Hình thức gây tổn hại trong môi trường học đường, không nhất thiết là đánh nhau trực tiếp hay hành hung bằng thể chất (tay đôi) như kiểu “bạo lực truyền thống” đã chuyển sang “đám đông, hội nhóm”. Bạo lực không chỉ học sinh nam mà lan sang cả học sinh nữ.
Đặc điểm, bạo lực của nữ còn nặng nề, dai dẳng và trích sâu vào tinh thần đối phương. Nam học sinh liên quan nhiều hơn đến bạo lực thể chất: đánh nhau, đe dọa trực tiếp, gây thương tích.
Nữ sinh thường gặp hoặc sử dụng nhiều hơn các dạng bạo lực gián tiếp: cô lập, nói xấu, thao túng quan hệ bạn bè, đặc biệt là hình thức bắt nạt trên không gian mạng xã hội.
Các chuyên gia cho rằng, tâm lý học sinh muốn được công nhận “hơn người”, cách thể hiện bản thân trong nhóm bạn nên dễ tham gia cổ vũ hoặc trực tiếp lao vào đánh nhau.
Ngoài ra, đi theo đám đông khiến các em cảm thấy “an toàn” hơn, ít sợ hậu quả hơn so với hành hung một mình. Trong đó, việc chia phe trên mạng xã hội là gốc rễ, biến xung đột cá nhân thành xung đột tập thể.
Một thông tin có thể lan truyền đến hàng triệu người chỉ trong vài giờ hoặc vài phút. Điều này khiến mạng xã hội trở thành một trong những công cụ có sức ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử truyền thông của nhân loại.
Từ đó tạo ra mặt trái của của mạng xã hội hay công nghệ, đồng nghĩa bạo lực học đường phi truyền thống có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Cá nhân bình thường cũng có thể tạo ra nội dung có sức ảnh hưởng lớn mà trước đây chỉ các cơ quan truyền thông mới làm được. Thông thường mạng xã hội có ảnh hưởng bạo lực học đường phi truyền thống ở cả hai mặt, tích cực và tiêu cực.
Hiện nay, xu hướng bạo lực học đường tiêu cực được xã hội quan tâm nhiều hơn vì tốc độ lan truyền và mức độ ảnh hưởng hưởng tới tâm lý học sinh âm ỉ và rất lâu. Các chuyên gia đồng thuận về những biểu hiện bạo lực học đường phi truyền thông, như:
Khác với bạo lực học đường truyền thống, học sinh đa phần là tìm cách chế giễu, xúc phạm nhau qua bình luận hoặc tin nhắn thông qua các ứng dụng… Phát tán tranh ảnh, video nói xấu, xuyên tạc hay làm nhục đối phương. Dùng nhiều biện pháp khác nhau để cố tình cô lập trong nhóm chat hoặc nhóm bạn trong cộng đồng mạng.
Thực tế, dẫn đến nạn nhân bị ảnh hưởng tinh thần, stress, lo âu, trầm cảm hoặc có những hành vi cực đoan, tự hành hạ thể xác, cao nhất là tự sát. Từ đó, học sinh sợ tới trường, tự xa lánh bạn bè, mất tự tin và chất lượng học tập sa sút. Nói chung, mạng xã hội không trực tiếp tạo ra bạo lực học đường nhưng nó lại là sự khởi đầu, gián tiếp tạo ra bạo lực học đường phi truyền thống.
Chia sẻ và sưu tầm trên mạng ở trong nước và nước ngoài về các video bạo lực, đánh nhau, nội dung mang tính “giang hồ”, các thử thách mạo hiểm, phim hành động hay văn hóa mang tính công kích, chửi bới. Lúc đầu, chỉ có thể là tò mò, chia sẻ, muốn “nổi tiếng” bằng hành vi bạo lực, sau đó vô tình làm bạo lực trở thành “nội dung giải trí”.
Coi bạo lực là cách thể hiện bản thân, rồi tập làm theo, bắt chước hành vi tiêu cực. Qua năm tháng, học sinh sẽ thay đổi cá tính, dễ phản ứng, nóng nảy khi gặp phải những tình huống thật ngoài đời.
Mạng xã hội khơi mào cho bạo lực học đường phi truyền thống, khiến nhiều học sinh có tâm lý hay so sánh bản thân với người khác, luôn luôn muốn được nổi tiếng hoặc được bạn bè và mọi người chú ý. Các hành động chế giễu, cô lập, lan tin đồn, tẩy chay, đe dọa, xúc phạm về ngoại hình, về thành tích học tập hay rèn luyện và về giới tính… xảy ra ở trường, ngoài nhà trường và rộng hơn trong xã hội.
Bạo lực trên không gian mạng có thể diễn ra 24/7 qua internet. Bạo lực mang tính tập thể, tổ chức ghi hình và tung lên mạng xã hội để dằn mặt đối phương và phát tán clip trong phạm vi rộng hơn, vượt khỏi môi trường học đường, nhưng vẫn kín đáo, nên nhà trường rất khó phát hiện.
Ngày 23.3 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026 – 2030”. Đây có thể coi là biện pháp mạnh, với 5 trụ cột để bảo vệ trẻ em, đồng thời thúc đẩy trẻ em phát triển lành mạnh, tích cực, nâng cao năng lực số trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.
Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Công an là cơ quan chủ trì, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá kết quả và đôn đốc thực hiện chương trình, đảm bảo thống nhất và hiệu quả thực chất. Điều này khẳng định bản chất, tính nhiều mặt của bạo lực học đường phi truyền thống.
Dù thế nào, tôi vẫn muốn nhấn mạnh tới vai trò đặc biệt của gia đình trong việc đồng hành cùng trẻ em, để chống lại bạo lực trong môi trường xã hội và môi trường số hóa phi truyền thống.
Một mô hình ngăn ngừa bạo lực, được sinh ra từ mặt trái của công nghệ hay một giải pháp khả thi bất kỳ nào, đều không thể thay thế bằng sự quan tâm của cha mẹ và không một “lá chắn” nào vững chắc hơn, bằng sự đồng hành sâu sắc của gia đình đối với trẻ em.
Hội đồng Giảng viên, Hội đồng Sinh viên đại học và học viên cao học của Đại học Stanford tuần qua bỏ phiếu thông qua quy định cử giám thị coi thi tại tất cả lớp học, bắt đầu áp dụng từ kỳ thu tới.
Điều này đồng nghĩa Bộ quy tắc Danh dự do sinh viên soạn thảo năm 1921, cho phép họ tự chịu trách nhiệm và giám sát lẫn nhau trong các kỳ thi, sẽ bị phá bỏ.
Giáo sư Toán Brian Conrad, thành viên Nhóm công tác về Liêm chính học thuật (AIWG), nhận định cơ chế hoạt động của Bộ quy tắc này đã tê liệt từ lâu. Các báo cáo gần đây cho thấy tỷ lệ gian lận ở mức rất cao. Năm học 2020-2021, trường ghi nhận 393 trường hợp vi phạm, nhưng không ca nào do sinh viên tự giác báo cáo. Con số này tăng mạnh so với con số 136 của hai năm học trước.
Bà Jennifer Schwartz Poehlmann, đồng trưởng nhóm AIWG, cho hay liên tục thấy học trò tìm đến mình trong trạng thái vô cùng bức xúc vì thấy bạn khác gian lận. Nhưng các em thường không biết tên người đó do lớp quá đông hoặc e ngại khi phải làm chứng, khiến các giáo sư không thể can thiệp.
Với quy định mới, các giáo sư kỳ vọng thiết lập lại văn hóa học thuật, giải quyết triệt để vấn đề gian lận. Hành động này của Stanford tiếp nối Đại học Princeton - nơi đã bỏ phiếu để đưa giám thị trở lại phòng thi với những lý do tương tự, cách đây chừng 10 ngày.
Theo giáo sư Conrad, sự trỗi dậy của các chatbot như ChatGPT sẽ khiến cuộc chiến chống gian lận học thuật những năm tới trở nên phức tạp hơn. Ông bày tỏ tiếc nuối khi các đại học hiện phải phụ thuộc nhiều vào các bài kiểm tra trực tiếp, thay vì tính điểm dựa trên bài tập về nhà như trước.
Dù vậy, nhiều giảng viên Stanford rất hào hứng với quy chế mới. Giáo sư Conrad cho biết hội đồng trường rất nóng lòng chờ đến mùa thu tới, thậm chí nhiều người muốn áp dụng việc có giám thị ngay từ thời điểm này.
Ra đời năm 1885, Đại học Stanford nay luôn nằm trong top 5 đại học tốt nhất Mỹ. Trường có khoảng 7.900 sinh viên đại học, với tỷ lệ chấp thuận chỉ khoảng 4%, theo US News.
Bộ GD-ĐT mới ban hành Thông tư quy định mã số, bổ nhiệm chức danh và xếp lương đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo thông tư, hệ thống mã số chức danh nhà giáo được quy định theo từng cấp học và trình độ đào tạo, gồm: giáo viên mầm non, tiểu học, trung học phổ thông, giáo viên dự bị đại học, giáo viên giáo dục nghề nghiệp các cấp, giảng viên cao đẳng và giảng viên đại học. Mỗi chức danh được phân thành ba hạng (hạng I, II, III) kèm mã số cụ thể.
Theo đó, giáo viên mầm non được xếp theo ba hạng, từ thấp đến cao lần lượt là III, II và I, tương ứng với nhóm viên chức A0, A1 và A2.2. Hệ số lương của giáo viên bậc này từ 2,1 - 6,38.
Giáo viên phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) cũng có ba hạng tương tự, nhưng ứng với nhóm A1, A2.2 và A2.1, hệ số lương từ 2,23 - 6,78.
Như vậy, chức danh giáo viên vẫn phân thành 3 hạng như lâu nay thay vì bỏ chia hạng như dự thảo được công bố trước đó.
Cụ thể, dự thảo công bố tháng 9.2025, thay vì chức danh nghề nghiệp giáo viên của từng bậc học theo hạng bằng các chức danh nghề nghiệp tương ứng với mức lương từ thấp đến cao như: giáo viên, giáo viên chính, giáo viên cao cấp..., áp dụng cho giáo viên bậc học tiểu học, THCS, THPT và giảng viên CĐ, ĐH...
Khi đó, Bộ GD-ĐT lý giải thay đổi nhằm tương ứng với luật Nhà giáo mới ban hành. Một trong những điểm mới quan trọng của luật này là từ 1.1.2026 sẽ chính thức không còn chia hạng I, II, III như hiện nay, chức danh nhà giáo được xác định theo yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp trong từng cấp học, trình độ đào tạo.
Dự thảo cũng đề xuất tăng hệ số lương với giáo viên cao cấp (tương đương hạng I), từ 5,75 - 7,55 (nhóm A3.2), tăng so với mức 4,4 - 6,78 hiện tại. Tuy nhiên, theo thông tư vừa ban hành, hệ số lương của nhóm giáo viên hạng I cũng không tăng như đề xuất.
Thông tư cũng nêu các nguyên tắc bổ nhiệm và xếp lương đối với nhà giáo giảng dạy trong cơ sở giáo dục công lập.
Cụ thể, phải căn cứ vào vị trí việc làm, chức trách, nhiệm vụ, năng lực và chuyên môn nghiệp vụ đang đảm nhận của nhà giáo và theo quy định của pháp luật.
Không được kết hợp nâng bậc lương hoặc thay đổi chức danh nhà giáo, trừ trường hợp nhà giáo có sự thăng tiến nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của chức danh nhà giáo cao hơn và có nguyện vọng thay đổi chức danh nhà giáo hiện giữ; nhà giáo có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, giáo dục và có nhiều thành tích trong hoạt động nghề nghiệp hoặc trường hợp nhà giáo được công nhận, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư theo quy định của luật chuyên ngành.
Không căn cứ trình độ được đào tạo để bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp cao hơn chức danh nghề nghiệp đã trúng tuyển đối với nhà giáo mới được tuyển dụng.
Trường hợp có chênh lệch giữa hệ số lương hiện giữ và hệ số lương của chức danh nhà giáo thì được bảo lưu hệ số chênh lệch theo quy định của pháp luật về tiền lương.
Việc xếp lương khi bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 02/2007/TT-BNV ngày 25.5.2007 của Bộ Nội vụ. Khi thực hiện chính sách tiền lương mới, việc chuyển xếp sang lương mới thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Bộ GD-ĐT cũng có quy định chuyển tiếp với giáo viên chưa đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng quy định tại chuẩn nghề nghiệp thì được tiếp tục giữ chức danh, mã số và hệ số lương của chức danh nghề nghiệp hiện hưởng. Khi đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên theo quy định của Bộ GD-ĐT thì được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp giáo viên tương ứng quy định tại thông tư này.
Nhiều thí sinh phấn khởi, rôm rả bàn luận về đề khi rời phòng thi ở trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM, trưa 24/5.
Minh Khánh, THPT An Dương Vương, cho biết đề dài 16 trang với cấu trúc và độ dài tương tự đề minh họa. Theo Khánh, nội dung về Tiếng Việt vẫn có một số câu hỏi về luật thơ, quy tắc gieo vần, tương đối khó vì em ít ôn luyện nhưng nhìn chung nhẹ nhàng hơn đề đợt 1. Phần Tư duy khoa học có nhiều câu "cho điểm" ở nội dung về Lý, Hóa, Sinh, theo nữ sinh.
"Độ khó các câu Tiếng Anh nhỉnh hơn một chút nhưng vẫn ổn, chỉ có phần Toán là khó hơn nhiều, các câu hỏi tham số vừa khó, vừa nhiều", Khánh nói.
Tổng quan đề dễ hơn và đã có kinh nghiệm làm bài nên Khánh dư 15 phút, trong khi ở đợt 1 trước đó phải làm đến phút cuối. Tự đánh giá điểm đợt 1 (957/1200) đã chạm ngưỡng học lực, Khánh dự đoán kết quả lần khó tăng mạnh, hy vọng nhích thêm 30-40 điểm để xét vào ngành Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế - Luật.
Tương tự, Thành Danh, THPT Bình Chiểu và Thanh Xuân, THPT Tam Phú, cũng nhận thấy đề nhẹ nhàng hơn đợt 1, trừ phần Toán. Danh phân tích các câu hỏi Tiếng Việt vẫn tương đối dài nhưng dễ hiểu, không có nội dung lạ. Trong khi phần Tư duy khoa học yêu cầu tính toán ở mức cơ bản, dễ suy luận. Danh hy vọng lấy 800 điểm để xét tuyển vào ngành Công nghệ vi mạch của trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM.
Còn Thanh Xuân thì tiếc nuối vì phân bố thời gian không hợp lý, không kịp làm phần Toán. Em khoanh lụi hầu hết các câu trong phần này nên dự kiến điểm giảm so với lần trước.
Trong khi đó, Hà Phương, THPT Thủ Đức, kỳ vọng điểm số sẽ bứt từ hơn 600 của đợt trước lên 800. Có thế mạnh các môn tự nhiên nên em giải quyết phần Toán và Tư duy khoa học nhanh chóng. Ngược lại, Tiếng Việt vẫn là thử thách lớn nhất với Phương.
"Nếu đề đợt 1 khó 10 thì lần này ở khoảng 8,5, em cảm giác chắc chắn, tự tin hơn, ít khoanh bừa", Hà Phương nói. "Có thể phổ điểm chung đợt 2 sẽ tăng".
Đại học Quốc gia TP HCM cho biết đề thi VACT gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn với phần Tư duy khoa học (30 câu), Toán (30 câu), Sử dụng ngôn ngữ (60 câu Tiếng Việt và Tiếng Anh). Thí sinh làm bài trên giấy trong 150 phút. Điểm của từng câu có trọng số khác nhau, tùy thuộc vào độ khó, tổng điểm là 1.200.
Kỳ thi đánh giá năng lực đợt 2 đánh dấu kỷ lục về số lượng thí sinh với hơn 170.000 em - đông nhất nước. Kết quả sẽ được công bố ngày 6/6. Hiện, 118 trường đại học, cao đẳng sử dụng điểm thi này để xét tuyển đầu vào.
Đợt 1 hồi tháng 4 thu hút gần 133.500 thí sinh, điểm thi trung bình là 682/1200. Bài làm thấp nhất đạt 27 điểm, cao nhất đạt 1098.