Nhiều vụ việc lùm xùm gần đây xảy ra trên thị trường kim cương liên quan tới chất lượng kiểm định, buôn lậu kim cương xuyên quốc gia đã làm lộ rõ không ít “lỗ hổng” trong quản lý thị trường này.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hương, Trưởng phòng Quản lý gia sản của Công ty CP Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, một trong những hạn chế nổi cộm là thiếu minh bạch trong khung pháp lý.
Khác với vàng – vốn được Ngân hàng Nhà nước quản lý chặt chẽ, có cơ chế kiểm soát chất lượng và hệ thống tiêu chuẩn tương đối đầy đủ, thị trường kim cương hiện chưa có bộ tiêu chuẩn ngành thống nhất. Do đó, việc xác thực chất lượng, minh bạch thông tin còn là khoảng trống.
Ngoài ra, hiện chưa có cơ chế bảo đảm tính độc lập giữa doanh nghiệp bán lẻ và đơn vị kiểm định.
Nhấn mạnh kim cương là một trong những thị trường có mức độ bất cân xứng thông tin cao nhất trong các lớp tài sản, theo bà Hương, rủi ro hiện nay gần như dồn về phía người mua.
Hiện chưa có một sàn giao dịch tập trung, giá kim cương không được niêm yết công khai. Việc quản lý mới dừng ở từng khâu riêng lẻ như nhập khẩu, truy xuất nguồn gốc, chưa hình thành một chuỗi quản lý xuyên suốt.
“Bên bán gần như nắm toàn bộ thông tin về nguồn gốc, chất lượng, định giá và kết quả kiểm định của kim cương, song pháp luật hiện chưa quy định cụ thể nghĩa vụ phải công khai đầy đủ các thông tin này cho người mua. Vì vậy, ngay cả khi mua ở thương hiệu lớn, có giấy kiểm định cũng không đồng nghĩa mọi rủi ro đã được loại bỏ.
Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp có chính sách cam kết mua lại sản phẩm, nhưng chủ yếu là cam kết dân sự, chưa có quy định pháp lý riêng điều chỉnh. Nếu xảy ra biến động khiến nhiều khách hàng đồng loạt bán lại, doanh nghiệp có thể chịu áp lực thanh khoản rất lớn”, bà Hương nhấn mạnh.
Tiến sĩ kinh tế Lê Bá Chí Nhân đánh giá, thị trường kim cương Việt Nam có mức độ minh bạch thấp hơn đáng kể so với các trung tâm giao dịch kim cương trong khu vực như Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc).
Trong khi các thị trường đã xây dựng được hệ sinh thái quản lý dựa trên tiêu chuẩn quốc tế, cơ sở dữ liệu điện tử và cơ chế kiểm soát xuyên suốt chuỗi cung ứng, thì tại Việt Nam, thị trường chủ yếu vận hành dựa trên sự tin cậy giữa người bán và người mua.
“Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một cơ chế quản lý chuyên biệt đối với thị trường kim cương và đá quý, tương tự cách đang áp dụng trong quản lý thị trường vàng”, ông Nhân nói.
Vị chuyên gia đề xuất phải hoàn thiện cơ chế giám sát thị trường theo hướng số hóa, quản lý dựa trên dữ liệu. Thay vì chủ yếu kiểm tra sau khi phát sinh vi phạm, cơ quan quản lý cần xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa hải quan, thuế, quản lý thị trường và các tổ chức kiểm định để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường về nguồn gốc, chất lượng, giá trị giao dịch.
Cạnh đó là phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử đối với các sản phẩm có giá trị lớn. Mỗi viên kim cương hoặc sản phẩm đá quý nên được gắn với một mã định danh duy nhất, tích hợp toàn bộ thông tin về nguồn nhập khẩu, kiểm định, chế tác, lưu thông và giao dịch. Đây là xu hướng quản trị mà nhiều thị trường phát triển đang áp dụng nhằm tăng minh bạch, ngăn gian lận thương mại.
“Quan trọng là, cần xác lập rõ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong việc công bố thông tin, lưu trữ hồ sơ kiểm định và bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với tính xác thực của chứng thư, nguồn gốc hàng hóa, các cam kết chất lượng trong suốt vòng đời sản phẩm”, ông Nhân lưu ý.
Bà Hương cũng đề xuất, thời gian tới, cần xây dựng một khung pháp lý chuyên ngành thống nhất cho thị trường kim cương và đá quý.
Hiện nay, việc quản lý còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau. Việt Nam có thể nghiên cứu một nghị định hoặc thông tư chuyên ngành, tương tự cách Nhà nước đang quản lý thị trường vàng, để quy định thống nhất từ khâu kiểm định, truy xuất nguồn gốc, cho đến công bố thông tin, trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường.
Ngoài ra, cần thiết lập tính độc lập của hoạt động kiểm định. Có thể nghiên cứu yêu cầu tách bạch pháp nhân giữa đơn vị bán hàng và đơn vị kiểm định; với những giao dịch có giá trị lớn, khuyến khích hoặc quy định việc sử dụng chứng thư từ các tổ chức giám định quốc tế độc lập như GIA, IGI, HRD…
“Mục tiêu cuối cùng không phải là tăng thêm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, mà là bảo vệ người tiêu dùng, nâng cao tính minh bạch, chuyên nghiệp của thị trường”, bà Hương nói.
Chiều 19.5, tại Quảng Ngãi, Báo Xây dựng phối hợp UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức hội thảo "Nhà ở xã hội tại miền Trung - Tây nguyên: Thực trạng, cơ chế và giải pháp thúc đẩy".
Tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Hồng Nga, Tổng biên tập Báo Xây dựng, cho biết phát triển nhà ở xã hội là nhiệm vụ trọng tâm được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng đặc biệt quan tâm nhằm bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống cho người dân, công nhân và người thu nhập thấp. Theo bà Nga, đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội giai đoạn 2021 - 2030 đang được Bộ Xây dựng cùng các địa phương tăng tốc triển khai.
Thông tin tại hội thảo, ông Nguyễn Công Hoàng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, cho biết ngay trong sáng 19.5, tỉnh đã khởi động dự án nhà ở xã hội thuộc Khu thiết chế Công đoàn tại xã Thọ Phong với quy mô hơn 1.200 căn hộ.
Theo ông Hoàng, nhu cầu nhà ở dành cho công nhân, người lao động và người thu nhập thấp tại Quảng Ngãi ngày càng lớn. Vì vậy, tỉnh xác định phát triển nhà ở xã hội là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Báo cáo của Bộ Xây dựng cho thấy, tính đến ngày 10.4, cả nước đã khởi công thêm 40 dự án nhà ở xã hội với quy mô 36.590 căn, đạt khoảng 23% so với chỉ tiêu 158.723 căn trong năm 2026.
Đến nay, cả nước đã đầu tư xây dựng 786 dự án nhà ở xã hội với tổng quy mô 725.146 căn, tương đương 72,5% mục tiêu của đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội dành cho người thu nhập thấp và công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030.
Dù đạt nhiều kết quả, việc phát triển nhà ở xã hội vẫn gặp không ít khó khăn. Ông Nguyễn Phúc Nhân, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi, cho biết số lượng dự án và căn hộ hoàn thành trên địa bàn tỉnh vẫn chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và công nhân lao động.
Theo ông Nhân, một số dự án triển khai còn chậm, việc thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư chưa mạnh do hiệu quả tài chính thấp. Nhà ở xã hội là loại hình bị khống chế mức lợi nhuận, trong khi chi phí vật liệu xây dựng, nhân công, vốn vay và đầu tư hạ tầng ngày càng tăng khiến nhiều doanh nghiệp e ngại.
Ngoài ra, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi còn khó khăn, tạo áp lực tài chính cho cả chủ đầu tư lẫn người mua nhà. Trong khi đó, nhóm có nhu cầu lớn nhất lại chủ yếu là người thu nhập thấp và công nhân, khả năng tích lũy còn hạn chế.
Ông Nhân kiến nghị Trung ương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế ưu đãi về tín dụng, thuế, tiền sử dụng đất; hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào dự án để tăng sức hút đối với doanh nghiệp.
Tại hội thảo, ông Chử Văn Hải, Phó vụ trưởng, Phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản, cho biết hiện đã có 11 tỉnh miền Trung - Tây nguyên triển khai xây dựng nhà ở xã hội.
Trong đó, 9 địa phương gồm Đà Nẵng, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Gia Lai, Khánh Hòa, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Hà Tĩnh đã thực hiện vượt chỉ tiêu được giao.
Theo ông Hải, phát triển nhà ở xã hội không chỉ là chính sách an sinh mà còn góp phần ổn định thị trường bất động sản, tạo động lực cho nhiều ngành kinh tế như sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, vận tải, thiết kế nội thất và gia dụng.
Bên cạnh đó, việc đầu tư nhà ở xã hội còn tạo thêm việc làm, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP và ổn định kinh tế vĩ mô.
Báo cáo chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu 2026 (Global Startup Ecosystem Index 2026) do StartupBlink công bố cho thấy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam tiếp tục cải thiện mạnh mẽ cả về thứ hạng và tốc độ phát triển.
Cụ thể, Việt Nam tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 50 thế giới, mức cao nhất từ trước đến nay. Báo cáo đánh giá Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng nổi bật trong nhóm các quốc gia xếp hạng từ 21-50 toàn cầu.
StartupBlink nhận định nhóm quốc gia xếp hạng từ 21- 50 là khu vực năng động nhất của bảng xếp hạng toàn cầu, với tốc độ phát triển cao hơn đáng kể so với nhóm dẫn đầu. Trong đó, Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có mức tăng trưởng nổi bật của khu vực.
Ở cấp độ thành phố, Tp.Hồ Chí Minh lần đầu tiên lọt Top 100 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu, tăng 12 bậc và xếp hạng 98 thế giới. Thành phố hiện dẫn đầu Đông Nam Á về mức độ trưởng thành của hệ sinh thái khởi nghiệp; nổi bật ở các lĩnh vực Fintech và Blockchain, lần lượt xếp hạng 60 và 70 toàn cầu.
Báo cáo cho rằng Đông Nam Á đang nổi lên là khu vực có động lực phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngày càng mạnh mẽ.
Ngoài Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, báo cáo năm nay cũng ghi nhận Hải Phòng xuất hiện trong nhóm 1.000 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu, cho thấy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang dần mở rộng ra ngoài các trung tâm truyền thống.
Báo cáo cũng cho thấy Việt Nam hiện có nhiều tổ chức, địa phương tham gia mạng lưới đối tác hệ sinh thái của StartupBlink như Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp quốc gia (NSSC),SIHUB Tp.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng.
Kết quả trên diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy mạnh các chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.
Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, thời gian qua Bộ đã tham mưu hoàn thiện nhiều chính sách lớn nhằm thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, phát triển doanh nghiệp công nghệ và công nghệ chiến lược.
Trong đó, Quốc hội đã thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, lần đầu luật hóa khái niệm "công nghệ chiến lược" và "sản phẩm công nghệ chiến lược".
Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1131 công bố danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược và 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, tập trung vào AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, hạ tầng số và công nghệ số lõi.
Theo Kế hoạch hoạt động năm 2026 triển khai Nghị quyết 57, Việt Nam đặt mục tiêu tăng 30% số lượng startup, hình thành từ 30-50 doanh nghiệp spin-off từ viện nghiên cứu và trường đại học; đồng thời xây dựng ít nhất 3 trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại Hà Nội, Đà Nẵng và Tp.Hồ Chí Minh.
Toàn TP.HCM có 168 phường, xã, đặc khu. Với quyết định này, chủ tịch UBND 112 phường, xã chỉ ký chứng thực các giấy tờ, tài liệu không liên quan đến giao dịch tài sản. Trong khi đó, 56 phường, xã còn lại và đặc khu Côn Đảo vẫn sẽ thực hiện thủ tục chứng thực giấy tờ, văn bản thông thường và giấy tờ liên quan đến giao dịch tài sản tại UBND cấp xã.
Theo quy định tại Nghị định 23/2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 280/2025 của Chính phủ, các loại tài sản không còn chứng thực tại UBND 112 phường, xã gồm: chứng thực liên quan đến tài sản là động sản; chứng thực giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; chứng thực giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở; chứng thực di chúc; chứng thực văn bản từ chối nhận di sản; chứng thực văn bản phân chia di sản là các động sản, đất đai, nhà ở.
Mới đây Hội Công chứng viên TP.HCM cũng đã có công văn gửi đến các tổ chức hành nghề công chứng tại TP.HCM, các hội viên nghiên cứu, tổ chức thực hiện và lưu ý một số nội dung như:
Chủ tịch UBND cấp xã không có trong danh sách địa bàn cấp xã thực hiện chuyển giao theo Quyết định số 21/2026 vẫn giữ nguyên thẩm quyền chứng thực theo quy định.
Đồng thời công chứng viên tiếp nhận và công chứng giao dịch đúng trình tự thủ tục theo quy định của luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ông Nguyễn Văn Hoà, Chủ tịch Hội Công chứng viên TP.HCM cho biết, những giao dịch chuyển thẩm quyền từ Chủ tịch UBND cấp xã về phòng công chứng được chuyển giao cho tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn TP.HCM, không phải giao riêng cho tổ chức đặt tại địa phương. Khi công chứng viên tiếp nhận yêu cầu phải thực hiện công chứng giao dịch theo Luật công chứng.
Hiện trên địa bàn TP.HCM có tổng cộng 196 tổ chức hành nghề công chứng.