Dấu ấn 17 năm và tầm nhìn “Giám tuyển”
Sự kiện khai trương văn phòng APIV tại Hà Nội đã thu hút sự hiện diện của các đơn vị đối tác hàng đầu như Văn Phú, Taseco Land, Silk Path, PVcombank,… cùng nhiều chuyên gia đến từ các lĩnh vực khác nhau. Sau gần hai thập kỷ hoạt động tại Úc với mạng lưới 15 chi nhánh toàn cầu, APIV chọn Hà Nội là điểm đến tiếp theo trong chiến lược mở rộng tại Châu Á.
Chia sẻ về tầm nhìn doanh nghiệp, ông Tô Như Tuấn Anh – Chủ tịch HĐQT Auspacific Investment Việt Nam khẳng định: “Chúng tôi hiện diện tại đây để xác lập vị thế của một Nhà giám tuyển bất động sản độc lập. APIV kỳ vọng trở thành cầu nối chuẩn mực, nơi kết nối giữa tâm huyết của các Chủ đầu tư và khát vọng sở hữu những tài sản thực sự tiềm năng của Khách hàng”.
Sự khác biệt từ mô hình đối soát độc lập và dịch vụ chuẩn 5 sao xuyên suốt giao dịch
Thế mạnh khác biệt của Auspacific Investment Việt Nam không nằm ở số lượng dự án, mà nằm ở quy trình đối soát độc lập dựa trên hai giá trị cốt lõi: Trung lập và Kỷ luật. Theo ông Lê Quốc Đạt – Giám đốc Kinh doanh Auspacific Investment Việt Nam, dịch vụ của doanh nghiệp được thiết kế để giải quyết bài toán lớn nhất của thị trường hiện nay: Niềm tin.
“Chúng tôi đến Việt Nam với sự tôn trọng thị trường bản địa, cùng cam kết xây dựng một hệ thống vận hành rõ ràng, nhất quán — để Quý vị có thể an tâm đặt trọn niềm tin” – ông Đạt nhấn mạnh.
Cam kết đồng hành trường tồn
Mục tiêu cốt lõi của Auspacific Investment Việt Nam là kiến tạo một hệ sinh thái tư vấn chuyên sâu, nơi vị thế của Chủ đầu tư được thấu hiểu và dòng vốn của Khách hàng được bảo vệ. Thông qua việc phân tích dữ liệu thị trường và kinh nghiệm quản trị tài sản đa quốc gia, APIV cam kết đồng hành cùng nhà đầu tư trong việc định danh giá trị bất động sản.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính vừa đăng tải ý kiến của doanh nghiệp liên quan đến việc kê khai và nộp thuế thay cá nhân cho thuê nhà, bất động sản. Theo đó, một doanh nghiệp hỏi: Theo quy định tại Nghị định số 68/2026 của Chính phủ, trường hợp tổ chức thuê bất động sản của cá nhân mà trong hợp đồng thuê có thỏa thuận bên đi thuê là người khai thuế thay, nộp thuế thay thì tổ chức có trách nhiệm thực hiện khai thuế, nộp thuế thay cho cá nhân.
Quy định cũng nêu thời hạn nộp hồ sơ khai thuế được xác định theo kỳ thanh toán tiền thuê bất động sản. Tuy nhiên, doanh nghiệp hiện còn chưa rõ khái niệm “kỳ thanh toán” trong trường hợp này được xác định như thế nào. Vậy, nếu hợp đồng quy định thanh toán tiền thuê theo tháng thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế có phải là ngày 20 của tháng tiếp theo hay không? Nếu hợp đồng quy định thanh toán theo quý thì thời hạn kê khai có phải là ngày cuối cùng của tháng đầu quý tiếp theo hay không? Đối với các trường hợp thanh toán 6 tháng/lần hoặc 3 tháng/lần nhưng không trùng theo quý dương lịch thì thời hạn kê khai thuế được xác định như thế nào?
Trả lời câu hỏi này, Thuế TP.Hà Nội trích dẫn điều 44 luật Quản lý thuế số 38/2019 QH14 của Quốc hội quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Cụ thể, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế khai theo tháng, theo quý được quy định: Chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo tháng; chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo quý.
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế có kỳ tính thuế theo năm được quy định chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu tiên của năm dương lịch hoặc năm tài chính. Đối với loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế thì chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế.
Như vậy, thời hạn doanh nghiệp thuê bất động sản và thực hiện khai thuế thay, nộp thuế thay thì thực hiện theo quy định tại điều 44 luật Quản lý thuế số 38/2019 QH14 của Quốc hội nêu trên.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Năm sau, 90% khách quốc tế từ Tân Sơn Nhất sẽ chuyển về sân bay Long Thành

ACV vừa báo cáo các cơ quan có thẩm quyền phương án chuyển giao hoạt động giữa Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Phương án được xây dựng theo lộ trình 2 bước - 3 giai đoạn, từ chuyển dịch phần lớn tiến tới toàn bộ các chuyến bay quốc tế sang khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Long Thành theo từng giai đoạn, phù hợp với năng lực hạ tầng và mục tiêu phát triển trung tâm trung chuyển hàng không quốc tế.
Cụ thể, giai đoạn đầu tiên, từ khi khai thác thương mại đến hết lịch bay mùa đông 2026 (dự kiến từ 1.12.2026 - 27.3.2027), ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài (bao gồm vận tải hàng hóa) từ sân bay Tân Sơn Nhất sang sân bay Long Thành. Dự kiến ở bước này, sẽ có khoảng 19% sản lượng khách quốc tế khu vực TP.HCM khai thác tại Cảng Long Thành.
Giai đoạn 2, từ lịch bay mùa hè 2027 đến hết năm 2030 (từ 28.3.2027 đến hết năm 2030), toàn bộ các chuyến bay quốc tế còn lại (trừ các chặng ngắn dưới 1.000 km do các hãng hàng không Việt Nam khai thác) sẽ chuyển sang sân bay mới. Mục tiêu đạt trên 90% sản lượng khách quốc tế tại khu vực TP.HCM ngay trong năm 2027.
Giai đoạn sau năm 2030, nhà khai thác cảng sẽ chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất lúc này sẽ chủ yếu khai thác các chuyến bay nội địa và các chuyến bay quốc tế không thường lệ, chuyến bay thuê chuyến phục vụ các tổ chức, cá nhân.
ACV đánh giá phương án khai thác sau năm 2030 nhằm thiết lập nền tảng hình thành trung tâm vận tải hàng không đầu mối, trung chuyển quốc tế ngang tầm khu vực tại vùng TP.HCM theo định hướng tại Quyết định số 648 của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện ACV đang phối hợp chặt chẽ với Tư vấn IAC để hoàn thiện kế hoạch thử nghiệm và chuyển giao khai thác, đồng thời cập nhật dự báo sản lượng theo tình hình thực tế. Thời gian qua, đơn vị này đã triển khai công tác chuẩn bị khai thác Cảng Long Thành trên các phương diện chính về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, xây dựng phương án khai thác và triển khai thử nghiệm vận hành.
Theo kế hoạch, 3 đợt thử nghiệm vận hành và chuyển giao khai thác sẽ lần lượt được tổ chức vào tháng 9, 10 và 11 năm nay.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 22/5, dưới sự chỉ đạo của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), Tạp chí Tiếp thị & Gia đình đã tổ chức tọa đàm với chủ đề: "Truy xuất nguồn gốc – Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng".
Phát biểu khai mạc Tọa đàm, ông Trần Hữu Linh - Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, vấn đề truy xuất nguồn gốc hiện mang tính thời sự cao trong bối cảnh pháp luật ngày càng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về minh bạch nguồn gốc hàng hóa, cùng với sức ép hội nhập kinh tế trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả, hàng nhái cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải ứng dụng công nghệ vào hoạt động truy xuất nguồn gốc.
Ông cho biết xu hướng quản lý hiện nay cũng đang chuyển dần từ "hậu kiểm" sang "tiền kiểm", đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động minh bạch thông tin ngay từ đầu trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Đại diện Bộ Công Thương nhấn mạnh, truy xuất nguồn gốc là khái niệm được nhắc đến rất nhiều thời gian qua, tuy nhiên nếu không có cách hiểu và định nghĩa thống nhất thì rất dễ triển khai theo phong trào, không đạt đúng mục tiêu thực chất.
"Trước đây từng có giai đoạn nhiều doanh nghiệp chạy theo trào lưu làm tem chống hàng giả và cho rằng như vậy là đã chống được hàng giả. Với truy xuất nguồn gốc cũng cần nhìn nhận lại bản chất vấn đề để hiểu đúng và làm đúng", ông Linh nêu quan điểm.
Ông Hoàng Vững - Tổng biên tập Tạp chí Tiếp thị & Gia đình cho rằng, truy xuất nguồn gốc không phải là câu chuyện mới khi vấn đề này đã được nhắc đến và triển khai trong nhiều năm qua. Thực tế, nhiều doanh nghiệp hiện nay đã áp dụng các giải pháp truy xuất nguồn gốc từ vài năm trước, với hàng triệu sản phẩm được đưa ra thị trường.
"Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, truy xuất nguồn gốc đang trở thành một từ khóa đặc biệt nóng", ông Vững nhấn mạnh.
Theo ông, hiện có ít nhất hai thông tư đang được Bộ xem xét ban hành trong thời gian tới, gồm Thông tư quy định về truy xuất nguồn gốc và Thông tư ban hành danh mục hàng hóa có nguy cơ cao, nguy cơ trung bình. Đây là các văn bản nhằm cụ thể hóa việc triển khai Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007) và Nghị định số 37 quy định chi tiết một số điều, biện pháp tổ chức thực hiện luật.
Đáng chú ý, theo định hướng của các quy định mới, những mặt hàng thuộc nhóm rủi ro cao dự kiến sẽ bắt buộc thực hiện truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, Nhà nước cũng khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm, hàng hóa khác nhằm nâng cao tính minh bạch, bảo đảm chất lượng và tăng cường niềm tin của người tiêu dùng.
Từ câu chuyện chống hàng giả, bảo vệ thương hiệu đến nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng yêu cầu minh bạch của thị trường, nhiều doanh nghiệp cho rằng truy xuất nguồn gốc đang chuyển từ nhu cầu tự nguyện sang yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Quốc An - Phó Tổng Giám đốc Công ty Super Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cho biết doanh nghiệp đã triển khai hệ thống mã QR cho sản phẩm từ năm 2021. Với một thương hiệu có hơn 60 năm phát triển và mỗi năm cung ứng hàng triệu tấn phân bón ra thị trường, việc ứng dụng truy xuất nguồn gốc trước hết nhằm bảo vệ thương hiệu trước tình trạng hàng giả, hàng nhái.
"Động lực lớn nhất xuất phát từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp trong việc bảo vệ thương hiệu và kiểm soát hàng hóa. Là thương hiệu lớn, sản phẩm của chúng tôi bị làm giả rất nhiều", ông An nói.
Theo ông, truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý thị trường hiệu quả hơn mà còn hỗ trợ người tiêu dùng nhận diện sản phẩm chính hãng, qua đó bảo vệ quyền lợi của người nông dân và giữ gìn uy tín doanh nghiệp.
Ở lĩnh vực năng lượng, ông Trịnh Quốc Dân - đại diện Gas South cho biết doanh nghiệp bắt đầu triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc từ năm 2020 trong bối cảnh phải quản lý gần 4 triệu bình gas lưu thông trên thị trường từ Nghệ An đến Cà Mau. Ban đầu, việc triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu về sổ theo dõi điện tử theo quy định của pháp luật, nhưng sau đó đã trở thành công cụ quản trị quan trọng.
"Truy xuất nguồn gốc không chỉ để đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước mà còn là nhu cầu tự thân của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, giảm rủi ro và minh bạch hóa thị trường", ông Dân nhấn mạnh.
Nhờ số hóa dữ liệu toàn bộ vòng đời sản phẩm, doanh nghiệp có thể theo dõi chính xác từng bình gas đang ở đâu và trong tình trạng nào.
Trong khi đó, ông Phan Văn Tâm - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, cho rằng truy xuất nguồn gốc thực chất không phải khái niệm mới, song hiện nay là thời điểm chín muồi để triển khai rộng rãi nhờ sự phổ cập của điện thoại thông minh và các nền tảng số.
"Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững và bảo vệ thương hiệu thì bắt buộc phải triển khai truy xuất nguồn gốc", ông Tâm nhận định.
Dưới góc độ công nghệ, ông Phạm Văn Quân - Chủ tịch CTCP Công nghệ Checkee, lưu ý rằng truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là dán mã QR lên sản phẩm. Theo ông, phía sau mỗi mã truy xuất phải là một hệ thống dữ liệu được kết nối xuyên suốt từ sản xuất, vận chuyển đến phân phối.
"Lợi ích lớn nhất của truy xuất nguồn gốc là giúp bảo vệ doanh nghiệp trong bối cảnh hàng giả, hàng nhái và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phức tạp", ông Quân cho biết, đồng thời khẳng định công nghệ xác thực số đang trở thành công cụ quan trọng để bảo vệ thương hiệu và củng cố niềm tin của người tiêu dùng.
Bổ sung góc nhìn từ cơ quan quản lý, ông Trần Hữu Linh cho rằng sự phát triển của công nghệ đang tạo ra bước tiến đáng kể trong công tác xác thực hàng hóa và chống hàng giả. Nếu như trước đây thị trường chủ yếu sử dụng tem chống giả thì hiện nay các giải pháp như tem điện tử và mã QR đã mang lại hiệu quả cao hơn trong việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc sản phẩm.
Theo ông Linh, thực tế cho thấy các loại tem chống giả truyền thống vẫn có thể bị sao chép, làm giả với thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý lẫn người tiêu dùng trong quá trình nhận diện hàng thật, hàng giả. Trong khi đó, các công cụ truy xuất nguồn gốc ứng dụng công nghệ số cho phép lực lượng chức năng kiểm tra nhanh thông tin sản phẩm ngay tại hiện trường thông qua điện thoại thông minh.
"Chỉ cần quét mã là có thể tiếp cận ngay các dữ liệu về nguồn gốc, xuất xứ và quá trình lưu thông của hàng hóa, qua đó bước đầu nhận diện được những dấu hiệu bất thường của sản phẩm", ông Linh cho biết.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

