rủi ro đã được loại bỏ.
Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp có chính sách cam kết mua lại sản phẩm, nhưng chủ yếu là cam kết dân sự, chưa có quy định pháp lý riêng điều chỉnh. Nếu xảy ra biến động khiến nhiều khách hàng đồng loạt bán lại, doanh nghiệp có thể chịu áp lực thanh khoản rất lớn", bà Hương nhấn mạnh.
Tiến sĩ kinh tế Lê Bá Chí Nhân đánh giá, thị trường kim cương Việt Nam có mức độ minh bạch thấp hơn đáng kể so với các trung tâm giao dịch kim cương trong khu vực như Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc).
Trong khi các thị trường đã xây dựng được hệ sinh thái quản lý dựa trên tiêu chuẩn quốc tế, cơ sở dữ liệu điện tử và cơ chế kiểm soát xuyên suốt chuỗi cung ứng, thì tại Việt Nam, thị trường chủ yếu vận hành dựa trên sự tin cậy giữa người bán và người mua.
"Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một cơ chế quản lý chuyên biệt đối với thị trường kim cương và đá quý, tương tự cách đang áp dụng trong quản lý thị trường vàng", ông Nhân nói.
Vị chuyên gia đề xuất phải hoàn thiện cơ chế giám sát thị trường theo hướng số hóa, quản lý dựa trên dữ liệu. Thay vì chủ yếu kiểm tra sau khi phát sinh vi phạm, cơ quan quản lý cần xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa hải quan, thuế, quản lý thị trường và các tổ chức kiểm định để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường về nguồn gốc, chất lượng, giá trị giao dịch.
Cạnh đó là phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử đối với các sản phẩm có giá trị lớn. Mỗi viên kim cương hoặc sản phẩm đá quý nên được gắn với một mã định danh duy nhất, tích hợp toàn bộ thông tin về nguồn nhập khẩu, kiểm định, chế tác, lưu thông và giao dịch. Đây là xu hướng quản trị mà nhiều thị trường phát triển đang áp dụng nhằm tăng minh bạch, ngăn gian lận thương mại.
"Quan trọng là, cần xác lập rõ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong việc công bố thông tin, lưu trữ hồ sơ kiểm định và bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với tính xác thực của chứng thư, nguồn gốc hàng hóa, các cam kết chất lượng trong suốt vòng đời sản phẩm", ông Nhân lưu ý.
Bà Hương cũng đề xuất, thời gian tới, cần xây dựng một khung pháp lý chuyên ngành thống nhất cho thị trường kim cương và đá quý.
Hiện nay, việc quản lý còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau. Việt Nam có thể nghiên cứu một nghị định hoặc thông tư chuyên ngành, tương tự cách Nhà nước đang quản lý thị trường vàng, để quy định thống nhất từ khâu kiểm định, truy xuất nguồn gốc, cho đến công bố thông tin, trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường.
Ngoài ra, cần thiết lập tính độc lập của hoạt động kiểm định. Có thể nghiên cứu yêu cầu tách bạch pháp nhân giữa đơn vị bán hàng và đơn vị kiểm định; với những giao dịch có giá trị lớn, khuyến khích hoặc quy định việc sử dụng chứng thư từ các tổ chức giám định quốc tế độc lập như GIA, IGI, HRD…
"Mục tiêu cuối cùng không phải là tăng thêm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, mà là bảo vệ người tiêu dùng, nâng cao tính minh bạch, chuyên nghiệp của thị trường", bà Hương nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kiến nghị nhiều nội dung liên quan tới nguồn vàng nguyên liệu.
Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.
Không đồng tình với đề xuất trên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, về bản chất, cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận chính là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, lợi bất cập hại.
Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô như: rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng; hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát. Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền, mức độ rủi ro.
"Doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.
Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền. Điều này đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân lý giải.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, trước kia, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng. Doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, trong khi người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với tiền.
Điều này gây nhiều hệ quả như: chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỷ giá chịu áp lực lớn... Năm 2012, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời với mục tiêu chính là chấm dứt tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. Không có lý gì hiện tại lại cho phép tái diễn.
"Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng trong dân thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức, dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường ĐH Nguyễn Trãi), nhìn nhận, đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vàng trang sức nếu hiện thực hóa sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành chế tác.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất vay thỏa thuận có thể dẫn đến các rủi ro về pháp lý, tài chính nếu không được giám sát chặt chẽ.
"Khi doanh nghiệp gặp phải vấn đề tài chính hoặc rủi ro kinh doanh, việc không thể hoàn trả vàng vay có thể dẫn đến người dân không thu hồi được tài sản.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gặp vấn đề về nhân sự hoặc hoạt động kinh doanh không ổn định, thu hồi vàng vay từ doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn, tạo ra sự mất cân bằng trong các giao dịch", ông Huy phân tích.
Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức hợp lý về mặt lý thuyết, song chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh, điều này rất khó hiện thực hóa.
Vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức. Việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản. Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.
"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả. Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nêu vấn đề.
Băn khoăn quan trọng khác được ông Phương đề cập là rủi ro lớn về cân đối trạng thái của doanh nghiệp kinh doanh vàng. Giả sử, doanh nghiệp huy động vàng ở vùng giá 170 - 175 triệu đồng/lượng, song đến khi đáo hạn, giá đã tăng lên 200 triệu đồng/lượng. Khi đó, việc cân đối nguồn để trả nợ trở nên rất khó khăn.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Auspacific Investment Việt Nam chính thức ra mắt tại Hà Nội: Xác lập hệ quy chiếu mới cho bất động sản cao cấp

Dấu ấn 17 năm và tầm nhìn "Giám tuyển"
Sự kiện khai trương văn phòng APIV tại Hà Nội đã thu hút sự hiện diện của các đơn vị đối tác hàng đầu như Văn Phú, Taseco Land, Silk Path, PVcombank,... cùng nhiều chuyên gia đến từ các lĩnh vực khác nhau. Sau gần hai thập kỷ hoạt động tại Úc với mạng lưới 15 chi nhánh toàn cầu, APIV chọn Hà Nội là điểm đến tiếp theo trong chiến lược mở rộng tại Châu Á.
Chia sẻ về tầm nhìn doanh nghiệp, ông Tô Như Tuấn Anh – Chủ tịch HĐQT Auspacific Investment Việt Nam khẳng định: "Chúng tôi hiện diện tại đây để xác lập vị thế của một Nhà giám tuyển bất động sản độc lập. APIV kỳ vọng trở thành cầu nối chuẩn mực, nơi kết nối giữa tâm huyết của các Chủ đầu tư và khát vọng sở hữu những tài sản thực sự tiềm năng của Khách hàng".
Sự khác biệt từ mô hình đối soát độc lập và dịch vụ chuẩn 5 sao xuyên suốt giao dịch
Thế mạnh khác biệt của Auspacific Investment Việt Nam không nằm ở số lượng dự án, mà nằm ở quy trình đối soát độc lập dựa trên hai giá trị cốt lõi: Trung lập và Kỷ luật. Theo ông Lê Quốc Đạt – Giám đốc Kinh doanh Auspacific Investment Việt Nam, dịch vụ của doanh nghiệp được thiết kế để giải quyết bài toán lớn nhất của thị trường hiện nay: Niềm tin.
"Chúng tôi đến Việt Nam với sự tôn trọng thị trường bản địa, cùng cam kết xây dựng một hệ thống vận hành rõ ràng, nhất quán — để Quý vị có thể an tâm đặt trọn niềm tin" – ông Đạt nhấn mạnh.
Cam kết đồng hành trường tồn
Mục tiêu cốt lõi của Auspacific Investment Việt Nam là kiến tạo một hệ sinh thái tư vấn chuyên sâu, nơi vị thế của Chủ đầu tư được thấu hiểu và dòng vốn của Khách hàng được bảo vệ. Thông qua việc phân tích dữ liệu thị trường và kinh nghiệm quản trị tài sản đa quốc gia, APIV cam kết đồng hành cùng nhà đầu tư trong việc định danh giá trị bất động sản.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

